Người xưa thường nói: "Ngồi có tướng ngồi, đứng có tướng đứng". Điều này đòi hỏi thanh, thiếu niên cần có tư thế ngồi đúng để cơ thể phát triển được bình thường.
Có một số thanh, thiếu niên đang thời kì sinh trưởng, vì tư thế ngồi không đúng nên gây cho cột sống phát triển dị dạng. Tư thế ngồi không đúng có nguyên nhân chủ quan. Ví dụ một số trẻ em không ngồi ngay ngắn mà quen dùng một tay đỡ lấy cằm, ngồi nghiêng đầu đọc sách, thời gian dài dễ làm cho cột sống xiêu vẹo. Cũng có em vì thường mang vác những vật nặng trên vai, như đeo túi sách cố định một bên hoặc xách nặng một tay, để duy trì sự cân bằng mà cột sống phải xiêu vẹo đi; hoặc có em học sinh ngồi ngoài rìa hàng ghế đầu trong phòng học, để trông rõ bảng đen thường phải nghiêng vai ngó nhìn. Tất cả những tư thế trên đều dễ dẫn đến vẹo cột sống. Có khi vì bàn học quá thấp, hai gối tay không thể đặt ngang lên bàn đọc sách, trọng tâm thân rơi về phía trước, đầu cũng cúi về phía trước dễ làm cho lưng gù như lạc đà. Một số ít em ngồi giữa bàn đầu trong lớp, vì gần bảng đen quá nên đầu thường ngửa về phía sau, ngực ưỡn ra, thời gian dài cũng làm cho cột sống dễ bị cong.
Cột sống bị xiêu vẹo không những ảnh hưởng đến mĩ quan mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của các cơ quan quan trọng như tim, gan, phổi. Có những thanh, thiếu niên vì cột sống xiêu vẹo nên lực hoạt động bị hạn chế, mau mệt mỏi, sức hoạt động của phổi kém, chức năng mạch máu tim và tuần hoàn của máu gặp trở ngại. Do đó đối với thanh, thiếu niên, từ bé đã phải luôn chú ý giữ tư thế cho đúng mực để có lợi cho sự phát triển lâu dài của thân thể.
Vì sao thanh, thiếu niên dễ phát sinh cột sống khác thường?
Chúng ta thử làm một thí nghiệm đơn giản sau: đem hai cành liễu đo bằng nhau, một cành liễu non và một cành liễu già uốn thành vòng và cột chặt chúng lại. Qua mấy ngày sau ta mở ra sẽ phát hiện thấy cành liễu non bị uốn cong nhiều hơn so với cành liễu già. Tương tự, cột sống nhi đồng và thiếu niên đang ở giai đoạn phát triển, xương còn dẻo, đặc biệt là khung xương lứa tuổi nhi đồng giống như cành liễu non có độ uốn rất lớn, cho nên dễ bị cong lệch. Cùng với sự tăng cao theo lứa tuổi, khung xương không những phát triển mà còn trở nên thô khoẻ, cứng cáp hơn. Nếu ở lứa tuổi thiếu niên tư thế không đúng lâu ngày sẽ làm cho khung xương biến hình, đợi đến tuổi lớn lên mới uốn nắn thì rất khó. ở người lớn, khung xương đã hoàn toàn cứng, giống như cành liễu già nên không dễ bị uốn cong.
Để ngăn ngừa cột sống xiêu vẹo, từ bé các em phải tập thành thói quen có tư thế ngồi học đúng. Ngoài việc chú ý tư thế ngồi, tư thế đứng ra còn phải chú ý các tư thế khi lao động.
Từ khoá: Cột sống bị lệch khác thường. Cột sống bị xiêu vẹo; Lưng thẳng dị dạng.
52. Vì sao trong một ngày chiều cao của cơ thể có thay đổi?
Từ lúc sơ sinh cho đến tuổi thanh niên, chiều cao của thân thể không ngừng phát triển. Nhưng sau lứa tuổi thanh niên thì chiều cao cơ bản không tăng lên nữa. Song cùng một người, trong cùng một ngày chiều cao của cơ thể sáng và tối cũng khác nhau. Buổi sáng mới ngủ dậy chiều cao thường cao hơn buổi tối một ít. Có người sẽ hỏi: vì sao trong cùng một ngày chiều cao của cơ thể lại có sự biến đổi? Điều này có liên quan với tổ chức của các khớp xương và sự co, giãn của các dây chằng.
Chiều cao biểu thị độ cao của cơ thể khi đứng. Nó gồm bốn bộ phận là: đầu, cột sống, xương chậu và chi dưới hợp thành. Những bộ phận này lại thông qua các khớp xương và dây chằng liên kết với nhau. Sự biến đổi chiều cao của cơ thể trong một ngày có liên quan mật thiết với chiều cao của cột sống. Vì cột sống là trục giữa của cơ thể, gồm 24 đốt, xương cùng và xương cụt dựa vào các dây chằng, các đĩa đệm giữa các đốt sống để hợp thành. Trong đó các đĩa đệm là phần xương hình đĩa nằm giữa hai đốt, nó vững chắc và có tính đàn hồi cao. Ngoài nhiệm vụ tiếp nối các đốt sống, nó còn chịu áp lực và hoãn xung để bảo đảm tuỷ sống không bị ảnh hưởng, đồng thời có lợi cho cột sống vận động theo các hướng.
Sau khi công tác và học tập một ngày, cơ bắp, các khớp và dây chằng trong cơ thể đều ở trạng thái căng thẳng và bị dồn nén, khiến các đốt sống ép sát vào nhau. Qua một đêm ngủ và nghỉ ngơi, các đĩa đệm đàn hồi sẽ giãn ra, nhờ đó mà cột sống được chùng lỏng và dài hơn một chút, nên xuất hiện hiện tượng "buổi sáng cao, buổi chiều thấp”.
Từ khoá: Cột sống; Dây chằng; Đĩa đệm.
53. Vì sao thường xuyên thở bằng miệng không tốt cho sức khoẻ?
Hằng ngày ta thở liên tục để hít khí oxi và bài tiết khí cacbonic. Quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường gọi là thở. Hệ thống hô hấp được cấu thành bởi đường hô hấp và phổi. Đường hô hấp đưa khí vào phổi gồm: lỗ mũi, yết hầu, khí quản, khí quản nhánh và những phân nhánh khác cấu tạo nên.
Lỗ mũi là cửa ngõ của đường hô hấp cũng là màn chắn đầu tiên trước khi không khí đi vào cơ thể. Hốc mũi được che phủ bởi một lớp niêm mạc. Trong niêm mạc có nhiều mạch máu nhỏ li ti và các tuyến thể làm ấm và làm ẩm không khí mới được hít vào. Đặc biệt là mùa đông, nhờ tác dụng của lỗ mũi mà không khí lạnh không thể trực tiếp đi vào đường hô hấp. Ngoài ra, các tuyến thể trong niêm mạc mũi sẽ tiết ra một chất nhầy. Chất nhầy này có thể giữ bụi bặm và vi khuẩn trong không khí lại, cộng thêm trong mũi còn có nhiều lông cũng có tác dụng ngăn cản bụi. Như vậy, đại bộ phận bụi bặm, các hạt nhỏ và vi khuẩn từ bên ngoài đều bị giữ lại. Trong niêm mạc còn có những tế bào chỉ riêng mũi mới có, đó là tế bào khứu giác, có chức năng nhận biết mùi vị. Khi mũi ngửi thấy những mùi vị kích thích, hoặc mùi vị có hại cho cơ thể thì tế bào khứu giác lập tức phán đoán, phản ánh lên đại não. Dưới sự chỉ huy của đại não, người ta sẽ bịt mũi lại để giảm nhẹ sự tổn thương do khí độc gây nên.
Còn miệng là cơ quan quan trọng của đường tiêu hoá, hoàn toàn không có chức năng như mũi. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, ví dụ khi cảm cúm, lỗ mũi bị tịt thì miệng mới tạm thời thở để thay thế. Chắc bạn đã có kinh nghiệm sau: khi bị cảm, mũi tịt, bất đắc dĩ phải dùng miệng thở, một lúc sau sẽ cảm thấy cổ họng vừa khô, vừa đau, rất khó chịu. Quan trọng hơn là lúc thở hít phải những khí có hại thì miệng sẽ không phân biệt được, chất khí đó sẽ đi thẳng vào cơ thể. Cho nên dùng miệng thở không tốt đối với sức khoẻ.
Mũi là cơ quan quan trọng, ta phải thường xuyên chăm sóc và bảo vệ nó. Có bạn trẻ thích dùng ngón tay ngoáy mũi, điều đó không tốt.
Khi dùng ngón tay ngoáy mũi dễ làm cho niêm mạc tổn thương, tạo nên viêm nhiễm, thậm chí chảy máu. Ngoài, khi bị cảm, mũi bị tịt cũng cần điều trị sớm để sớm phục hồi chức năng cho mũi.
Từ khoá: Hô hấp; Niêm mạc mũi; Tế bào khứu giác.
54. Vì sao hít vào khí oxi, khi thở ra lại biến thành CO2?
Người ta khi đang sống, một giây cũng không ngừng thở. Không khí hít vào chứa nhiều khí oxi, nhưng khi thở ra thì phần lớn là khí cacbonic. Không khí trong cơ thể sau khi chu chuyển một vòng, làm sao chuyển thành khí thải? Nguyên nhân là trong cơ thể có một cơ quan chuyên đảm nhiệm việc trao đổi khí, đó chính là phổi. Khí oxi hít vào sẽ đi theo khí quản, khí quản đi thẳng xuống, sau đó phân thành hai nhánh: khí quản phải và khí quản trái, hai nhánh này đi sâu vào trong hai lá phổi. Trong phổi các nhánh khí quản lại chia nhỏ ra thành vô số các nhánh con. Đầu cuối của mỗi khí quản con đều tiếp nối với các phế nang. Như vậy, phổi gồm các khí quản li ti trùng trùng điệp điệp và các phế nang hợp thành.
Quan sát dưới kính hiển vi thì phế nang giống như một quả nho, trên bề mặt phân bố đầy các mạch máu mao quản. Không khí hít vào sẽ từ phế nang khuếch tán vào trong các mạch máu mao quản, cùng với máu chảy khắp cơ thể. Đồng thời lúc đó khí thải mà phần lớn là khí CO2 sản sinh ra trong cơ thể cũng được thông qua các mạch máu li ti đưa đến bề mặt phế nang, thông qua trao đổi khí, khí CO2 đi vào phế nang rồi thoát ra ngoài cơ thể theo đường các khí quản nhánh, tập trung vào khí quản, cuối cùng được thở ra. Không khí hít vào thông qua một chuỗi quá trình như thế mới biến thành khí thải CO2.
Từ khóa: Phổi; Khí oxi; Khí quản nhánh; Phế nang; Trao đổi khí
55. Thức ăn ta ăn vào biến đi đâu?
Hơn 300 năm trước, giáo sư Sankerfreise, người ý, đã làm một thí nghiệm rất lạ, nhưng cũng rất thi vị: ông treo một chiếc ghế vào đầu một cán cân rất lớn. Suốt ngày ông ngồi trên ghế và chốc chốc lại ghi trọng lượng của mình. Ông phát hiện thời gian ngồi càng lâu thì trọng lượng càng nhẹ. Khi ông ăn cơm xong trọng lượng tại tăng lên. Nhưng ngồi một chốc thì trọng lượng giảm dần. Vậy thức ăn ông ăn vào đã biến đi đâu? Ông Sankerfreise cho rằng, khi ông ngồi, cơ thể giải phóng ra rất nhiều "mồ hôi vô hình" không nhìn thấy được. Chính vì thế mà trọng lượng bị giảm dần.
Cách giải thích của ông Sankerfreise có đúng không? Chỉ đúng một phần, chưa hoàn toàn đúng cả!
Theo cách nhìn của khoa học hiện đại thì thức ăn ta ăn vào, ngoài việc bài tiết ra, phần lớn đều bị đốt cháy, một phần còn lại bị đào thải ra sau!
Cơ thể người giống như một cái lò. Lò muốn cháy phải liên tục cho nhiên liệu lửa mới duy trì được. Cơ thể không ngừng vận động, phát nhiệt, nên đòi hỏi được định kì cho thêm nhiên liệu - thức ăn.
Trong thức ăn có chứa protêin, mỡ, các hợp chất của cacbon và nước, dưới tác dụng của các loại men trong cơ thể, các chất đó bị "đốt cháy", tức là bị oxi hoá, tuy không phát sinh ngọn lửa nhưng giải phóng ra rất nhiều nhiệt. Chất protêin sau khi bị "đốt" sẽ biến thành các chất được đào thải ra theo nước tiểu. Mỡ và các hợp chất của cacbon và nước sau khi bị "đốt" sẽ biến thành khí CO2 và nước. Khí CO2 đi ra theo đường hô hấp, còn thành phần nước một phần đi ra theo đường hô hấp, một phần biến thành "mồ hôi vô hình" thoát ra qua mặt da, cũng có phần bài tiết qua nước tiểu. Những chất này được bài tiết ra nên cơ thể nhẹ đi, vì thế mà Sankerfreise càng ngồi lâu càng nhẹ. Cũng chính vì thế mà người ta phải ăn, phải uống để cung cấp nhiệt lượng làm cho cơ thể hoạt động được.
Theo thống kê, một người ở lứa tuổi 80, cả cuộc đời cần 70 - 80 tấn nước, 2,5 - 3 tấn protêin, 13 - 17 tấn các hợp chất cacbon, 1 tấn mỡ. Nếu cộng tất cả trọng lượng những chất này lại sẽ nặng gấp 1500 - 1600 lần so với trọng lượng cơ thể.
Từ khoá: Thực phẩm; Bài tiết.
56. Vì sao dạ dày không tự tiêu hoá mình?
Thức ăn mà ta ăn vào trước hết phải qua miệng và đường thực quản mềm, sau đó đi xuống dạ dày - bộ phận lớn nhất của đường tiêu hoá. Dạ dày giống như một cái túi, là một trong những cơ quan chủ yếu để tiêu hoá thức ăn. Nó co bóp để nghiền nát thức ăn. Dịch vị được dạ dày tiết ra có chứa dịch axit và men protêin. Dịch axit có thể giết chết vi khuẩn trong thức ăn và khiến cho thức ăn chứa nhiều xenlulô biến thành mềm nhũn, nó còn làm tăng thêm tác dụng của men protêin. Men protêin có thể phân giải chất protêin trong thức ăn thành axit amin làm cho cơ thể dễ hấp thụ. Năng lực tiêu hoá của dạ dày khiến ta phải kinh ngạc. Các nhà khoa học đã từng bỏ một con cóc sống vào trong dạ dày con chó, mấy tiếng đồng hồ sau hình ảnh con cóc mất tích, tức là đã bị tiêu hoá.
Có người sẽ hỏi rằng: dạ dày có thể tiêu hoá thịt, vậy tại sao dạ dày lại không tự tiêu hoá nó? Nguyên nhân là dạ dày ngoài tiết ra dịch axit và men protêin còn có thể tiết ra một chất nhầy. Chất nhầy này ở dạng keo đặc quánh, có độ dính kết rất lớn. Chất nhầy sẽ tạo nên trên bề mặt bên trong của dạ dày một lớp niêm mạc rất kiên cố, có thể bảo vệ cho bề mặt dạ dày không bị những thức ăn cứng gây tổn thương, đồng thời chất nhầy còn có tính kiềm yếu, có thể ngăn cản dịch axit và men protêin của dạ dày xâm thực niêm mạc.
Ngoài ra, các tế bào trên vách dạ dày cũ bong ra thì lớp mới sẽ lập tức thay thế. Theo tính toán, mỗi phút có khoảng 500.000 tế bào vách dạ dày rơi rụng đi, cứ ba ngày thì các tế bào vách dạ dày sẽ được thay thế một lần. Cho nên mặc dù vách trong của dạ dày có bị tổn thương thì cũng sẽ được kịp thời phục hồi lại.
Thông thường, dịch toan và men protêin dạ dày sẽ không tiêu hoá đối với vách dạ dày. Nhưng khi uống rượu nhiều, hoặc uống thuốc asperin lâu ngày thì lớp niêm mạc và các tế bào vách dạ dày dễ bị tổn thương, khiến cho vách dạ dày bị phân giải, dẫn đến loét dạ dày.
Từ khoá: Dạ dày; Tiêu hoá; Dịch vị; Niêm mạc dạ dày; Tế bào vách dạ dày.
57. Khi bụng đói vì sao hay có tiếng sôi "ùng ục" (sôi bụng)?
Dù mỗi ngày ăn ba bữa no, nhưng cũng có lúc ta cảm thấy đói.
Khi đói, thông thường bụng trên có cảm giác trống rỗng và khó chịu, đến khi đói lắm thì phát ra tiếng "ùng ục". Đó là vì sao?
Khi dạ dày tiêu hoá thức ăn gần hết, dịch vị vẫn tiếp tục tiết ra. Vì dạ dày rỗng dần, nên sức co bóp của nó sẽ tăng lên. Sự co bóp mạnh của dạ dày thông qua thần kinh truyền đến đại não gây ra cảm giác đói, ta gọi vận động co bóp mạnh của dạ dày là co bóp đói. Khi dạ dày co bóp đói thì các dịch thể và những khí nuốt vào trong dạ dày sẽ bị nhào nặn, lúc bị dồn sang phía này, lúc sang phía kia, kết quả sẽ sinh ra tiếng "ùng ục".
Ngoài ra còn có một hiện tượng: khi đói ta cảm thấy thèm ăn, nhưng chưa được ăn, đến lúc qua cơn đói thì không còn cảm giác thèm nữa. Đó là vì sao?
Đó là vì động tác co bóp đói của dạ dày có tính chu kì. Khi đói sự co bóp mạnh của dạ dày chỉ kéo dài khoảng nửa tiếng, sau đó chuyển sang thời kì yên lặng khoảng nửa tiếng đến một tiếng. Cùng với sự nằm im của dạ dày thì cảm giác đói sẽ mất đi. Cảm giác đói và cảm giác thèm ăn thường đồng thời phát sinh. Khi bụng đói sẽ muốn ăn và không đòi hỏi kén chọn thức ăn. Tương tự, cảm giác đói và cảm giác muốn ăn, thường cùng mất đi với nhau, cho nên sau khi qua cơn đói thì không thèm ăn nữa.
Từ khoá: Co bóp đói.
58. Vì sao không nên vừa ăn, vừa xem sách báo?
Trước khi ăn, không nên cãi nhau tức giận, càng không nên tranh luận kịch liệt, vì tất cả những điều đó sẽ làm nhiễu loạn sự kích thích não, gây cho hệ thần kinh giao cảm hưng phấn, khống chế sự co bóp của dạ dày và ruột, làm giảm nội tiết tiêu hoá.
Hương vị và màu sắc thức ăn, co bóp đói của dạ dày và ruột, thói quen ăn đúng giờ, tất cả những điều này đều là những nhân tố gây thèm ăn, được hình thành theo phản xạ có điều kiện, thúc đẩy tiết ra dịch tiêu hoá trong dạ dày và đường ruột, làm dấy lên cảm giác thèm ăn. Nhưng đại não điều khiển tất cả, nó cũng khống chế sự tiết ra của các tuyến tiêu hoá và quyết định sự thèm ăn. Khi đại não bị kích thích hoặc ức chế thì nội tiết của các tuyến tiêu hoá lập tức bị khống chế, do đó cảm giác thèm ăn sẽ mất đi.
Khi ăn, có người quen ăn nhanh, không nhai kĩ, hoặc vừa ăn vừa đọc báo. Như vậy tâm trí phải chia đôi cho hai việc, kết quả cơm ăn vào khó tiêu hoá, sách đọc cũng không nhớ. Người xưa hay nói "quên ăn quên ngủ" là muốn nói khi làm một việc phải chuyên tâm, dốc toàn lực để làm. Nếu hiểu câu này một cách phiến diện là ăn không quan trọng, có thể vừa ăn cơm vừa làm việc khác là sai. Vì cứ như thế kéo dài sẽ làm cho bạn không thú vị ăn nữa, dần dần phát triển thành tiêu hoá không tốt mãn tính.
Sau khi ăn cũng nên nghỉ ngơi một chốc để cho thức ăn tiêu hoá và cơ thể hấp thụ được tốt hơn. Khi ăn, công việc chính của cơ thể là tiêu hoá, đòi hỏi một lượng lớn máu phải tập trung cho các cơ quan tiêu hoá. Nếu lúc đó não cũng hoạt động thì máu bị chia sẻ, ảnh hưởng tập trung máu cho các cơ quan tiêu hoá, gây trở ngại cho dạ dày và ruột không làm việc được bình thường, do đó quá trình tiêu hoá sẽ bị kéo dài.
Cho nên ăn cơm phải tập trung, sau khi ăn phải nghỉ ngơi, đó là kiến thức vệ sinh rất quan trọng.
Từ khoá: Tiêu hoá.
59. Vì sao phải coi trọng bữa ăn sáng?
Đối với đa số người mà nói, ngày nay vấn đề ăn no không còn là điều phải suy nghĩ, nhưng như thế không có nghĩa là mọi người đã biết ăn, hiểu được cách ăn. Rất nhiều người trên đường đi làm hoặc đi học, vội vội vàng vàng ăn vài cái bánh bao, hoặc một cái bánh nướng, vừa đi vừa ăn coi như đối phó xong bữa sáng. Hiện tượng này rất phổ biến. Nhưng từ góc độ vệ sinh dinh dưỡng mà nói, điều đó không thích hợp. Cho nên các chuyên gia dinh dưỡng kêu gọi mọi người nên coi trọng bữa ăn sáng.
Vì sau một đêm ngủ, dạ dày buổi sáng trống rỗng, dinh dưỡng bữa ăn tối hôm trước đã tiêu thụ hết, rất cần được bổ sung ngay. Ngoài ra, bữa ăn sáng tốt hay xấu sẽ liên quan đến hiệu suất công việc và học tập. Từ sáng cho đến trưa, ta phải làm việc 4 - 5 giờ, vì vậy bữa ăn sáng tốt không những khiến cho thể lực dồi dào, đảm nhiệm tốt gánh nặng công việc mà còn nâng cao năng lực nhận thức và chức năng của não. Có một công trình nghiên cứu cho thấy những học sinh không ăn sáng thì trí nhớ và mức độ nói năng lưu loát cũng như tính sáng tạo đều kém hơn những học sinh ăn sáng. Cho nên bữa sáng nên là bữa ăn chính thức, tuyệt đối không nên ăn vội vàng hoặc bỏ qua.
Trong cuộc sống ngày nay, bữa sáng của người dân đã trở thành một vấn đề quan trọng. Năm 1998, có người đã tiến hành điều tra ở một trường trung học, có khoảng 60% học sinh về cơ bản hằng ngày đều ăn sáng, số học sinh còn lại lúc ăn lúc không, không có quy luật, thậm chí có những em có thói quen không ăn sáng. 24% số học sinh khi học tiết thứ ba và tiết thứ tư có cảm giác đói và mệt mỏi. Điều đó chứng tỏ số lượng và chất lượng bữa sáng của nhiều học sinh không bảo đảm yêu cầu. Thời gian kéo dài sẽ có hại cho sức khoẻ, đặc biệt là học sinh phổ thông đang trong thời kì phát triển, nhu cầu về dinh dưỡng rất lớn, cần được bổ sung thông qua bữa ăn sáng để tăng thêm sự phát triển và bảo đảm học tập được bình thường.
Như thế nào mới được xem là một bữa ăn sáng tốt? Bữa ăn sáng tốt nên cung cấp khoảng 2500 kcalo, tức là khoảng 24 g protêin, 250 mg canxi, 5 mg sắt, 30 mg vitamin C, 200 mg vitamin A, vv... Ví dụ một cốc sữa bò hoặc một cốc sữa đậu nành, cộng thêm một cái bánh rán hoặc bát cháo và cái quẩy thì về cơ bản đã thoả mãn nhu cầu trên, nếu bổ sung thêm bánh bao có nhân hoặc một bát mì vằn thắn hay trứng gà, thậm chí thêm một chút hoa quả thì có thể nâng cao chất lượng bữa sáng lên rất nhiều. Nếu chỉ đơn thuần là cháo, hoặc cháo với ca-la-thầu (một loại củ su hào muối) thì sẽ có ảnh hưởng không tốt đối với sức khoẻ của bạn.
Từ khoá: Bữa sáng; Dinh dưỡng.
60. Vì sao phải "cân bằng thức ăn"?
Cùng với mức sống được nâng cao, người ta ngày càng ăn uống tươm tất và đủ dinh dưỡng. Không ít bậc bố mẹ cho rằng: thịt nạc, cá, tôm có nhiều dinh dưỡng nên họ thường cho con ăn những thứ ấy. Thực ra cách làm đó chưa khoa học, bởi vì dù là gái trai, già trẻ đều cần phải có sự "cân bằng thức ăn" hợp lí, khoa học, chỉ như thế mới có tác dụng tốt nhất cho sức khoẻ.
Gọi là "cân bằng thức ăn" tức là chủng loại thức ăn phải toàn diện, số lượng phải dồi dào để bổ sung cho nhau. Nói một cách cụ thể, "cân bằng thức ăn" là yêu cầu mỗi ngày phải bảo đảm phối hợp các thức ăn chính như: cá, thịt, trứng, sữa, các loại đậu xanh, đậu vàng, rau xanh và hoa quả tươi. Cách nấu là dùng dầu rán và cho thêm các loại gia vị khác. Vì sao đòi hỏi phải "cân bằng thức ăn"? Đó là vì hoạt động, hấp thu, đào thải của sự sống đòi hỏi được cung cấp các chất dinh dưỡng phong phú, đầy đủ. Nếu cần hồi phục các tổ chức thì cần đến protêin, chế tạo tế bào hồng cầu không những cần protêin mà còn cần đến các chất như sắt, đồng, vv... Những thực phẩm khác nhau chứa các chất dinh dưỡng khác nhau. Có thể nói thành phần dinh dưỡng của bất cứ một loại thực phẩm nào cũng không thể thoả mãn được nhu cầu của con người. Ví dụ trong trứng gà và tim chứa protêin rất dồi dào nhưng không có vitamin C; rau tươi chứa nhiều chất xơ và chất khoáng nhưng nhiệt lượng lại rất thấp; sữa bò chứa protêin và nhôm khá nhiều nhưng không có sắt.
Tóm lại, muốn thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể thì phải kiêm đủ các chất, ăn đủ các loại thức ăn, hơn nữa, tỉ lệ phải thích đáng, thực hiện cho được "cân bằng thức ăn" để tăng thêm sức khoẻ.
Từ khoá: "Cân bằng thức ăn"; Các chất dinh dưỡng.