Thằng Nhóc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xiii
Vụ Bắt Cóc

❊ ❊ ❊

Đó là một buổi tối khoảng chín giờ ở nhà hát Montparnasse, chú bé Chose diễn vở đầu tiên, vừa mới xong và trở lên phòng của mình. Khi lên, cậu gặp Irma Borel sắp lên sân khấu. Mụ ta choáng lộn, mặc toàn đồ lụa và đăng ten, chiếc quạt cầm ở tay như Célimène ([1]) vậy.

Mụ bảo khi chú đi qua: “Tôi đang... tôi sẽ rất đẹp.”

Chú gấp bước đi về khoang ghế và cởi quần áo thật nhanh.

Phòng mà chú chung với hai người bạn, là một căn phòng không cửa sổ, thấp trần, sáng lên bằng đá phiến. Hai ba cái ghế rơm làm thành đồ đạc. Dọc tường treo những mẩu gương, những bộ tóc bị duỗi, những đồ tã có tráng kim, nhung bạc màu, vàng mạ xỉn; dưới đất, trong một góc, những cái bình son không nắp, những nùi thoa bột gạo trụi lông.

Chú bé Chose đã ở đó được một lúc, đang trút bỏ những đồ tã thì chú nghe thấy một người dàn cảnh gọi mình từ phía dưới:

- Ông Daniel! Ông Daniel!

Chú ra khỏi phòng trò và ngả người trên cái tay vịn gỗ ẩm ướt hỏi:

- Cái gì thế?

Rồi, khi thấy người ta không trả lời, chú đi xuống, cứ để vậy hầu như không ăn mặc, lem luốc màu trắng, màu đỏ, với bộ tóc giả lớn màu vàng rủ xuống mắt.

Dưới cầu thang, chú đụng phải ai đó.

- Jacques! - Chú vừa kêu vừa lùi lại.

Đó là Jacques... Họ nhìn nhau một lúc chẳng nói gì. Cuối cùng, Jacques nắm bàn tay lại với nhau và lầm bầm bằng một giọng dịu dàng đầy nước mắt:

- Ôi! Daniel!

Chỉ có thế thôi. Chú bé Chose, xúc động đến tận đáy lòng, nhìn xung quanh mình như một đứa trẻ sợ sệt và nói rất khẽ, khẽ đến nỗi anh cậu chỉ vừa đủ nghe thấy:

- Đem em đi khỏi đây đi, Jacques ơi.

Jacques run lên; rồi nắm lấy tay chú, anh kéo chú ra ngoài.

Một cái xe khách chờ ở cửa; họ leo lên đó.

- Phố các Bà, khu Batigholles! - “Mẹ Jacques” kêu lên.

- Đó là khu của tôi! - Người đánh xe trả lời bằng một giọng vui vẻ và chiếc xe rung lên.

Jacques đã ở Paris từ hai ngày nay. Anh từ Palermo, nơi một lá thư của Pierrotte cố đuổi theo anh từ ba tháng nay, cuối cùng đã tìm đến anh. Lá thư đó, ngắn và không câu cú, cho anh biết Daniel đã biến mất.

Khi đọc nó, Jacques đoán ra tất cả. Anh tự nhủ: “Thằng bé đang làm những điều dại dột... Ta phải đến đó mới được”. Và tức khắc, anh xin ông hầu tước cho nghỉ.

- Nghỉ à? - Con người hiền từ chồm lên nói - ông có điên không đấy?... Thế còn hồi ký của tôi?...

- Chỉ tám ngày thôi, ngài hầu tước ạ, thời gian cả đi và về; nó có liên quan đến cuộc sống của em tôi.

- Tôi xem thường em cậu lắm... Cậu có được báo trước khi vào làm không đấy? Cậu đã quên quy ước của chúng ta rồi à?

- Không, thưa hầu tước, nhưng...

- Không có nhưng gì cả. Cậu cũng như những người khác thôi. Nếu cậu rời chỗ làm của mình tám ngày thì cậu sẽ chẳng bao giờ trở lại nữa. Tôi xin cậu hãy suy nghĩ về điều đó. Này! Trong khi cậu suy nghĩ thì hãy ngồi kia. Tôi sẽ đọc cho cậu viết.

- Nghĩ hết cả rồi, thưa hầu tước. Tôi đi thôi.

- Cút đi cho rảnh.

Nói vậy, ông già cố chấp lấy mũ và đi đến toà công sứ Pháp để tìm hỏi một viên thư ký mới.

Jacques ra đi ngay tối hôm đó.

Khi đến Paris, cậu chạy ngay đến phố Bonaparte.

- Em tôi có ở trên ấy không? - Anh quát lên với người giữ cửa đang ngồi dạng háng trên cái máy nước hút tẩu.

Người giữ cửa cất tiếng cười:

- Cậu ấy chạy đã lâu rồi - ông ta nói một cách xảo trá.

Ông muốn ra vẻ kín đáo, nhưng một đồng một trăm xu đã cậy được răng ông. Thế là ông kể rằng từ lâu, cậu bé ở tầng năm và phu nhân tầng một đã biến mất, rằng người ta không biết họ trốn ở đâu, trong một xó xỉnh nào đó của Paris, nhưng tất nhiên là cùng nhau, vì con da đen Coucou-Blanc thì tháng nào cũng đến xem có gì cho họ không. Ông ta nói thêm là ông Daniel khi đi đã quên bảo ông thôi thuê và người ta nợ của ông tiền nhà bốn tháng mà chẳng kể đến những món nợ mặt khác.

- Được rồi - Jacques nói - tất cả sẽ được trả.

Và không phí một phút, không có ngay cả thời gian giũ sạch bụi đường, anh bắt đầu đi tìm cậu bé của mình.

Trước hết anh đi đến nhà in; suy xét có lý rằng tổng kho của vở Hài kịch Đồng nội đặt ở đó, Daniel phải đến đó luôn.

- Tôi sắp sửa viết thư cho ông - Nhà in bảo anh khi thấy anh bước vào - ông biết rằng tín phiếu đầu tiên sẽ hết hạn trong bốn ngày nữa.

Jacques trả lời chẳng xúc động:

- Tôi đã nghĩ đến chuyện ấy... Từ ngày mai, tôi sẽ đi quanh những nhà sách. Họ có tiền trả tôi đấy. Bán rất chạy mà.

Nhà in trợn đôi mắt to màu xanh vùng Alsace:

- Sao cơ?...Bán chạy lắm à! Ai bảo ông thế?

Jacques tái mặt, linh cảm một thảm hoạ.

- Ông cứ nhìn vào góc này xem - ông người Alsace nói tiếp - Tất cả những tác phẩm chất đống này này. Hài kịch Đồng nội đấy. Từ năm tháng nay đem bán, người ta chỉ bán được một quyển. Cuối cùng, những nhà sách đâm chán và đã gởi trả tôi những cuốn họ lưu kho. Bây giờ thì tất cả những thứ đó tốt nhất là đem bán cân. Thật là tai hại; nó đã được in cẩn thận.

Mỗi lời người đó nói giáng lên đầu Jacques như một nhát gậy cạp chì, nhưng điều khiến anh chết hẳn, đó là ông ta báo cho biết, Daniel nhân danh anh, đã vay tiền của nhà in.

- Mới đây - ông Alsace nhẫn tâm nói - cậu ta đã phái một con da đen khủng khiếp đến hỏi vay tôi, nhưng, tôi đã từ chối thẳng. Trước hết vì tên môi giới có cái đầu kẻ nạo ống khói bí hiểm ấy chẳng gợi cho tôi lòng tin; và rồi, ông hiểu chứ, ông Eyssette, tôi thì tôi chẳng giàu có gì, mà tôi ứng cho em ông thế là quá bốn trăm quan rồi.

- Tôi biết - “Mẹ Jacques” trả lời tự tin - Nhưng ông đừng lo, tiền đó sẽ được trả sớm.

Rồi, anh bước ra thật nhanh, sợ để lộ nỗi cảm động của mình. Ngoài phố, anh phải ngồi xuống một cột mốc. Anh nhũn cả chân. thằng bé của mình chạy trốn, chỗ mình làm bị mất, tiền của nhà in phải trả, căn phòng người canh cửa đến hạn vào ngày kia. Tất cả điều đó ong ong, quay cuồng trong đầu anh...

Bỗng, anh đứng dậy: “Trước hết, những món nợ anh tự nhủ, đó là chuyện gấp nhất”. Và mặc cho cách xử sự hèn hạ của em mình đối với nhà Pierrotte, anh không chần chừ đi đến hỏi họ.

Khi bước vào cửa hàng của ngôi nhà cũ Lalouette, Jacques nhận ra đằng sau quầy một gương mặt to phị màu vàng mà thoạt đầu anh không nhận ra; nhưng có tiếng mở cửa, gương mặt to ngẩng lên và khi nhìn thấy ai bước vào thì thốt lên oang oang “Thật đúng là lúc để mà nói” mà người ta không thể nhầm được. Pierrotte khốn khổ! Nỗi buồn đau của con gái ông đã làm ông ra một con người khác. Anh Pierrotte trước đây, khá vui vẻ và hồng hào, không còn nữa. Nước mắt mà con gái ông đã đổ từ năm tháng nay đã làm đỏ mặt ông, làm má ông chảy ra. Trên đôi môi nhợt nhạt, nụ cười rạng rỡ ngày trước giờ đây nhường chỗ cho một nụ cười lạnh lùng lặng lẽ; nụ cười của những bà goá và những người tình bị bỏ rơi. Chẳng còn là Pierrotte nữa, mà là Ariane, là Nina . Vả lại trong cửa hàng ngôi nhà cũ Lalouette, chỉ có ông là thay đổi. Những cô chăn chiên sặc sỡ, những ông Tàu bụng to màu tím vẫn cứ cười ngô nghê trên những cái giá cao, giữa những cái cốc Bohême và những cái đĩa có hoa to. Những cái liễn bàu bàu, những chiếc đèn Carcel ([2]) bằng sứ vẽ hình, vẫn ánh lên từng chỗ đằng sau những tủ kính ấy và ở phòng sau quầy cũng vẫn cái sáo ấy cứ nỉ non một cách kín đáo.

- Chính tôi, Pierrotte ạ - “Mẹ Jacques” vừa nói vừa dằn giọng - Tôi đến cầu anh một việc lớn. Cho tôi vay một ngàn năm trăm quan.

Pierrotte, chẳng trả lời, mở quỹ, khua vài đồng ê quy; rồi đẩy ngăn kéo lại, ông lặng lẽ đứng lên.

- Ở đây tôi không có, ông Jacques ạ. Ông chờ tôi, tôi sẽ lên tìm trên kia.

Trước khi bước ra, ông nói thêm bằng một vẻ gượng gạo:

- Tôi không bảo ông lên; điều đó khiến cô ấy quá khổ sở.

Jacques thở dài:

- Ông có lý, Pierrotte ạ; tốt nhất là tôi không lên.

Năm phút sau, cái ông người Cévennes trở lại với hai tờ bạc một ngàn quan mà ông đặt vào tay anh. Jacques không muốn cầm chúng. Anh nói:

- Tôi chỉ cần một ngàn năm trăm quan.

Nhưng, ông người Cévennes nằn nì:

- Tôi xin ông, ông Jacques ạ, cứ giữ lấy tất cả. Tôi thiết tha với con số hai ngàn quan ấy. Đó là số mà Cô đã cho tôi vay trong thời gian để mua cho tôi một người. Nếu ông từ chối tôi, đúng là dịp để mà nói, tôi sẽ giận ông chết mất.

Jacques không dám từ chối; bỏ tiền vào trong túi mình và chìa tay cho ông người Cévennes, anh nói với ông rất sơ sài:

- Xin chào Pierrotte và cảm ơn!

Pierrotte cầm lấy tay anh.

Họ đứng lại một lúc như vậy, cảm kích và im lặng trước mặt nhau. Cả hai, họ có tên của Daniel trên môi, nhưng họ không dám thốt nó lên vì cùng tế nhị... Người cha và người mẹ ấy hiểu nhau khá rõ!... Jacques từ từ gỡ tay ra trước. Mắt anh rưng rưng; anh vội phải đi. Ông người Cévennes tiễn anh ra đến tận lối đi. Lúc đó, con người khốn khổ không thể chịu được lâu hơn nỗi đắng cay mà lòng mình chất chứa, nên ông bắt đầu bằng một giọng trách cứ:

- Ôi! Ông Jacques... ông Jacques... đúng là dịp để mà nói!...

Nhưng, ông quá cảm động để diễn đạt được hết ý mình, nên chỉ có thể nhắc lại hai lần liền: Đúng là dịp để mà nói... đúng là dịp để mà nói...

Khi rời Pierrotte, Jacques trở lại nhà ông thợ in. Mặc dù những lời cự lại của ông người Alsace, anh muốn trả ông ngay lập tức bốn trăm quan cho Daniel vay. Ngoài ra, để chẳng còn phải thắc thỏm, anh để cho ông chỗ tiền của ba tấm phiếu đến kì hạn; sau đó, cảm thấy lòng nhẹ nhõm hơn, anh tự nhủ: “Ta đi tìm cậu bé thôi”. Rủi thay, giờ đã quá muộn để mà lên đường ngay hôm ấy; vả lại, nỗi nhọc của chuyến đi, sự xúc động, cơn ho khan nhẹ kéo dài từ lâu khiến anh suy nhược, đã làm “mẹ Jacques” khốn khổ mệt nhoài, đến nỗi anh phải trở về phố Bonaparte để nghỉ chút ít.

Ôi! Khi anh bước vào căn phòng nhỏ và vào những giờ cuối cùng của một cái nắng cũ tháng mười, anh thấy lại tất cả những đồ đạc nói với mình về cậu bé: Chiếc bàn thợ thơ trước cửa sổ, cái cốc, lọ mực, những cái tẩu ống ngắn như những cái của Trưởng tu viện Germane; khi anh nghe thấy vang lên những tiếng chuông tốt lành của Nhà thờ Thánh Germain, hơi bị khàn vì sương mù, khi mà hồi kinh Đức Bà buổi chiều - hồi kinh buồn mà Daniel ưa thích biết bao ấy - đến đập cánh vào những tấm kính; điều mà “mẹ Jacques” đau đớn, chỉ có một người mẹ mới có thể nói lên được...

Anh đi hai ba vòng quanh phòng, nhìn khắp nơi, mở tất cả các tủ những mong tìm thấy ở đấy một vật gì khiến anh nắm được dấu vết của kẻ chạy trốn. Nhưng, than ôi! Tủ rỗng không.

Người ta chỉ bỏ lại đấy quần áo cũ, những đồ rách tả tơi. Cả phòng toát lên mối tai hoạ và sự bỏ bê. Không phải người ta ra đi mà người ta chạy trốn. Dưới đất, trong một xó, có một cái chân nến và trong lò sưởi, dưới một mẩu giấy bị cháy, một cái hộp màu trắng có chỉ vàng. Cái hộp ấy, anh nhận ra nó. Chính ở đó người ta đặt những lá thư của đôi mắt đen. Giờ đây, anh lại thấy nó trong tro. Thật là phạm thượng!

Khi tiếp tục những cuộc tìm kiếm của mình, anh thấy trong một cái ngăn của bàn thợ một vài mảnh giấy phủ kín một nét chữ không đều, bồn chồn nét chữ của Daniel khi cậu có hứng. “Chắc hẳn đó là một bài thơ”, “mẹ Jacques” tự nhủ khi tiến lại cửa sổ để đọc. Quả vậy, đó là một bài thơ, một bài thơ u buồn, bắt đầu thế này:

“Jacques, em đã dối anh. Từ hai tháng nay, em chỉ dối anh...”.

Lá thư đó không được gửi đi. Nhưng, như người ta thấy dù sao nó cũng đến địa chỉ. Lần này, Thượng đế đã làm công việc của bưu điện.

Jacques đọc nó từ đầu chí cuối. Khi anh đọc đến đoạn mà lá thư nói về một lời cam kết với Montparnasse được đề nghị với biết bao khẩn khoản, bị từ chối với biết bao kiên quyết, anh nhảy lên vui vẻ:

- Ta biết nó ở đâu rồi! - Anh kêu.

Rồi, bỏ lá thư vào túi, anh đi nằm yên lặng hơn; nhưng, dù cho bải hoải vì mệt, anh không ngủ. Vẫn cứ cái cơn ho đáng nguyền rủa này... Khi ánh ban mai vừa ló, một buổi sớm thu lười biếng và lạnh lẽo, anh nhanh chóng trở dậy. Kế hoạch của anh đã vạch xong.

Anh thu gom chỗ quần áo cũ sót lại ở đáy tủ, bỏ chúng vào trong hòm, không quên chiếc hộp có chỉ vàng nhỏ, nói lời chào cuối cùng với cái tháp cổ Nhà thờ Thánh Germain, rồi ra đi, cứ để toang hoang, cửa đi, cửa sổ, tủ để cho chẳng có gì của cuộc sống tốt đẹp của họ còn lưu lại trong căn nhà mà từ nay, những kẻ khác sẽ ở. Dưới nhà, anh trả phòng, trả tiền thuê còn bị chậm; rồi, không trả lời những câu hỏi đánh lừa của người canh cửa, anh gọi một chiếc xe chạy qua và bảo đánh đến khách sạn Pilois, phố các Bà, khu Batignolles.

Khách sạn đó được một người em của bác Pilois, đầu bếp của ông hầu tước quản lý. Người ta chỉ cho trú ở đó từng quý một và những người có bảo đảm. Vậy nên trong khu, ngôi nhà có một tiếng tăm rất đặc biệt. Ở khách sạn Pilois, đó là một bằng chứng về cuộc sống lành mạnh, Jacques, người đã tranh thủ được lòng tin của Vatel nhà Hacqueville, nhân danh mình đem cho ông em một giành rượu Marsala.

Sự tiến cử đó là đủ và khi anh rụt rè xin dự phần nào những người thuê thì người ta không ngần ngại cho anh một căn phòng đẹp ở tầng trệt có hai cửa kính mở ra khu vườn của khách sạn, tôi thì bảo là của nhà tu. Khu vườn ấy không lớn: ba bốn cây keo, một ô vuông cây cỏ nghèo nàn, - cây cỏ khu Batignolles, - Một cây vả không có quả, một cây nho ốm yếu với vài gốc cúc làm nên tất cả những vẻ mát mẻ của nó; nhưng điều đó cũng đủ làm vui căn phòng, vốn hơi buồn và ẩm...

Không để mất một phút, Jacques bày biện, đóng đinh, cất quần áo, đặt một giá cắm tẩu hút của Daniel, treo bức chân dung bà Eyssette ở đầu giường, cuối cùng cố gắng hết sức mình để xua đi cái không khí tầm thường làm nhơ bẩn những căn phòng cho thuê có đồ khi anh đã chiếm lĩnh chắc chắn, anh ăn trưa qua loa, rồi đi ra ngay sau đó. Khi đi qua, anh báo cho ông Pilois rằng tối đó, ngoại lệ có lẽ mình sẽ về hơi muộn và xin ông sắp sẵn trong phòng một bữa tối kha khá cho hai bộ đồ ăn và rượu cũ. Đáng lẽ vui mừng vì việc làm thêm đó, ông Pilois tốt bụng lại đỏ mặt tía tai như một vị phó linh mục năm đầu vậy.

- Là vì, ông nói với một vẻ lúng túng, tôi không biết... Nội quy khách sạn chống đối... chúng tôi có những thày tu...

Jacques mỉm cười:

- A! Được thôi. tôi hiểu... Là vì hai bộ đồ ăn khiến ông sợ; ông yên tâm, ông Pilois thân mến ạ, không phải là một người đàn bà đâu.

Và trong đáy lòng mình. khi xuống Montparnasse, anh tự nhủ: “Tuy vậy, nếu đó là một người đàn bà, một người đàn bà thiếu can đảm, một đứa trẻ không biết nghĩ thì không bao giờ được để một mình”.

Bạn hãy nói tôi nghe xem tại sao “mẹ Jacques” của tôi lại tin chắc là tìm được tôi ở Montparnasse. Kể từ thời mà tôi viết cho anh bức thư khủng khiếp không gửi đi, rất có thể tôi đã rời nhà hát, có thể tôi đã không vào đó. Chao ôi! Không.

Linh tính người mẹ dẫn dắt anh. Anh tin chắc là tìm thấy tôi ở đó và đưa tôi về ngay buổi tối; có điều, anh nghĩ có lý: để bắt cóc nó, nó phải có một mình, rằng người đàn bà ấy không ngờ gì cả”. Đó là điều ngăn cản anh đến thẳng nhà hát hỏi thăm. Hậu trường rất bép xép; một lời nói có thể đánh động. Anh thực sự thích tờ quảng cáo nên mau chạy đi tham khảo chúng.

Những tờ quảng cáo biểu diễn ngoại ô được đặt ở cửa hàng rượu của quận, đằng sau cái lưới, gần giống như cáo thị kết hôn trong những ngôi làng ở Alsace. Khi đọc chúng, Jacques thốt lên một tiếng reo vui mừng.

Tối hôm đó, nhà hát Montpamasse diễn vở Marie Janne, kịch năm hồi do bà Irma Borel, Desiree Levrault, Guigne, vv. đóng.

Mở đầu là: Tình yêu và những quả mận khô, kịch vui một màn của các ông Daniel, Antonin và cô Béontine.

“Mọi chuyện ổn cả, anh tự nhủ. Họ không diễn trong cùng một vở; ta tin chắc vào cái vở của mìnhl.

Rồi, anh bước vào một quán cà phê vườn Luxembourg để chờ giờ bắt cóc.

 Tối đến, anh tới nhà hát. Màn biểu diễn đã bắt đầu. Anh đi dạo độ một tiếng dưới ban công trước cửa, cùng với cảnh sát.

Thỉnh thoảng, những tràng vỗ tay bên trong vẳng đến tận chỗ anh như tiếng mưa đá ở xa và điều đó khiến anh đau lòng mà nghĩ rằng có thể đó là những cái nhăn mặt thằng bé của mình mà người ta vỗ tay như vậy... Khoảng chín giờ một làn sóng người ồn ào xô ra ngoài phố. Vở kịch vui vừa mới xong; có những người vẫn còn cười. Người ta huýt sáo, người ta gọi nhau: “Ô này!... Pilouitt!... Lala-itou!” tất cả những tiếng thốt lên của vườn thú Paris... Thế chứ! Không phải là tan rạp kịch Ý.

Anh còn chờ một lúc, mất hút trong tiếng ồn ào đó rồi vào cuối buổi giải lao, khi mọi người trở vào, anh lén vào một lối đi tối om và dính nhớp bên cạnh nhà hát, - Lối vào của nghệ sĩ, - Và đòi nói chuyện với bà Irma Borel.

Không được, người ta bảo anh. Bà ấy đang trên sân khấu...

Thật là một kẻ thô lỗ đối với mưu mẹo, “mẹ Jacques” này!

Bằng cái vẻ lặng lẽ nhất, anh nói tiếp:

- Vì tôi không thể gặp bà Irma Borel, xin ông gọi giúp ông Daniel; ông ấy sẽ làm một việc tôi nhờ đến bà ta.

Một phút sau, “mẹ Jacques” đã lấy lại được thằng bé của mình và đem nó thật nhanh đến đầu kia của Paris.

❀ ❀ ❀

[1] Nhân vật trong vở kịch Kẻ ghét đời của Molière (1622-1673) một cô gái đỏm dáng, tài trí và hay nói xấu.

[2] Đèn dầu có bộ bánh xe và pixtông do người thợ đồng hồ Pháp Carcel phát minh ra năm 1800.

Tác giả: Alphonse Daudet Thằng Nhóc Nguồn TVE 4U Thể loại: Thiếu Nhi, Kinh Điển Tạo eBook: Mot Sach VNTHUQUAN
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.