Sarlande là một thành phố nhỏ vùng Cévennes, được xây dựng ở tận cùng một cái thung hẹp mà núi bó chặt khắp nơi như một bức tường lớn. Khi trời nắng, đó là một cái lò, khi gió bấc thổi thì là một hang nước đá...
Buổi tối khi chúng tôi vào thành phố, gió bấc thổi dữ từ buổi sáng, mặc dù đang là mùa xuân. Cậu bé Chose ngồi vắt vẻo trên nóc chiếc xe trạm, khi vào thành phố, cảm thấy cái lạnh thấu đến tận tim mình. Phố xá màu đen và hoang vắng... Trên quảng trường chiến trận, một vài người chờ xe, dạo bước dọc ngang trước cái văn phòng mờ tỏ.
Vừa xuống khỏi tầng trên xe, tôi hỏi đường tới trường trung học, chẳng chậm một phút. Tôi muốn nhận nhiệm vụ ngay.
Trường trung học không xa quảng trường; sau khi bảo tôi băng qua hai - ba cái phố rộng im ắng, người đàn ông đem chiếc hòm của tôi dừng lại trước một ngôi nhà lớn, nơi dường như tất cả đều chết từ hàng năm nay.
- Đây rồi... - ông vừa nói vừa nhấc cái búa cửa to.
Cái búa nặng nề, nặng nề rơi trở lại... Cánh cửa tự mở ra...
Chúng tôi bước vào.
Tôi chờ một lúc dưới cái cổng, trong bóng tối. Người đàn ông đặt cái hòm của tôi xuống đất, tôi trả tiền ông, rồi ông bỏ đi thật nhanh... Đằng sau ông, cánh cửa to lớn nặng nề, nặng nề đóng lại... Chẳng lâu sau, một người giữ cửa ngái ngủ, tay cầm một chiếc đèn lồng to, tiến lại phía tôi.
- Chắc cậu là một người mới đến? - Ông nói với tôi bằng một vẻ uể oải. Ông cho tôi là một học trò...
- Tôi chẳng phải là học sinh gì cả, tôi đến đây làm Quản phòng học; ông dẫn tôi đến cho ông Hiệu trưởng đi...
Ông giữ cổng tỏ ra sửng sốt; ông nhấc một chút chiếc mũ lưỡi trai và dẫn tôi vào cái chòi của ông. Ông Hiệu trưởng ở Nhà thờ với bọn trẻ con mất một khắc đồng hồ. Người ta sẽ dẫn tôi đến chỗ ông khi nào kinh buổi lối vừa xong.
Trong cái chòi, người ta đã ăn tối xong. Một anh chàng điển trai to lớn có ria vàng hoe đang thưởng thức một ly rượu mạnh bên một người đàn bà nhỏ bé gày gò, đau yếu, vàng như nghệ([1]) và xùm xụp đến tận tai trong một chiếc khăn quàng bạc màu.
- Cái gì thế, ông Cassagne? - Người đàn ông có ria hỏi.
- Đó là người Quản phòng học mới... - Ông canh cổng vừa trả lời vừa chỉ vào tôi. - Ông ấy nhỏ quá đến nỗi lúc đầu tôi cho là một học sinh.
- Có điều là - ông có ria vừa nói, vừa nhìn tôi bên trên cái cốc - ở đây chúng tôi có những học sinh lớn hơn và ngay cả hơn tuổi ông ấy nhiều... Veinon lớn chẳng hạn.
- Còn Crouzat? - Ông canh cổng nói thêm.
- Và Soubeyrol nữa... - Người đàn bà nói.
Đến đó, họ bắt đầu nói thầm với nhau. Mũi chúi vào ly rượu mạnh xấu xa mà xét nét tôi bằng khoé mắt... Bên ngoài, người ta nghe thấy gió bấc rống lên và những tiếng chối tai học sinh đọc kinh cầu ở nhà nguyện.
Bỗng, một tiếng chuông vang lên; tiếng chân bước ầm ầm ở phòng ngoài.
- Lễ cầu xong rồi - ông Cassagne vừa nói với tôi vừa đứng dậy - Ta lên chỗ ông Hiệu trưởng đi.
Ông cầm chiếc đèn và tôi đi theo ông.
Ngôi trường có vẻ mênh mông... Những hành lang vô tận, những cái cổng lớn; những cầu thang rộng có tay vịn bằng sắt trau chuốt... tất cả những thứ đó cũ kỹ, đen đủi ám khói...
Ông canh cổng cho tôi biết là trước 89 ([2]), ngôi nhà là một cái trường hải quân và nó có đến tám trăm học sinh, tất cả đều thuộc lớp đại quý tộc. Khi ông cho tôi hay những điều quý báu đó xong thì chúng tôi cũng đến trước Phòng ông Hiệu trưởng...Ông Cassagne nhẹ đẩy một cái cánh cửa nhồi kép và đập hai lần vào gỗ lát tường.
Một tiếng nói trả lời:
- Mời vào!
Chúng tôi vào. Đó là một phòng làm việc rất rộng, phủ thảm màu lục. Tít tận trong cùng, trước một cái bàn dài, ông Hiệu trưởng đang viết dưới ánh sáng nhợt của một ngọn đèn mà cái chao để xụp hẳn xuống.
- Thưa ông Hiệu trưởng - Người canh cổóng vừa nói vừa đẩy tôi lên trước - Đây là thày giáo mới đến thay thế ông Serrieres.
- Tốt lắm. - Ông Hiệu trưởng nói mà không bận lòng.
Người canh cổng cúi mình và đi ra. Tôi cứ đứng giữa phòng mà vặn vẹo cái mũ trong những ngón tay.
Khi ông viết xong, ông Hiệu trưởng quay về phía tôi, nên tôi có thể xem xét thoả thích gương mặt nhỏ mai mái và cằn khô, được chiếu sáng bởi đôi mắt lạnh, không thần sắc. Về phần ông thì ông nhấc cái chao đèn ra và gài một cái kính kẹp lên mũi để nhìn tôi rõ hơn.
- Mà đó là một đứa trẻ! - Ông vừa kêu vừa chồm lên trên chiếc ghế bành - Người ta muốn tôi làm gì với một đứa trẻ đây!
Bỗng, chú bé Chose sợ khủng khiếp; cậu thấy như mình đã ở ngoài phố, không chỗ nương thân... Cậu chỉ đủ sức lắp bắp vài ba lời và trao cho ông Hiệu trưởng lá thư giới thiệu mà cậu có.
Ông Hiệu trưởng cầm lá thư đọc đi đọc lại, giở ra gấp vào, lại đọc nữa, rồi cuối cùng ông bảo tôi là, nhờ sự giới thiệu rất đặc biệt của ông Trưởng khu giáo dục và tiếng tăm tốt của gia đình tôi, ông bằng lòng nhận tôi vào chỗ ông, mặc dù tôi quá trẻ khiến ông sợ. Sau đó, ông bắt đầu dài dòng về tính nghiêm trọng những nhiệm vụ mới của tôi; nhưng tôi không nghe ông nữa. Đối với tôi, điều chính là người ta không gửi trả tôi về...
Người ta không gửi trả tôi; tôi sung sướng, sung sướng điên cuồng. Tôi những muốn ông Hiệu trưởng có ngàn tay để mà hôn chúng tất cả.
Một tiếng sắt va khủng khiếp hãm tôi lại trong những nỗi dạt dào. Tôi quay lại mạnh mẽ và thấy trước mặt mình một con người râu dài, má màu đỏ, vừa vào trong văn phòng mà người ta không nghe thấy: Đó là ông Tổng giám thị.
Đầu ông ngoẹo lên vai, kiểu Chúa đội vòng gai ([3]), ông vừa nhìn tôi với nụ cười dịu dàng nhất, vừa lắc một chùm chìa khoá đủ mọi cỡ, treo vào ngón trỏ của ông. Nụ cười đã báo trước cho tôi biết là có lợi cho mình, nhưng những chiếc chìa khoá vẫn rít lên với một tiếng động khủng khiếp…lanh canh…lanh canh!
…lanh canh? - Khiến tôi sợ hãi.
- Ông Viot ạ - ông Hiệu trưởng nói - Đây là người thay thế ông Serrières đến với chúng ta.
Ông Viot nghiêng mình và mỉm nụ cười dịu hiền nhất với tôi trên đời. Ngược lại những chiếc chìa khoá rung lên với một vẻ châm biếm và dữ tợn như để nói: “Con người nhỏ bé kia lại thay thế ông Serrières ư? Ra thế! Thì ra thế!”.
Ông Hiệu trưởng cũng hiểu rõ như tôi, điều mà chùm chìa khoá vừa nói lên, nên ông nói thêm bằng một tiếng thở dài:
- Tôi biết khi mất ông Serrières, chúng ta chịu một thiệt thòi hầu như không sửa lại được (đến đây, chùm chìa khoá thốt lên một tiếng thổn thức thực sự...); nhưng, tôi tin chắc là ông Viot, tôi rất muốn nhận thày giáo mới dưới sự đỡ đầu đặc biệt của mình và ghi nhớ cho ông ấy những ý kiến quý báu của mình về nền giáo dục thì, trật tự và kỷ luật của ngôi nhà sẽ chẳng có gì phải quá thiệt vì chuyện ông Serrières ra đi cả.
Luôn mỉm cười và hiền hậu, ông Viot trả lời là ông sẽ dành cho tôi sự ân cần và ông sẵn lòng giúp tôi những lời khuyên nhủ; nhưng, chùm chìa khoá thì chúng chẳng ân cần gì với tôi cả. Phải nghe chúng lắc và kêu lách cách loạn lên: “Nhãi ranh, nếu mày động đậy thì coi chừng đấy”.
- Ông Eyssette-ạ - ông Hiệu trưởng kết luận - ông có thể lui được. Còn tối nay thì ông phải ngủ ở khách sạn thôi... Ngày mai, tám giờ, ông có mặt ở đây... Đi nhé...
Và ông bảo tôi lui bằng một cử chỉ đĩnh đạc.
Ông Viot, tươi cười và hiền hậu hơn bao giờ hết, tiễn tôi đến tận cổng; nhưng, trước khi rời tôi ra, ông lách vào tay tôi một quyển vở nhỏ, đồng thời nhắc nhở:
- Đó là quy chế của ngôi nhà, ông hãy đọc và suy nghĩ...
Ông mở cửa, rồi đóng lại sau lưng tôi, vừa lắc chùm chìa khoá. Những tiếng kêu…Lanh canh! Lanh canh! Lanh canh!
Nhưng ông này đã quên rọi sáng cho tôi... Tôi lăng quăng một lúc giữa những hành lang lớn tối om, lần những bức tường để thử tìm đường. Từng quãng, một chút ánh trăng lọt vào qua song, một cửa sổ cao giúp tôi định hướng. Thình lình, trong cảnh tăm tối của nhà cầu, một đốm sáng bừng lên đến đón tôi. Tôi còn bước thêm vài bước; ánh sáng lớn lên tiến lại gần tôi, đi qua sát tôi, xa dần, biến mất. Cứ như một ảo ảnh vậy dù khá nhanh chăng nữa, tôi vẫn có thể nắm được mọi chi tiết.
Bạn cứ hình dung hai người đàn bà, không, hai cái bóng...Một già, nhăn nheo, quắt lại, gù gập người, mang kính to che hết cả mặt; người kia trẻ, thon thả, hơi ẻo lả như mọi con ma, nhưng có một cặp mắt đen - điều mà những con ma nói chung không có, rất to và khá đen, khá đen... Bà già, tay cầm một chiếc đèn nhỏ bằng đồng; những con mắt đen, chúng chẳng mang gì cả... Hai cái bóng qua gần tôi, nhanh nhẹn, lặng im, chẳng nhìn thấy tôi và từ lâu, chúng đã biến mất mà tôi còn đứng nguyên chỗ, trong một cảm nghĩ vừa khoái trá vừa sợ sệt.
Tôi lại lần mò đường một mình, nhưng tim tôi đập thật mạnh và tôi luôn có trước mắt trong bóng tối, bà tiên khủng khiếp, đeo kính đi bên cạnh đôi mắt đen...Thế mà cần phải tìm ra một chỗ trú qua đêm; đó không phải là một chuyện xoàng. May mà ông có ria mép tôi thấy hút tẩu trước cái chòi của người canh cửa lập tức tự nguyện giúp tôi và đề nghị được dẫn tôi đến một khách sạn nhỏ chẳng quá đắt, nơi tôi sẽ được phục vụ như một ông hoàng. Bạn thử nghĩ tôi đã vui lòng chấp nhận ra sao.
Người đàn ông có ria đó có vẻ là người rất hiền hậu; khi đi đường tôi được biết ông lên là Roger, ông là thày dạy nhảy, cưỡi ngựa, đấu kiếm và thể dục ở trường trung học Sarlande và ông đã phục vụ lâu trong binh lính châu Phi. Điều đó đủ để khiến cho tôi có cảm tình với ông. Trẻ con thường thiên về yêu những người lính. Chúng tôi chia tay nhau ở cửa khách sạn với nhiều cái bắt tay và lời hứa chính thức trở nên một đôi bạn.
Và giờ đây, bạn đọc ạ, còn một điều tôi phải thú thực với bạn.
Khi chú Nhóc có một mình trong căn phòng lạnh lẽo ấy, trước cái giường quán trọ xa lạ và tầm thường ấy, xa những ai cậu yêu, lòng cậu tan nát và nhà triết học lớn ấy khóc như một đứa trẻ vậy. Giờ đây, cuộc đời khiến cậu sợ; cậu cảm thấy yếu ớt và bị tước mất vũ khí nên cậu khóc, cậu khóc... Bỗng chốc, giữa những giọt nước mắt, hình ảnh những người thân diễu qua trước mắt cậu; cậu thấy ngôi nhà bỏ hoang, gia đình ly tán, mẹ ở đây cha ở kia... Chẳng còn mái nhà? Chẳng còn tổ ấm. Và thế là quên cảnh khốn quẫn riêng để chỉ nghĩ đến nỗi nghèo khổ chung, chú Nhóc chọn một quyết định lớn và đẹp: Quyết định khôi phục lại gia đình Eyssette và xây dựng lại tổ ấm chỉ cho riêng mình thôi. Rồi, hãnh diện vì đã tìm thấy mục đích cao thượng cuộc đời mình, cậu lau những giọt nước mắt không xứng với một người đàn ông, một kẻ dựng lại tổ ấm và không mất một phút, bắt đầu đọc quy chế của ông Viot để nắm vững những nhiệm vụ mới.
Quy chế đó, được chép lại một cách nhiệt tình bằng chính bàn tay ông Viot, tác giả của nó, là một luận đề thực sự, được chia có phương pháp làm ba phần:
Một: Nhiệm vụ của Quản phòng học đối với cấp trên;
Hai: Nhiệm vụ của Quản phòng học đối với đồng nghiệp;
Ba: Nhiệm vụ của Quản phòng học đối với học sinh.
Mọi trường hợp đều được dự kiến ở đây, từ ô kính cửa bị vỡ đến hai bàn tay cùng giơ lên một lúc trong phòng học; tất cả những chi tiết của cuộc đời thày giáo đều được ghi lại ở đó, từ con số về lương của họ đến nửa chai rượu mà họ được quyền hưởng mỗi bữa ăn.
Quy chế chấm dứt bằng một bài nói hay, một diễn văn về ích lợi của chính quy chế; nhưng, mặc dù lòng tôn trọng của cậu đối với tác phẩm của ông Viot, chú Nhóc cũng không đủ sức đi đến cùng và - đúng vào đoạn hay nhất của bài văn thì cậu ngủ mất...
Đêm ấy, cậu ngủ kém. Cả ngàn giấc mơ quái lạ quấy rối giấc ngủ của cậu... Khi thì đó là những chiếc chìa khoá đáng sợ của ông Viot mà cậu tưởng như nghe thấy, lanh canh! Lanh canh! Lanh canh! Hoặc giả bà tiên đeo kính vừa đến ngồi vào đầu giường, đánh thức cậu dậy; lần khác, cũng những con mắt đen - ôi! Chúng thật là đen! - Cứ ở chân giường cậu mà nhìn cậu trân trân lạ lùng...
Ngày hôm sau, lúc tám giờ, tôi đến trường học. Ông Viot đứng ở cửa, chùm chìa khoá cầm tay, đang theo dõi học sinh ngoại trú đi vào. Ông tiếp đón tôi bằng nụ cười hiền dịu nhất của mình.
- Ông đợi dưới cổng nhé? - Ông nói với tôi - Khi học sinh vào rồi, tôi sẽ giới thiệu ông với các đồng nghiệp.
Tôi đợi dưới cổng, đi dạo ngang dọc, chào sát đất những ông thày đang hết hơi rảo bước. Một trong những ông đó đáp lại cái chào của tôi, đó là một linh mục, giáo sư triết học.
- Một người kỳ quặc... - ông Viot bảo tôi.
Lập tức, tôi thích ông, con người kỳ quặc ấy.
Chuông rung. Các lớp đầy người... Bốn hoặc năm cậu con trai lớn từ hăm lăm đến ba mươi tuổi, ăn mặc xoàng xĩnh, vẻ mặt tầm thường, vừa đến vừa nhảy nhót và sững sờ dừng lại khi thấy ông Viot.
- Này các ông - ông tổng giám thị vừa bảo họ vừa chỉ vào tôi - đây là ông Daniel Eyssette, đồng nghiệp mới của các ông.
Nói xong, ông cúi chào rồi rút lui, luôn tươi cười, cái đầu luôn ngất ngưởng và luôn vung vẩy chùm chìa khoá khủng khiếp.
Những đồng nghiệp của tôi và tôi nhìn nhau im lặng một lúc.
Người lớn nhất và to nhất trong bọn họ lên tiếng đầu tiên; đó là ông Serrières, cái ông Serrières nổi tiếng mà tôi vừa thay thế.
- Tất nhiên! - ông kêu lên bằng một giọng vui vẻ, đúng là trường hợp để nói là thày giáo kế tục nhau, nhưng không giống nhau.
Đó là một điều ám chỉ đến sự khác nhau lạ lùng về tầm vóc giữa chúng tôi. Người ta cười nhiều, nhiều lắm, trước hết là tôi; nhưng tôi cam đoan với bạn là vào lúc đó, chú Nhóc sẽ sẵn lòng bán hồn mình cho quỷ để chỉ cao thêm được vài tấc.
- Điều đó không hề gì - ông Serrières to lớn vừa nói thêm vừa chìa tay cho tôi - dù cho người ta không được cấu tạo để cùng đứng đo chiều cao, người ta vẫn có thể cạn với nhau vài bình. Hãy lại đây với chúng tôi, bạn đồng nghiệp... Tôi sẽ trả tiền một chén rượu punch ([4]) tiễn biệt ở quán cafê Barbette; tôi muốn là ông có mặt ở đó... ta sẽ làm quen trong khi chạm cốc.
Không để cho tôi có thời gian trả lời, ông kẹp cánh tay tôi dưới cánh tay ông và kéo tôi ra ngoài.
Quán Barbette, nơi những đồng nghiệp mới dẫn tôi tới nằm trên quảng trường chiến trận. Những hạ sĩ quan đồn trú hay đến đó và điều gây ấn tượng khi vào trong quán là số lượng mũ sacô([5]) và đai lưng treo trên mắc...
Hôm ấy, chuyến ra đi của Serrières và chén rượu tiễn biệt của ông đã lôi kéo cả bọn khách quen... Những viên hạ sĩ mà Serrières giới thiệu với tôi khi đến, đón tiếp tôi rất thân tình.
Dù sao, thực ra mà nói việc chú Nhóc tới không gây xúc động lớn và tôi bị quên đi rất nhanh, trong một góc phòng mà tôi rụt rè lánh mình... Trong khi những cái cốc được rót đầy thì Serrières to lớn đến ngồi bên cạnh tôi; ông đã rời bỏ chiếc áo lễ và lấy răng cắn chiếc tẩu dài bằng đất trên đó tên ông được viết bằng chữ sành. Tất cả những người Quản phòng học có ở quán Barbette một cái tẩu như vậy.
- Này! Đồng nghiệp - Serrières to lớn bảo tôi - ông sẽ thấy là còn có những lúc dễ chịu trong nghề nghiệp... Tóm lại, ông thật đúng lúc khi đến Sarlande để khởi nghiệp. Trước hết, rượu ngải đắng của quán Barbette là tuyệt vời và rồi, ở kia, trong cái khám, ông sẽ không quá tồi đâu.
Cái khám, đó là trường Trung học.
- Ông sẽ có việc học của bọn trẻ, bọn ranh con mà người ta điều khiển bằng roi. Phải thấy tôi đã uốn nắn chúng ra sao! Ông Hiệu trưởng không dữ; các đồng nghiệp là những chàng trai tốt; chỉ có bà già và lão Viot...
- Bà già nào? - Tôi vừa hỏi vừa nhủn người.
- Ồ? ông sẽ biết ngay thôi. Vào mọi lúc ban ngày và ban đêm, người ta gặp bà lượn lờ quanh trường với cặp kính to... Đó là một bà dì của ông Hiệu trưởng và ở đây, bà làm nhiệm vụ quản chi. Ôi! Đồ đĩ bợm! Nếu chúng ta chưa hết đói, đó không phải là lỗi mụ.
Theo nhận dạng mà Serrières cho tôi, tôi đã nhận ra là bà tiên đeo kính và bất đắc dĩ, tôi cảm thấy đỏ mặt. Nhiều lần, tôi sắp ngắt lời bạn đồng nghiệp của tôi và hỏi ông: “Thế còn đôi mắt đen?” Nhưng, tôi không dám. Nói đến đôi mắt đen ở quán Barbette ư!...
Trong khi chờ đợi, rượu punch truyền nhau, những cái cốc vơi lại đầy, cốc đầy lại vơi; đó là những cái chạm cốc, những tiếng ô, ô, những tiếng a! a! Những cái gậy bi-a giơ lên, những cái thúc, những tiếng cười lớn, trò chơi chữ, lời tâm sự...Dần dà chú bé Chose cảm thấy đỡ rụt rè. Cậu rời góc tường của mình và dạo quanh quán, nói to tay cầm cốc.
Vào lúc ấy, các hạ sĩ quan là bạn cậu; cậu trâng tráo kể cho một người trong số họ là mình thuộc về một gia đình giàu lắm và do một vài trò rồ dại của chàng trai, người ta đã đuổi cậu khỏi ngôi nhà của cha mẹ; cậu làm nghề quản lớp học để sống, nhưng cậu không nghĩ đến việc ở trường lại trường lâu...
Bạn hiểu chứ, với một gia đình cực kỳ giàu có!...
Ôi! Nếu bất cứ ai ở Lyon có thể nghe thấy vào lúc này, cái điều ấy. Dù sao, về chúng tôi là như thế đó! Khi ở quán Barbette, người ta biết tôi là con một gia đình thoát mọi ràng buộc, một kẻ phóng đãng, một tên vô lại xấu xa, chứ không phải như người ta có thể tin, một anh chàng khốn khổ bị cảnh nghèo khó bị buộc vào ngành sư phạm, có vậy mọi người mới nhìn tôi bằng một con mắt tốt hơn. Những viên hạ sĩ quan kỳ cựu nhất chẳng phải không thèm ngỏ lời với tôi; người ta còn đi khá xa: Vào lúc ra đi, Roger, thày giáo quân sự, bạn tôi ngày hôm trước, đứng dậy và nâng cốc chúc Daniel Eyssette. Bạn thử nghĩ xem chú Nhóc có tự hào không.
Việc nâng cốc chúc Daniel Eysselte báo hiệu việc ra đi. Lúc đó là mười giờ kém một khắc, nghĩa là giờ quay về trường.
Ông mang chìa khoá chờ chúng tôi ở cửa.
- Ông Serrières - ông ta nói với người đồng nghiệp to lớn của tôi mà rượu punch tiễn biệt làm cho vấp chân - Lần cuối cùng, ông sẽ dẫn học sinh vào phòng học; khi chúng vào rồi, ông Hiệu trưởng và tôi, chúng tôi sẽ cắt đặt thày giáo mới.
Quả vậy, vài phút sau, ông Hiệu trưởng, ông Viot và thày giáo mới trịnh trọng bước vào phòng học.
Mọi người đứng dậy.
Ông Hiệu trưởng giới thiệu tôi với học sinh bằng một bài nói hơi dài, nhưng khá trang trọng; rồi, ông rút lui có Serrières to lớn đi theo mà rượu punch tiễn biệt làm cho ngày càng quay cuồng, ông Viot ở lại sau cùng. Ông không diễn thuyết gì, nhưng chùm chìa khoá của ông, lanh canh, lanh canh, lanh canh! Nói hộ ông một cách khá đáng sợ. Lanh canh, lanh canh! Lanh canh! Khá đe doạ, đến nỗi tất cả những cái đầu đều nấp xuống dưới những cái nắp bàn học và chính ông thày mới cũng không yên lòng.
Chẳng mấy chốc chùm chìa khoá khủng khiếp đã ở bên ngoài, một đống mặt mũi láu lỉnh ra khỏi đằng sau bàn học; tất cả những lông bút ([6]) được đưa lên miệng, tất cả những con mắt nhỏ, long lanh, nhạo báng, sợ hoảng, chằm chằm nhìn tôi, trong khi một tiếng xì xào dài chạy hết bàn nọ đến bàn kia.
Hơi lúng túng, tôi từ từ leo lên những bậc bục giảng của mình; tôi thử đảo quanh mình một cái nhìn dữ tợn, lên gân tiếng nói, tôi kêu lên giữa hai nhát mạnh, khô khốc đập lên bàn:
- Ta làm việc thôi, các vị, ta làm việc thôi!
Chính thế, chú Nhóc bắt đầu buổi học đầu tiên.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn tiếng Pháp: Jaune comme un coi: vàng như quả mộc qua.
[2] Năm 1789 nổ ra Cánh mạng tư sản Pháp.
[3] Nguyên văn tiếng Latinh: Ecce homo.
[4] Đồ uống có cồn, chất nền là rượu rum hương chanh và quế.
[5] Mũ quân nhân cứng, có diềm, bắt chước mũ lính kỵ Hungarie.
[6] Trong những thế kỷ trước những chiếc lông của một vài loại chim, chủ yếu là ngỗng được dùng làm bút viết.