171. Vì sao phải đề phòng bệnh đau mắt đỏ?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
179. Có Phải Do Hay Ăn Cơm Cháy Mà Bị Viêm Ruột Thừa Không? - 180. Vì Sao Người Bị Bệnh Tiểu Đường Thường Hay Cảm Thấy Đói?

❊ ❊ ❊

Nói chung đau mắt đỏ là chỉ bệnh "viêm kết mạc cấp tính". Bệnh do vi khuẩn hoặc virút gây nên. Bệnh phát rất nhanh, sau khi nhiễm vi khuẩn hoặc virút mấy giờ là bệnh có biểu hiện ngay. Mùa hè nóng bức, vi khuẩn và virút dễ phát triển cho nên có khi gây thành dịch. Một khi bị đau mắt đỏ, từ lúc mắc bệnh đến lúc khỏi ít ra 3 - 4 ngày, nhiều thì 7 - 8 ngày, thậm chí còn dài hơn.

Bệnh này ban đầu mắt thường ngứa, có cảm giác như bị bụi cát, lòng trắng đỏ dần, mí mắt sưng lên, dử mắt nhiều, buổi sáng ngủ dậy hai mí dính đầy dử mắt. Vì ảnh hưởng của dử mắt khiến cho bệnh nhân nhìn mờ, có lúc còn gây đau đầu, đau họng, phát sốt và lòng trắng mắt ứ máu. Nếu bệnh nặng thì nhãn cầu sẽ bị ảnh hưởng, gây viêm làm ảnh hưởng đến thị lực.

Bệnh đau mắt đỏ truyền nhiễm chủ yếu thông qua tiếp xúc tay, khăn mặt, các bồn tắm, bể bơi, vv.. Bệnh đau mắt đỏ hoàn toàn có thể đề phòng được. Phương pháp phòng chủ yếu là tập thành thói quen rửa tay, không dùng tay bẩn hoặc khăn bẩn dụi mắt. Lúc rửa mặt phải dùng nước sạch, khăn sạch, không dùng chung khăn với người bệnh. Khăn mặt phải giặt bằng xà phòng, phơi khô chỗ thoáng gió để bảo đảm sạch sẽ, khô ráo. Bồn rửa mặt phải được giữ sạch sẽ, khăn dùng chung phải được luộc và khử độc.

Một khi bị bệnh đau mắt nên tự giác không đi bơi, không đến những nhà tắm công cộng. Đương nhiên, quan trọng nhất là phải đến bệnh viện điều trị.

Từ khoá: Bệnh đau mắt đỏ; Viêm kết mạc cấp tính.

172. Vì sao "mắt gà chọi" khó tự khỏi?

Người bình thường, hai mắt nhìn một vật, vật thể đó thành ảnh trên võng mạc của cả hai mắt, truyền lên trung khu thị giác não, chập lại làm thành một vật lập thể hoàn chỉnh. Tính năng này gọi là hai mắt thành một cách nhìn. Nhưng trẻ sơ sinh trong quá trình hình thành hai mắt một đường nhìn rất dễ chịu ảnh hưởng của bên ngoài, khiến cho một mắt nhìn vào mục tiêu, còn mắt khác nhìn lệch đi không nhằm vào mục tiêu đó, do đó sinh ra lác mắt. Trong y học khi nhãn cầu nhìn vào vật xiên về phía trong gọi là lác trong, tức như người ta thường gọi "mắt gà chọi".

Vì sao mắt gà chọi là khó tự khỏi? Điều này phải bắt đầu từ các cơ vận động và thần kinh điều tiết nhãn cầu để làm sáng tỏ. Phía ngoài nhãn cầu có 6 cơ mắt, trong điều kiện bình thường khi ta nhìn một vật nào đó cho dù mắt hướng về hướng nào thì sự chuyển động của hai mắt đều song song nhất trí với nhau. Nhưng vì sự co của cơ mắt chịu sự điều tiết của thần kinh cho nên khi xem mục tiêu bên phải hai mắt đều chuyển động sang bên phải, xem mục tiêu bên trái hai mắt đều chuyển sang bên trái, không thể xuất hiện hiện tượng mắt phải nhìn sang phải, mắt trái không nhìn sang phải. Nếu trẻ em hai mắt phát triển không giống nhau, một mắt bình thường còn mắt kia nhìn lên phía trên hoặc bị tán quang, hoặc hai mắt có độ nhìn xa chênh lệch nhau rất lớn; hoặc trẻ em từ nhỏ đã thích chơi những đồ chơi rất nhỏ, hoặc chơi trong điều kiện ánh sáng rất mờ, hoặc những trò chơi phải nhìn gần mắt sẽ khiến cho cơ mắt mất cân bằng, cơ thần kinh mỏi mệt, như vậy sẽ có thể phát sinh bệnh mắt gà chọi. Cho nên mắt gà chọi nếu không được kịp thời uốn nắn sự cân bằng của cơ mắt, sự tê liệt của thần kinh cơ sẽ không tự khỏi. Hơn nữa, vì một mắt bị lác kéo dài nên người bệnh không thể dùng mắt lác này, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của mắt, thậm chí dẫn đến thị lực yếu. Nếu không kịp thời chữa trị thì sau này thị lực khó phục hồi, ngay cả khi mắt lác đã được mổ chữa nhưng thị lực vẫn không phục hồi được. Trẻ em bị bệnh mắt gà chọi chỉ đùng một mắt để nhìn cho nên không có cảm giác lập thể về đồ vật, không thể phân biệt vật xa hay gần. Ví dụ, lúc xâu kim không thể luồn chỉ đúng lỗ; khi dùng bút chấm mực thì không chấm đúng miệng lọ mực, tìm kiếm những vật nhỏ thì khó nhìn, từ đó mà ảnh hưởng đến học tập và làm việc sau này.

Vì vậy khi bố mẹ phát hiện con bị bệnh mắt gà chọi, nhất định phải kịp thời chữa trị. Chữa bệnh sớm không những có thể uốn nắn mà còn khôi phục thị lực. Nếu bỏ lỡ cơ hội, con lớn lên dù làm phẫu thuật cũng khó cải thiện được tình hình và không thể khôi phục thị lực cũng như cảm giác lập thể.

Từ khoá: Mắt lác trong; Cơ mắt.

173. "Chắp mắt" sinh ra như thế nào?

"Chắp mắt" khi mới phát sinh, trên mí mắt sát chân lông mi nổi một điểm đỏ, hình giống hạt gạo. Nó gồm hai loại: chắp nằm bên ngoài mí mắt gọi là chắp ngoài và chắp nằm bên trong mí mắt gọi là chắp trong. Nốt đỏ này sưng lên, sờ vào thì đau, mấy ngày sau vết sưng mở rộng khiến cho cả mí mắt sưng đỏ, mắt khó mở, nghiêm trọng hơn có người còn phát sốt, sau mấy ngày dần dần mưng mủ, da mí mắt vỡ, mủ chảy ra rồi dần dần sẽ khỏi.

Chắp mắt được hình thành như thế nào? Có người nói đó là do "trộm kim khâu" của người khác. Điều này hoàn toàn không có căn cứ. Nguyên nhân chủ yếu là vì không chú ý giữ vệ sinh mắt sạch sẽ. Ví dụ tay bẩn hoặc dùng khăn bẩn lau mắt, khiến cho mí mắt nhiễm vi khuẩn rồi sinh mủ mà bị.

Khi mắc bệnh này, ban đầu có thể dùng khăn ấm để chườm. Mỗi ngày chườm 4 - 5 lần, mỗi lần 10 - 15 phút, vết sưng sẽ dần dần tiêu đi. Nếu vết sưng đỏ không tiêu hoặc xuất hiện mủ màu vàng thì nên nhờ bác sĩ, tuyệt đối không được tự mình xử lí, dùng kim không tẩy trùng hoặc dùng vật khác để khơi mủ, càng không nên dùng lực nặn ép, vì như vậy sẽ làm cho vi khuẩn hoặc virút trong mủ ép vào mạch máu, từ đó mà lan ra khiến thành chứng bại huyết hoặc những biến chứng bất ngờ khác.

Từ khoá: Chắp mắt.

174. Vì sao ở một số vùng, nhân dân dễ bị mắc bệnh bướu cổ?

Ở những vùng rừng núi, hoặc thảo nguyên xa biển, nhân dân thường hay mắc bệnh bướu cổ (trong y học gọi là bệnh "phù tuyến giáp trạng địa phương"). Đó là vì nguyên nhân gì?

Nguyên nhân chủ yếu nhất là trong nước uống, muối ăn, rau xanh và lương thực, thậm chí trong đất đai của những địa phương này hàm lượng iốt rất ít. Iốt là chất không thể thiếu được để tuyến giáp trạng trong cơ thể tổ hợp thành hoocmôn Parathyroid, mà chất này là chất nội tiết tố cực kì quan trọng, tham gia vào hoạt động hấp thu, đào thải của cơ thể. Cơ thể người giống như một cỗ máy vô cùng tinh vi, phức tạp. Khi cơ thể thiếu iốt thì chất tuyến giáp trạng sẽ tiết ra ít đi, lúc đó cơ thể sẽ thông qua chức năng điều tiết của hệ thống thần kinh tự động sản sinh ra "tín hiệu" để kích thích hai bộ phận chủ quản tuyến giáp trạng, đó là đồi não dưới và thuỳ thể hưng phấn. Như vậy lượng tiết ra của chất tuyến giáp trạng sẽ tăng lên, tác dụng vào tổ chức tuyến giáp trạng khiến cho tuyến giáp trạng thay đổi về kết cấu tổ chức, những tế bào tuyến từ hình lập phương biến thành hình hộp to hơn để thích ứng với việc sản xuất và tiết ra càng nhiều hơn hoocmôn Parathyroid. Như vậy mỗi một tế bào của tuyến giáp trạng đều tăng to lên nhiều lần làm cho thể tích tuyến giáp trạng cũng tăng lên. Vì tuyến giáp trạng ở phía trước cổ nên hình thành cái bướu ở cổ gọi là bệnh bướu cổ.

Từ khoá: Phù tuyến giáp trạng có tính địa phương; Thiếu iốt; Hoocmôn Parathyroid.

175. Vì sao trẻ em cũng huyết áp cao?

Nói đến huyết áp cao người ta thường nghĩ đó là bệnh của người già, không liên quan đến trẻ em. Thực ra trẻ em, thậm chí trẻ sơ sinh không những mắc bệnh huyết áp cao mà tỉ lệ mắc bệnh này ngày càng có xu hướng tăng lên. Kết quả thống kê của nhiều tài liệu nghiên cứu, cho thấy trẻ em mắc bệnh huyết áp cao chiếm khoảng 3% tổng số trẻ em. Quan trọng hơn là rất nhiều người lớn có bệnh huyết áp cao có căn nguyên từ thời trẻ nhỏ.

Vậy vì sao trẻ em cũng mắc bệnh huyết áp cao. Các bác sĩ cho biết, bệnh huyết áp cao của trẻ em có thể chia thành hai loại: một loại là kế phát của một số bệnh nào đó, như dụ viêm thận cấp tính, viêm mạch máu thận biến chứng. động mạch chủ bụng bị hẹp và một số bệnh nội tiết, vv.. Một loại khác có liên quan đến yếu tố di truyền, béo phì hoặc bị căng thẳng, vv.., Loại huyết áp cao thứ hai rất dễ phát triển thành bệnh huyết áp cao. Vì vậy phải biết phát hiện sớm những nhân tố nguy hiểm gây nên bệnh huyết áp cao để đề phòng và khống chế sự phát sinh và phát triển của bệnh.

Từ khoá: Cao huyết áp.

176. Vì sao người bị bệnh tim, môi lại bị tím?

Trong cơ thể có hai loại máu. Một loại gọi là máu động mạch, một loại là máu tĩnh mạch. Máu động mạch vì chứa oxi cao nên màu đỏ tươi; máu tĩnh mạch chứa CO2 nên màu hơi đen. Cơ thể thông qua máu động mạch đưa oxi đến khắp các cơ quan làm cho cơ thể hoạt động bình thường. Khi oxi đã bị tiêu hao hết thì máu động mạch sẽ trở thành máu tĩnh mạch. Sau đó máu tĩnh mạch phải thông qua trao đổi khí ở phổi để bổ sung oxi, mới có thể cung cấp cho cơ thể. Trong quá trình này quả tim đóng vai trò rất quan trọng, nó giống như cái bơm không ngừng bơm ra máu động mạch mang nhiều oxi đi khắp toàn thân và thu hồi máu trong tĩnh mạch để đưa lên phổi, tiến hành trao đổi khí, chuyển máu tĩnh mạch thành máu động mạch trở về tim. Cứ thế lặp đi lặp lại hình thành tuần hoàn máu để cơ thể hoạt động bình thường, cuộc sống mới duy trì được tốt. Một khi tim mắc bệnh thì chức năng bơm sẽ giảm yếu hoặc mất đi, ảnh hưởng đến tuần hoàn máu.

Tim có hai tâm nhĩ và hai tâm thất, phân biệt gọi là tâm nhĩ trái và tâm thất trái, tâm nhĩ phải và tâm thất phải. Chúng giống như bốn gian phòng. Giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái thông với nhau, trong đó đều là máu động mạch, giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải cũng thông với nhau, trong đó đều là máu tĩnh mạch. Trong trường hợp bình thường, tâm nhĩ trái và tâm nhĩ phải, tâm thất trái và tâm thất phải không thông với nhau, nhưng có một số bệnh nhân do tim bị tổn thương nên vách ngăn giữa hai bên xuất hiện lỗ thủng nhỏ, như vậy hai bên liên thông với nhau cho nên máu tĩnh mạch vốn ở tâm nhĩ phải và tâm thất phải sẽ lẫn sang máu động mạch. Khi đó hàm lượng oxi trong máu sẽ thấp đi. Chúng đi theo động mạch đến khắp cơ thể, cho nên môi của bệnh nhân có màu đậm hơn so với người bình thường, thậm chí có màu tím.

Môi màu tím không những xuất hiện ở người bệnh tim, nếu phổi trao đổi khí không tốt, hoặc khi cơ thể bị lạnh nặng, máu cung cấp không tốt cũng sẽ xuất hiện môi tím.

Từ khoá: Bệnh tim; Máu động mạch; Máu tĩnh mạch.

177. Vì sao khi bị lạnh thường hay ỉa chảy?

Dù mùa hè hay mùa đông, nếu bị lạnh có thể sẽ bị ỉa chảy. Người đi ỉa chảy vì bị lạnh khác với người bị ngộ độc thức ăn, viêm ruột, kiết lị do vi khuẩn hoặc lị amip. Đi ỉa chảy vì bị lạnh có hai đặc điểm: một là bụng sôi liên tục, kèm theo đau từng cơn; hai là nước phân đi ngoài không vón từng cục mà là nước loãng kèm cặn bã thức ăn chưa tiêu hoá hết.

Lạnh giá là một loại kích thích khá mạnh. Khi cơ thể bị lạnh, đặc biệt là bụng dưới bị lạnh thì nhu động của ruột tăng lên. Kết quả của nhu động tăng lên khiến cho những chất thức ăn trong ruột chưa được tiêu hoá hết hoặc chưa được hấp thu, cũng như một lượng lớn thành phần nước sớm bị đào thải ra ngoài. Cho nên khi bụng kêu liên tục, đau co thắt từng cơn sẽ đi ra phân lỏng. Do đó, bình thường ta nên giữ ấm, nhất là giữ ấm phần bụng. Mặc dù về mùa hè, đêm ngủ tốt nhất nên dùng vải mỏng đắp kín phần bụng, nếu không dễ bị đi chảy.

Từ khoá: Bị lạnh; Sôi bụng.

178. Bệnh đau dạ dày có truyền nhiễm không?

Mọi người đều biết viêm gan, lao phổi đều là bệnh truyền nhiễm, nhưng nói đau dạ dày cũng truyền nhiễm thì cảm thấy không tin. Thực ra đó là một phát hiện mới của y học trong những năm gần đây.

Nói chung người ta gọi viêm dạ dày, loét dạ dày và loét tá tràng là bệnh dạ dày. Ngày nay đã phát hiện bệnh đau dạ dày liên quan với một loài vi khuẩn là trực khuẩn xoắn ốc. Khoảng 50 - 95% bệnh nhân đau dạ dày đều nhiễm loại vi khuẩn này. Do đó loài vi khuẩn này là thủ phạm đứng đầu gây ra bệnh dạ dày. Trực khuẩn xoắn ốc sống trong dạ dày người và động vật cao cấp, nó cũng truyền nhiễm giống như các loài vi khuẩn khác.

Kết quả nghiên cứu chứng tỏ loài vi khuẩn này có thể truyền qua thức ăn. Trong những người dùng chung dụng cụ ăn uống, tỉ lệ bị nhiễm loài vi khuẩn này rất cao. Các bác sĩ đã kiểm tra các bệnh nhân dạ dày mang vi khuẩn này và phát hiện trong bựa răng, nước bọt và những chất họ nôn ra đều có, trong phân của họ cũng có loại vi khuẩn này.

Từ đó có thể thấy, bệnh dạ dày cũng là loại bệnh truyền nhiễm. Do đó muốn đề phòng bệnh dạ dày thì phải tránh lây nhiễm loài vi khuẩn trên, nên tránh dùng chung bát đũa và không nên ăn rau sống, nên tạo thành thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đại tiện. Ngoài ra, khi ăn nên dùng bát đũa riêng.

Từ khoá: Truyền nhiễm; Trực khuẩn xoắn ốc.

179. Có phải do hay ăn cơm cháy mà bị viêm ruột thừa không?

Trước kia người ta thường gọi viêm ruột thừa là viêm mãng tràng, vì cho rằng ăn cơm cháy hạt cơm rơi vào mãng tràng rồi sinh ra viêm ruột thừa. Thực ra cách giải thích như vậy là không đúng.

Trên thực tế, ruột thừa là một đoạn nhỏ giống như con giun nằm bên ngoài mãng tràng. Sở dĩ nó dễ viêm, chủ yếu không phải là do ăn cơm cháy mà là vì ruột thừa rất nhỏ, rất dễ bị sỏi hoặc trứng kí sinh trùng làm tắc, hơn nữa ruột thừa nhỏ và dài nên khi di động dễ bị xoắn. Ngoài ra, các động mạch của ruột thừa là phần cuối, không có nhánh tuần hoàn, nếu ruột thừa nối với mãng tràng bị tắc thì những chất nội tiết trong niêm mạc ruột thừa sẽ không đào thải ra được, áp lực trong ruột thừa sẽ tăng cao, khiến cho máu trong thành ruột thừa không tuần hoàn được. Nếu dinh dưỡng không tốt thì các vi khuẩn gây bệnh trong ruột sẽ nhân cơ hội xâm nhập vào ruột thừa, gây nên viêm nhiễm.

Một khi viêm ruột thừa, triệu chứng chủ yếu là đau bụng. Ban đầu thường đau ở phần bụng hoặc xung quanh rốn, rất giống đau dạ dày. Mấy giờ sau vùng đau chuyển dần sang bên phải bụng dưới. Sự chuyển dời này là đặc điểm của viêm ruột thừa cấp tính, khoảng 70 - 80% bệnh nhân đều có triệu chứng điển hình này.

Mức độ đau nặng hay nhẹ chủ yếu do mức độ viêm quyết định.

Người viêm ruột thừa ngoài đau bụng ra, còn thường kèm theo chứng nôn mửa.

Nếu dùng tay sờ bụng thì còn mềm, chỉ có phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) ấn thì đau, nhiệt độ thường không cao. Điều đó có nghĩa là viêm ruột thừa còn nhẹ, thuộc về chứng viêm ruột thừa đơn thuần. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử hoặc đã thủng thì bụng đau rất dữ dội, phạm vi sờ đau rộng, đồng thời kèm theo sốt cao, khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng, hoặc là phía bên phải bụng dưới sờ thấy cục cứng. Tóm lại, cho dù viêm nặng hay nhẹ, một khi đã phát hiện bị viêm ruột thừa thì nên đến bệnh viện để điều trị ngay.

[Từ khoá: Ruột thừa; Mãng tràng.]1

180. Vì sao người bị bệnh tiểu đường thường hay cảm thấy đói?

Trong một bộ phim nước ngoài có tình tiết sau: buổi tối một em bé gái nhân lúc gia đình đã đi ngủ lén xuống nhà ăn lấy, ăn để. Khi bị người nhà phát hiện và ngăn lại thì cô ta còn giật một miếng thịt nhét vào miệng. Có phải đó là cô bé bị ngược đãi không? Không phải. Cô ta là con cưng của một nhà giàu, vì cô ấy bị bệnh tiểu đường nên rất dễ đói. Vậy vì sao bệnh tiểu đường lại như thế? Muốn hiểu được điều này phải bắt đầu bàn về nguyên nhân cơ bản của bệnh tiểu đường. Nói một cách dễ hiểu thì bệnh tiểu đường là loại bệnh đường trong nước tiểu quá cao. Chức năng hấp thu và đào thải của đường trong cơ thể là do sự điều tiết của tuyến tuỵ. Có người vì thiếu insulin nên sự hấp thu đường bị trở ngại. Phần đường "thừa ra" sẽ bài tiết theo nước tiểu. Như vậy tổ chức tế bào của cơ thể sẽ không thể lợi dụng đường gluco để sản sinh ra năng lượng cần thiết, vì vậy người bị bệnh tiểu đường luôn rơi vào trạng thái đói, luôn muốn được bổ sung thức ăn. Nhưng người bị bệnh tiểu đường lại không thể hấp thu và lợi dụng tốt đường trong thức ăn, kết quả gây ra hiện tượng luôn luôn cảm thấy đói.

Người bị bệnh tiểu đường không những có bệnh ăn nhiều mà còn uống nhiều và đi tiểu nhiều, trọng lượng giảm. Có người gọi bệnh tiểu đường là "bệnh ba nhiều, một ít". Vì đường không được sử dụng đầy đủ, khi đường bị thải cùng với nước tiểu thì sẽ mang luôn cả thành phần nước. Do đó uống nhiều có liên quan với đi tiểu nhiều, đi tiểu nhiều khiến cho cơ thể mất nước cho nên luôn thấy khát. Vì người bị bệnh tiểu đường không thể sử dụng đầy đủ hàm lượng đường trong thức ăn, nên chỉ có thể chuyển hoá mỡ và protêin trong cơ thể thành đường, do đó gây nên người ngày càng gầy đi.

Nguyên nhân cơ bản sinh bệnh tiểu đường là insulin không đủ, cho nên có thể bằng phương pháp tiêm insulin để chữa bệnh tiểu đường. Đương nhiên, những bệnh nhân còn nhẹ chỉ cần khống chế ăn uống là có thể điều chỉnh được.

Từ khoá: Bệnh tiểu đường; Insulin.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.