11. Vì sao tự mình cù sẽ không cảm thấy buồn cười?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19. Vì Sao Khi Miệng Vết Thương Sắp Lành Thường Cảm Thấy Ngứa? - 20. Vì Sao Miệng Vết Thương Gặp Phải Chất Mặn Thì Có Cảm Giác Xót?

❊ ❊ ❊

Trên mặt da của ta có nhiều điểm đau, điểm nóng, nhưng không có điểm buồn cười, tuy nhiên người ta vẫn thường cảm thấy buồn cười.

Thực ra, ta không chỉ cảm thấy buồn cười mà có lúc còn bị "buồn cười" làm cho khốn khổ, thậm chí đứng ngồi không yên. Muỗi, rận, rệp cắn gây ngứa đã đành, khi chúng bò trên người cũng khiến cho ta cảm thấy buồn cười và khó chịu. Người khác đột nhiên cù vào người ta cũng khiến cho ta cảm thấy buồn.

Vì sao ta lại cảm thấy buồn? Sau khi cảm thấy buồn lại hay cười? Có người cho rằng, buồn là do các điểm đau bị kích thích nhè nhẹ gây nên. Chỉ cần kích thích nhè nhẹ, liên tục vào điểm đau, gây tín hiệu truyền lên đại não sẽ khiến ta cảm thấy buồn, sau đó phát cười lên. Nhưng ngày nay, nhiều nhà khoa học đã đưa ra cách giải thích mới đối với hiện tượng buồn và phát cười này. Họ cho rằng: cù là một động tác tác động nhẹ, có nhịp điệu lên da. Cảm giác của đại não đối với động tác này giống như là sắp rơi vào một sự nguy hiểm nào đó. Ví dụ sự nguy hiểm này giống như là có một côn trùng độc hại, thậm chí là một con rắn độc đang bò trên da, một khi phát hiện được, thực ra sự việc không phải là như thế thì phản xạ lo sợ tức thời trong đại não bị mất đi, do đó lại cảm thấy yên tâm và bỗng cười oà lên. Cù càng nhiều thì cảm giác sợ hãi ban đầu càng mạnh, tiếng cười sau đó càng to, càng dài.

Vậy vì sao khi ta tự cù lên người lại không cảm thấy buồn? Đó là vì tự cù thì trong ý thức đã biết trước, tức là đã có sự chuẩn bị. Khi đại não phát lệnh cho tay cù thì đồng thời cũng phát tín hiệu không có cảm giác nguy hiểm thì thần kinh sẽ không căng thẳng nữa, cho nên không thể gây cười.

Từ khoá: Cù; Điểm đau.

12. Vì sao nói da là cơ quan lớn nhất của cơ thể?

Bề mặt cơ thể của ta, ngoài miệng, mắt và những lỗ khác ra, đều được da che phủ. Diện tích mặt da của một người bình thường ở lứa tuổi trưởng thành khoảng 1,5 - 2 m2, trọng lượng da chiếm khoảng 16% trọng lượng cơ thể. Tầng trên của da là lớp biểu bì rồi đến da trong, các tổ chức dưới da của tầng dưới gắn liền với các tổ chức khác trong cơ thể. Lông, tóc, móng tay, móng chân, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn là những cơ quan phụ của da. Chúng cùng kết hợp với nhau khiến cho da trở thành một cơ quan có nhiều chức năng.

Da của cơ thể mềm như một màng trắng tự nhiên, bảo vệ các tổ chức và các cơ quan trong cơ thể tránh hiện tượng kích thích và gây tổn thương do bên ngoài. Da gồm có lớp cơ gốc ngoài cùng chứa chất keo, rồi đến lớp cơ có tính đàn hồi và cuối cùng là lớp mỡ dưới da, dai và giàu tính đàn hồi, mềm nhưng có sức căng, khiến cho da chịu được cọ xát, co kéo, đè nén, va đập và chấn động. Tế bào da được tổ chức dày đặc, liên kết chặt chẽ với nhau, bề mặt da được che phủ bởi một lớp mỡ cực mỏng khiến cho da có tính axit yếu. Chất này ngăn cản có hiệu quả các vi khuẩn, độc tố bệnh từ mặt da xâm nhập vào cơ thể, còn đề kháng được sự phân cực của các chất hoá học khác. Da có thể ngăn ngừa nước trong cơ thể không thoát ra ngoài, khiến cho con người chịu đựng được môi trường bên ngoài, đồng thời cũng có thể ngăn ngừa nước từ bên ngoài thẩm thấu vào cơ thể, cho nên ta có thể tắm dưới nước mà không bị nước ngấm vào da. Các tế bào sắc tố đen và các hạt màu đen trong da có khả năng hấp thụ tia tử ngoại, làm cho ta tránh được sự tổn thương do ánh nắng Mặt Trời gây nên.

Giống như mắt, tai, mũi, lưỡi, da cũng là một cơ quan cảm giác của cơ thể. Nó không ngừng cảm nhận mọi sự biến đổi phát sinh ở bên ngoài, khiến cho ta hiểu được chính xác môi trường chung quanh. Khi tìm đồ vật, cơ quan xúc giác sẽ làm cho ta biết được đã đụng vào đồ vật đó chưa, khi thời tiết biến đổi, cảm nhận về độ nóng sẽ cho ta biết nóng hay lạnh. Các cơ quan cảm giác trong da và đầu cuối thần kinh thông qua hệ thần kinh truyền những tín hiệu khác nhau lên đại não. Đại não sau khi phân tích và tổng hợp sẽ đi đến những cảm giác phức hợp rất đa dạng và kì diệu về nóng lạnh, đau ngứa, mềm cứng, thô mịn, vv... Cơ thể nếu thiếu cảm giác này thì khó mà tránh được những tổn thương do ngoại giới gây ra.

Da còn là "bộ máy" bảo vệ nhiệt độ ổn định của cơ thể. Khi thân nhiệt quá cao, các mạch máu da sẽ giãn ra, nhiệt độ da tăng cao, mồ hôi ra nhiều, giúp tản nhiệt tốt. Khi trời lạnh, mạch máu da co lại, mồ hôi không tiết ra để duy trì sự ổn định của nhiệt độ cơ thể.

Da thông qua tuyến bã nhờn và tuyến mồ hôi để bài tiết mỡ và mồ hôi. Mỡ ngăn ngừa cho da không bị khô nẻ và làm nhuận lông, da. Bài tiết mồ hôi ngoài việc làm giảm thấp thân nhiệt còn có thể đào thải chất độc. Da còn có chức năng hô hấp. Người ta dùng thuốc bôi ngoài bôi lên da là dựa theo nguyên lí này.

Thực ra, chức năng của da không chỉ có thế, cho nên da không những có diện tích lớn, trọng lượng nhiều mà còn có những chức năng đa dạng mà các cơ quan khác không thể so sánh được. Do đó da được mệnh danh là cơ quan lớn nhất trong cơ thể cũng không có gì là nói quá.

Từ khoá: Da; Khí quan cảm thụ; Tuyến mỡ; Tuyến mồ hôi.

13. Vì sao màu da, tóc và mắt người phương Đông khác người phương Tây?

Loài người sinh sống trên Trái Đất có màu da khác nhau. Nói chung người Châu á da vàng, người Châu Phi da đen, người Châu Âu da trắng. Trong đó còn có một quy luật rất thú vị, đó là trên đại lục á - Âu, đặc biệt là Châu Âu, càng đi về phía Nam thì màu da càng đậm.

Vì sao con người lại có màu da khác nhau? Ngày nay người ta đã biết được đó là do số lượng các sắc tố đen trong da quyết định. Người Châu Âu sắc tố đen ít nên màu da rất nhạt; người Châu Phi sắc tố đen rất cao nên da màu đen hoặc màu nâu đen; người da vàng lượng sắc tố đen nằm giữa hai loại người trên nên da màu vàng. Các nhà khoa học cho biết: màu da của người là kết quả thích ứng với môi trường trong quá trình tiến hoá lâu dài mà hình thành nên. Tia tử ngoại của ánh nắng có thể giúp cơ thể hợp thành vitamin D, tăng thêm sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật.

Tia tử ngoại nhiều quá hay ít quá đều không tốt cho cơ thể, còn sắc tố màu đen giống như một cái "dù" để che ánh nắng, có tác dụng ngăn ngừa tia tử ngoại xâm nhập vào cơ thể. Do đó người Châu Phi sống ở vùng vĩ độ thấp, sắc tố màu đen trong da nhiều lên cho nên da dần dần biến thành màu đen; người Châu Âu sống ở vùng vĩ độ cao, không bị ánh nắng Mặt Trời chiếu mạnh, để hấp thụ được nhiều tia tử ngoại hơn, da của họ dần dần biến thành màu trắng; còn người da vàng nói chung sống ở vùng ôn đới nên màu da tương đối nhạt.

Tóc của con người cũng có nhiều màu, có tóc đen, tóc vàng, tóc nâu, vv... Nhìn chung, người da vàng tóc đen nhánh, người da trắng tóc bạch kim. Giống như màu da, màu tóc sở dĩ khác nhau cũng là do số lượng sắc tố đen trong tóc nhiều hay ít. Sắc tố đen nhiều sẽ là tóc đen, sắc tố đen ít là tóc vàng. Màu tóc khác nhau cũng là một chứng minh về sự thích ứng đối với môi trường của con người. Người phương Tây sống ở vùng lạnh, ánh sáng yếu, còn người phương Đông sống ở vùng nắng nhiều, do đó sắc tố đen trong tóc nhiều, có lợi cho việc ngăn ngừa sự chiếu xạ của tia tử ngoại trong ánh nắng Mặt Trời.

Chỉ cần chú ý quan sát, bạn cũng sẽ phát hiện thấy màu mắt của người phương Đông và người phương Tây có khác nhau. Mắt người phương Đông màu nâu hoặc màu đen, mắt người phương Tây ngược lại là màu lam nhạt hoặc màu sáng. Điều đó nguyên nhân vì đâu? Trên thực tế, màu mắt chính là màu của củng mạc. Củng mạc là màng nửa hình cầu. Sắc tố màu đen trên củng mạc nhiều hay ít sẽ quyết định màu sắc của nhãn cầu.

Người phương Đông hoặc người Châu Phi, Châu Mĩ là tinh sắc tố màu đen trên củng mạc tương đối nhiều, cho nên nhãn cầu mang màu đen hoặc màu vàng nâu; người da trắng phương Tây sắc tố đen trên củng mạc ít, ở đó mạch máu nhiều, do đó nhãn cầu có màu lam nhạt hoặc màu xám, cũng giống như trường hợp thông qua màu da trắng mà có thể thấy được các mạch máu li ti ở dưới da.

Từ khoá: Màu da; Tóc; Nhãn cầu; Sắc tố đen; Củng mạc.

14. Vì sao trẻ em nên tắm nắng nhiều?

Ánh nắng Mặt Trời có ảnh hưởng rất đa dạng đến sức khoẻ của cơ thể. Ví dụ, ánh nắng chiếu lên da khiến cho các mạch máu dưới da giãn nở, huyết lưu thông mạnh, có lợi cho bài tiết các chất độc, tăng cường sức đề kháng của da, đồng thời còn khiến cho nước bọt và dịch vị tăng lên, ruột nhu động tốt, giúp bạn ăn ngon hơn và tiêu hoá tốt hơn. Quan trọng hơn là dưới sự chiếu xạ của ánh nắng, da có thể tạo ra vitamin D. Như ta đã biết: canxi và photpho đều là những thành phần chủ yếu của xương. Sự hấp thụ canxi phải dựa vào vitamin D. Nếu thiếu vitamin D, canxi không thể được hấp thụ, khiến xương phát triển không tốt. Vì ta có quá nhiều dịp tiếp xúc với ánh nắng Mặt Trời nên thường không nghĩ đến tầm quan trọng của nó đối với sức khoẻ, cũng giống như ta sống trong không khí nên không cảm thấy không khí là quan trọng.

Vì sao trẻ em càng cần được tắm nắng? Lí do rất đơn giản, trẻ em càng bé, tốc độ phát triển của cơ thể càng nhanh. Khung xương là cái giá đỡ trọng lượng toàn thân, vì vậy, khung xương cần phải đáp ứng nhu cầu phát triển của các bộ phận trong cơ thể. Canxi là nguyên liệu quan trọng nhất để tạo nên khung xương, cơ thể phải nhờ vào vitamin D mới hấp thụ được canxi. Nếu thiếu ánh nắng Mặt Trời thì không thể nào hợp thành vitamin D, tất yếu sẽ mắc bệnh còi xương.

Có người cho rằng: ánh nắng Mặt Trời có thể vào nhà qua cửa kính, tức là trẻ em không cần tắm nắng ngoài trời. Thực ra, cửa kính chỉ để cho những tia nắng không quan trọng thông qua, còn tia tử ngoại trong ánh nắng Mặt Trời - nhân tố có thể tạo ra vitamin D, sẽ bị ngăn lại ngoài cửa kính. Cho nên trẻ em nếu sống trong phòng tối tăm, ảm đạm lâu ngày, tuy vẫn có thiết bị để chế tạo vitamin D là da, nhưng nếu không được tiếp xúc với ánh nắng Mặt Trời thì cũng vô ích. Tuy ta có thể dùng phương pháp uống dầu cá, ăn rau tươi, trứng, thịt để bổ sung vitamin D, nhưng dù sao cũng vẫn không tốt bằng để cho cơ thể tự tạo ra vitamin D.

Từ khoá: Da; ánh nắng; Vitamin D; Bệnh còi xương.

15. Vì sao vân tay mỗi người không giống nhau?

Vân tay là do gien di truyền quyết định. Một khi vân tay đã hình thành sẽ trở thành dấu hiệu suốt đời không thay đổi của một người. Đã từng có người vì một nguyên nhân riêng nào đó muốn tìm cách thay đổi vân tay. Họ dùng các phương pháp như gây bỏng, dùng dao cắt, thậm chí dùng thuốc hoá học để làm biến đổi da, nhưng sau khi vết thương lành, thì vân tay vẫn không thay đổi.

Vân tay do những vân dài ngắn, có hình dạng và độ thô mịn khác nhau cấu tạo nên. Thường vân tay chia thành ba loại: hình tròn, hình bàn cờ và hình vòng cung. Vân tay người Trung Quốc phần nhiều hình tròn, chiếm khoảng 51%; vân tay hình bàn cờ chiếm khoảng 47%, hình cung chiếm khoảng 2%. Cho dù là vân hình tròn, hình bàn cờ hay hình vòng cung thì đều là do tính di truyền của mỗi người quyết định, nó hoàn toàn không liên quan đến hoạ phúc, vận mệnh.

Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, các nhà khoa học đã có thể căn cứ vào vân ngón tay, vân bàn tay và vân bàn chân để chẩn đoán bệnh. Vân tay do các nhiễm sắc thể của di truyền quyết định, do đó nếu nhiễm sắc thể của bố hoặc mẹ có bệnh thì con cái sinh ra sẽ có bệnh đó. Ví dụ một em bé có bệnh bẩm sinh thì vân tay của em bé đó sẽ khác thường. Từ vân tay có thể xem được quy luật di truyền và dấu tích của một số bệnh nào đó, đó là điều có cơ sở khoa học.

Sau khi máy tính ra đời, việc nghiên cứu vân tay đã có một bước phát triển mới, phạm vi ứng dụng cũng ngày một rộng hơn. Ngày nay các nhà khoa học đã nghiên cứu ra một loại "chìa khoá vân tay". Loại chìa khoá này chính là vân tay người, khi mở cửa chỉ cần dùng ngón tay ấn vào một phím trên máy tính đặt ở cửa, máy tính sẽ tiếp thu tín hiệu vân tay, nó sẽ phân biệt được một cách chính xác và nhanh chóng để biết người mở cửa có đúng là chủ nhân không. Nếu đúng là chủ nhân thì lập tức cửa sẽ mở.

Từ khoá: Vân tay; Chẩn bệnh bằng vân tay; Nhiễm sắc thể.

16. Vì sao ai cũng đều có lỗ rốn ở bụng?

Mỗi người ở bụng đều có một lỗ rốn. Lỗ rốn này đã xuất hiện như thế nào?

Thai nhi được hình thành và phát triển trong bụng mẹ. Lúc đó thai nhi tuy có mũi nhưng không thở được, có miệng nhưng không ăn được. Sự sống của thai nhi cần đến oxi và các chất dinh dưỡng. Thông qua dây rốn, thai nhi sẽ nhận được các thứ đó. Dây rốn nối liền bụng của thai nhi với nhau trong cơ thể mẹ. Người mẹ thông qua dây rốn này để cung cấp dinh dưỡng và oxi cho thai nhi.

“Chín tháng mang thai, đẻ một giờ". Sau khi thai nhi ra đời thì nhau và rốn sẽ mất đi vai trò của nó. Bác sĩ sản khoa dùng kéo cắt dây rốn ở trên thân thai nhi. Trên dây rốn không có thần kinh cảm giác, vì vậy lúc cắt, thai nhi không bị đau. Sau sinh mấy ngày, đoạn dây rốn sẽ rụng đi và để lại mãi mãi trên bụng đứa trẻ một dấu tích, đó chính là lỗ rốn.

Từ khoá: Dây rốn; Nhau.

17. Ăn xì dầu có khiến cho da đen hơn không?

Có một số người lo rằng: ăn xì dầu sẽ làm cho da đen thêm. Do đó họ không dám ăn nhiều xì dầu, thậm chí kiêng hẳn.

Sắc tố da của cơ thể mỗi chỗ một khác nhau: có chỗ màu trắng sữa, có chỗ màu vàng, có chỗ màu phớt hồng, có chỗ màu đỏ tím hoặc màu tím đen. Da của cơ thể bình thường chủ yếu do số lượng sắc tố đen và vị trí phân bố của chúng quyết định. Sắc tố đen là loại sắc tố màu nâu đen, phân bố rộng rãi trong động, thực vật và cơ thể người. Sắc tố đen trên da người da đen rất nhiều, từ lớp nền cho đến bề mặt da đều là sắc tố đen. Sắc tố đen trong da người da vàng chủ yếu phân bố ở lớp nền. Người da trắng giống như người da vàng, nhưng số lượng sắc tố đen càng ít hơn. Trong cơ thể người, sắc tố đen là do một loại tế bào màu đen hợp thành và tiết ra. Trên thế giới, con người tuy màu da khác nhau, nhưng số lượng tế bào màu đen trong da tương đối giống nhau. Do đó nguyên nhân căn bản gây nên màu da khác nhau là ở sự khác biệt về độ hoạt động của các tế bào sắc tố đen, tức là mỗi tế bào sắc tố đen có thể sản sinh ra được bao nhiêu sắc tố đen.

Ở những vị trí khác nhau trên da người, số lượng tế bào màu đen không giống nhau. ở mặt, núm vú, nách, và bộ phận sinh dục, số lượng tương đối nhiều, mỗi milimét vuông có khoảng 2000 tế bào màu đen, do đó màu da ở các vùng đó khá đậm; còn tế bào màu đen ở những vị trí khác chỉ bằng một nửa trên đây, nên màu da nhạt hơn nhiều.

Sắc tố đen là do loại axit amin - tyrosin không màu dưới tác dụng xúc tác của men tyrosin dần dần hình thành nên. Men tyrosin ở vùng nào hoạt bát thì màu da ở vùng đó sẽ rất đậm. Ngược lại, vùng nào độ hoạt bát của men tyrosin bị khống chế thì màu da chỗ đó sẽ nhạt hơn.

Sự hình thành sắc tố đen là một quá trình vô cùng phức tạp. Có một số chất trong cơ thể có tác dụng khống chế men tyrosin, nhưng tia tử ngoại trong ánh nắng Mặt Trời lại khiến cho men tyrosin trở nên hoạt bát, từ đó làm tăng thêm số lượng sắc tố đen trong da. Phơi nắng nhiều sẽ khiến cho da đen là do nguyên nhân đó. Ngoài ra, những người suy dinh dưỡng lâu ngày cũng khiến cho sắc tố đen hình thành, làm cho da đen hơn. Khi thiếu vitamin A cũng khiến cho sắc tố đen nhiều hơn.

Sau khi biết rõ nguyên nhân này, chúng ta thử nhìn lại xem xì dầu có gây ra cho da đen hơn không. Như ta đã biết, xì dầu là được chế ra từ đậu nành và bột mì. Đó là một loại gia vị có giá trị dinh dưỡng, trong đó chứa nhiều thành phần như protêin, axit amin, đường, axit hữu cơ và muối, cùng với một số vi lượng photpho, canxi, sắt, vv... Những thành phần hoá học này không làm tăng thêm sắc tố đen. Do đó có thể thấy ăn nhiều xì dầu không ảnh hưởng gì đến độ đen hay trắng của da. Vì vậy, những người lo ăn xì dầu da đen nên yên tâm.

Từ khoá: Màu da; Sắc tố đen; Tyrosin; Men tyrosin.

18. Vì sao trẻ em mùa hè hay nổi rôm?

Mỗi lần mùa hè đến, bạn thường thấy trên mình và mặt một số trẻ em nổi rôm. Trong y học, rôm là những nốt mẩn đỏ, phát sinh khi trời oi bức. Nó là do mồ hôi quá nhiều nhưng không được bài tiết thuận lợi, khiến cho da chỗ miệng tuyến mồ hôi phát sinh viêm cấp tính.

Bạn đã chú ý quan sát quy luật phát sinh rôm chưa? Khi trời nóng không chắc đã có rôm, chỉ khi trời vừa nóng, vừa oi, vừa ẩm ướt, những giọt mồ hôi trên người như đọng lại không thoát ra được vì các tuyến mồ hôi bị các chất cáu bẩn bao bọc làm viêm, thế là hình thành những đám rôm. Khi bạn mặc quần áo rộng, mềm, rôm ít xuất hiện, nếu áo quần dày nặng, không thông thoáng sẽ dễ nổi rôm. Những em bé người béo, hay khóc, hoặc người ốm cũng dễ bị nổi rôm.

Có phải những người ra nhiều mồ hôi đều mọc rôm không? Không phải thế. Sự thực là những ngày trời nóng nhất cũng có rất nhiều người không bị nổi rôm. Ví dụ vận động viên thường tập dưới ánh nắng gay gắt nhưng họ đều không có rôm. Ra mồ hôi chỉ là một trong những nguyên nhân gây nổi rôm. Tình trạng sức khoẻ không tốt, sức đề kháng của da yếu mới là nguyên nhân chủ yếu nổi rôm.

Vậy làm thế nào để bảo đảm cho da khoẻ và tăng thêm sức đề kháng của da? Trước hết phải tắm rửa thường xuyên, bảo đảm cho da sạch sẽ. Trên mặt da có hàng nghìn, hàng vạn lỗ chân lông, đó đều là "máy hô hấp" của da. Lâu ngày không tắm, cáu bẩn lấp lỗ chân lông, khiến cho da "ngạt thở". Vì thế sau một thời gian dài không tắm sẽ cảm thấy người không thoải mái.

Ngoài ra, phơi nắng nhiều và tắm nước lạnh cũng có thể tăng thêm sức đề kháng của da. Mùa hè nên mở cửa phòng để gió thoáng mát, ít ra mồ hôi, mặc quần áo mềm nhẹ, rộng cũng có thể tránh được nổi rôm.

Từ khoá: Rôm; Nốt mẩn đỏ; Lỗ chân lông; Mồ hôi.

19. Vì sao khi miệng vết thương sắp lành thường cảm thấy ngứa?

Người bị thương, khi miệng vết thương sắp khép kín thường cảm thấy ngứa.

Người già nhân đó hay nói: "Không can gì, đó là vết thương sắp khỏi". Quy luật chung quả thật là như thế. Khi miệng vết thương phát ngứa thì sau đó vết thương sẽ lành. Cho nên người ta lấy hiện tượng ngứa làm tín hiệu để biết vết thương sắp khỏi. Nhưng không phải tất cả các vết thương đều như thế.

Da của người có nhiều lớp, ở đáy của lớp biểu bì có một tầng tế bào gọi là tầng phát sinh, sức sống của tầng tế bào này giống như mầm non của cây cỏ, nó không ngừng sinh sôi nảy nở. Khi vết thương trên da không sâu thì nhờ tầng này mà lành mau. Trong quá trình tế bào sinh sôi, vì miệng vết thương không sâu nên thần kinh không bị kích thích, do đó không có cảm giác ngứa, vết thương sau khi lành cũng không để lại sẹo. Nhưng khi vết thương sâu và rộng làm cho lớp da trong bị tổn thương thì trong quá trình miệng vết thương khép kín sẽ hình thành những tổ chức mới, gọi là tổ chức kết đế, đó là những mầm thịt mọc ra xung quanh miệng vết thương. Những mạch máu mới được mọc ra ở lớp kết đế này, bởi vì dày đặc và mọc nhanh nên rất dễ chèn ép và kích thích những tế bào thần kinh mới mọc. Ngứa là cảm giác các tế bào thần kinh ở đó bị kích thích nhẹ. Tế bào thần kinh rất nhạy cảm, đặc biệt là tế bào thần kinh mới, chỉ cần bị kích thích nhẹ là đã cảm thấy ngứa.

Năng lực tái sinh của các tổ chức trong cơ thể không giống nhau. Khả năng tái sinh của tổ chức thần kinh tương đối chậm so với các tổ chức khác, nên trong quá trình vết thương lành miệng, sự tái sinh của tổ chức thần kinh xuất hiện muộn nhất. Nói chung, khi thần kinh đã phát triển tốt thì đó cũng là lúc miệng vết thương đã lành. Khi đó đầu cuối thần kinh và mạch máu mới sinh đã mọc sâu vào tổ chức kết đế, tri giác cục bộ cũng dần được khôi phục, cho nên miệng vết thương xuất hiện cảm giác ngứa. Chờ đến khi miệng vết thương lành hẳn thì độ nhạy cảm kích thích đối với thần kinh sẽ giảm xuống, lúc đó sẽ không thấy ngứa nữa.

Từ khoá: Miệng vết thương khép lại; Tầng phát sinh; Tổ chức kết đế; Tái sinh.

20. Vì sao miệng vết thương gặp phải chất mặn thì có cảm giác xót?

Khi da bị tổn thương ta cảm thấy đau. Vết thương càng lớn càng đau, khi vết thương không may gặp phải muối hay những chất mặn thì ta cảm thấy xót.

Da rất nhạy cảm. Bề mặt da không những có vô số lỗ chân lông, ngay đến một cơn gió nhẹ thoảng qua, làm rung lông tơ ta cũng có thể cảm nhận được. Phần dưới da còn có nhiều sợi thần kinh và các cơ quan cảm thụ khác có thể cảm nhận được xúc giác, đau và độ nóng.

Nhưng đầu dây thần kinh không trực tiếp lộ ra ngoài mà được giấu dưới bề mặt da. Thông thường, khi bị một cú đấm hay véo thì phần da chỗ đó sẽ có cảm giác đau, nhưng chỉ một thời gian ngắn sẽ qua đi. Đó là vì nó được da bảo vệ nên không bị kích thích kéo dài.

Nếu là da bị phá hỏng, có vết thương thì tình hình không như thế nữa. Khi đó những sợi dây thần kinh nhạy cảm với sự đau sẽ bộc lộ ra miệng vết thương, chỉ cần có gió thổi, ánh nắng Mặt Trời chiếu hoặc những kích thích khác trong không khí tác động đến nó và gây ra cảm giác đau. Huống hồ là cạnh miệng vết thương còn có nhiều tế bào bị viêm chèn ép dây thần kinh, hoặc bị nhiễm vi khuẩn, vi khuẩn tiết ra những độc tố trực tiếp kích thích thần kinh, làm cho vết thương càng lớn càng thấy đau.

Vậy vì sao khi miệng vết thương chạm phải những vật mặn thì càng đau hơn? Đó là vì những chất mặn có chứa muối, nồng độ muối càng cao thì độ kích thích lên các dây thần kinh càng mạnh. Khi muối rơi trực tiếp vào vết thương, đầu cuối thần kinh lộ ra ngoài vết thương sẽ bị kích thích, do đó mà ta có cảm giác rất đau.

Từ khoá: Miệng vết thương; Đầu cuối thần kinh; Muối.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.