Có người nói: "Não hoạt động nhiều tế bào sẽ bị chết", "não hoạt động nhiều sẽ trở nên chậm chạp". Nói như vậy không có cơ sở khoa học.
Thực tế, các bộ phận trong cơ thể người càng hoạt động lại càng phát triển. Não người cũng vậy. Trước hết, chúng ta hãy xem kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học: não người có khoảng 14 tỉ tế bào thần kinh, còn gọi là nơron thần kinh. Số tế bào não nhiều như thế, một đời người là quá đủ dùng. Có người đã từng tính toán, một người sống 100 tuổi, số tế bào thần kinh não thường được sử dụng khoảng 1 tỉ, như vậy là còn khoảng 80% - 90% tế bào thần kinh não chưa được sử dụng. Cho nên căn bản không có chuyện "não càng hoạt động thì càng chậm chạp".
"Sự sống là ở sự vận động", đó là quy luật phổ biến của giới sinh vật. Cơ thể người hoạt động thì nhanh nhạy, không hoạt động thì chậm chạp. Người nào hay hoạt động chắc chắn não sẽ hoạt động nhanh hơn. Bởi vì những người hay tư duy thì mạch máu não thường ở trạng thái hoạt động, tế bào thần kinh não nhờ đó mà được nuôi dưỡng tốt, khiến cho não càng phát triển, tránh được hiện tượng não suy thoái sớm. Ngược lại, những người không quen dùng não để suy nghĩ, vì đại não ít được dùng, thậm chí không được kích thích cho nên não sẽ lão hoá sớm. Giống như một cỗ máy, không vận hành thường xuyên sẽ mau han gỉ, thường vận hành thì sẽ trơn tru. Ở nước ngoài có nhà khoa học đã nghiên cứu, quan sát một số người 20 - 70 tuổi, phát hiện thấy: những người lao động trí óc trong một thời gian dài, đến tuổi 60 vẫn duy trì được năng lực tư duy nhanh nhạy, còn những người suốt ngày lười suy nghĩ, việc gì cũng chậc lưỡi cho qua thì tỉ lệ đại não sớm suy thoái tăng lên rất nhiều.
Ngoài việc hiểu được nguyên lí não càng hoạt động càng thông minh, không hoạt động sẽ chậm chạp, chúng ta còn nên hiểu rằng: "não hoạt động nhiều có thể ngăn ngừa lão hoá". Điều này đối với người già rất quan trọng. Ta thường nói, đại não là "bộ tư lệnh" chỉ huy cả cơ thể. Nếu đại não chậm chạp thì chức năng sinh lí của các cơ quan khác tất nhiên cũng không phát triển mạnh. Cho nên duy trì sự hoạt động của não sẽ giữ vững và thúc đẩy sự hoạt động của cơ thể cũng như các cơ quan khác. Đại não nếu lão hoá sớm sẽ làm cho các cơ quan khác lão hoá sớm. Tình trạng sức khoẻ của người già luôn là kết quả sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhân tố như sinh lí, tâm lí, môi trường, vv... Người già duy trì được thói quen tốt hay hoạt động não và hoạt động não giỏi sẽ có một trạng thái tâm lí tốt, có thể khiến cho hoạt động và cuộc sống tinh thần luôn sinh động và sung mãn.
"Năng dùng não và làm chậm sự lão hoá" là một nguyên lí rất khoa học. Người già còn như thế, thì thanh, thiếu niên lại càng phải như thế. Chúng ta nên tập thành thói quen tốt là chăm dùng não.
Từ khoá: Tế bào não; Đại não lão hoá sớm.
2. Khai thác bán cầu não phải có lợi gì?
Vỏ não của người là bộ phận cao cấp nhất của hệ thống thần kinh trong cơ thể. Nó từng trải qua quá trình diễn biến hàng trăm năm, hàng vạn năm, từng nhảy vọt từ lượng biến thành chất. Vỏ đại não người được chia thành nhiều khu vực khác nhau, mỗi khu vực có một chức năng nhất định. Theo kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại, bán cầu đại não trái thường phát triển tốt hơn bán cầu đại não phải. Điều đó có thể liên quan tới việc đa số người hay thuận tay phải. Vì trung khu chỉ huy sự vận động của các chi bên phải là bán cầu não trái. Do đó, muốn khai thác được nhiều hơn tiềm lực của cả hai bán cầu não, chúng ta phải coi trọng việc khai thác chức năng của bán cầu não phải.
Trong cuộc sống, đa số mọi người có thói quen dùng tay phải để viết, cầm đũa hoặc làm việc. Khi bố mẹ thấy con mình có xu hướng hay dùng tay trái để viết chữ, cầm đũa hoặc làm việc thì thường gọi là "tay chiêu" và tìm cách uốn nắn. Thực ra, điều đó hoàn toàn không cần thiết. Vì bán cầu não trái có vai trò chính chỉ huy các mặt: nói, viết, tính toán, tư duy và phán đoán; còn bán cầu não phải chỉ đạo về các mặt như: kĩ năng khéo léo, mĩ thuật, âm nhạc, tình cảm, lòng say mê và óc thẩm mĩ, vv... Đối với những người thuận tay phải, rất nhiều thông tin liên tiếp đưa đến bán cầu não trái, thúc đẩy và tăng cường sự phát triển chức năng của nó. Cho nên người ta thường gọi bán cầu não trái là "bán cầu ưu thế". Còn bán cầu não phải ít nhận được thông tin hơn thì gọi là "bán cầu yếu thế". Ngược lại, những người thuận tay trái thì chức năng của bán cầu não phải sẽ phát triển mạnh hơn. Đương nhiên, lượng thông tin mà não người tiếp thu được không phải toàn bộ do tay trái hoặc tay phải tạo ra mà đa số thông tin là nhờ các cơ quan cảm thụ khác truyền đến.
Để phát huy và tận dụng đầy đủ tiềm năng của não, ta nên tranh thủ giáo dục cho con từ tuổi còn thơ. Đồng thời với bồi dưỡng cho các em về năng lực tư duy logic, càng phải coi trọng bồi dưỡng sự phát triển kĩ năng cho chúng. Cần để cho con tham gia nhiều dạng hoạt động, nhất là thực hiện những động tác tinh tế bằng tay, chân để huấn luyện các em sử dụng hai tay một cách linh hoạt. Đối với những em bé thuận tay phải càng phải chú ý rèn luyện cả tay trái để kích thích làm hưng phấn chức năng bán cầu não phải, khiến cho trí lực của con được phát triển toàn diện.
Từ khoá: Bán cầu não phải; Bán cầu não ưu thế; Tay chiêu.
3. Các khu vực của đại não được phân công như thế nào?
Các khu vực khác nhau của đại não đều có chức năng riêng, có khu thị giác, khu thính giác, khu tiếng nói, khu tư duy, vv... Sự làm việc hài hoà giữa các khu này sẽ điều khiển toàn bộ cuộc sống của chúng ta.
Quá trình tìm hiểu chức năng các khu đại não, ban đầu nhờ vào việc nghiên cứu một số bệnh đặc biệt mà biết được. Việc phát hiện khu tiếng nói trong đại não là ví dụ tiêu biểu nhất. Năm 1861, nhà giải phẫu thần kinh Pháp, Pon Broca, chẩn đoán và điều trị cho một bệnh nhân câm. Bệnh nhân này nghe thì hiểu được, cơ quan phát âm không có bệnh gì, nhưng ngoài âm "tan" ra không thể nói được một âm nào khác. Sáu ngày sau bệnh nhân bị chết. Kết quả giải phẫu não chứng tỏ phần não bên trái trán bị tổn thương nghiêm trọng. Nghiên cứu tiếp 8 bệnh nhân tương tự, Broca đều nhận được kết quả tương tự. Khu vực này về sau được gọi là "nếp nhăn Broca". Mấy năm sau, một bác sĩ người áo tên là Venik đã phát hiện một dạng trở ngại về tiếng nói khác. Bệnh nhân này có thể phát âm rõ ràng các từ đơn, khi nói ngữ pháp không sai, nhưng giọng nói lại bị ngọng, không ai nghe rõ được. Loại bệnh này do vị trí ở trán của đại não (khu Venik) bị tổn thương. Hai khu vực này là khu vực chính của tiếng nói.
Việc tìm hiểu về chức năng vùng trán của đại não là một sự kiện bất ngờ tương tự. Giữa thế kỉ XIX, khi nước Mĩ xây dựng đường sắt với quy mô lớn, ở Forment miền Đông Bắc Mĩ, có một công nhân đường sắt tên là Keyci. Bẩm sinh anh ta hiền lành, vui tính và hay giúp đỡ người khác. Một hôm khi dùng thanh sắt để tra thuốc nổ, không may một đốm lửa bất ngờ rơi vào làm thuốc nổ tung. Lúc đó đầu Keyci đang hơi nghiêng, tiếng nổ hất thanh sắt thúc lên bên trái trán, hướng sang bên trái đầu, làm cho xương sọ phía trước bị thương nghiêm trọng. Keyci hôn mê. Điều làm cho người ta ngạc nhiên là sau khi tỉnh dậy, anh ta vẫn không mất cảm giác và vận động bình thường. Nhưng dần dần tính cách anh ta thay đổi rất rõ. Keyci trở thành người ngạo mạn, ngang tàng, cô độc, không quan tâm đến ai, hành vi rất quái dị. Bệnh tình đó gợi cho các nhà khoa học một giả định: phần não vùng trán có liên quan mật thiết với tính cách và năng lực tư duy của con người.
Việc nghiên cứu về chức năng khu hải mã (một khu vực trong não có hình giống hải mã) có liên quan với trí nhớ được phát hiện muộn hơn nhiều, nhưng cũng là một sự tình cờ kì diệu giống như những phát hiện ở trên. Giữa thế kỉ XX, các bác sĩ thường dùng phương pháp cắt bỏ khu hải mã và khu não lân cận để chữa chứng động kinh. Năm 1953, bác sĩ Monthơliơ, người Canađa làm phẫu thuật này có một bệnh nhân 27 tuổi, quả nhiên chữa được bệnh động kinh, nhưng đồng thời lại gây nên một hậu quả nặng nề khác. Đó là tuy bệnh nhân vẫn giữ được trí nhớ như trước khi phẫu thuật, nhưng anh ta chỉ nhớ được một thời gian rất ngắn. Ví dụ khi nói chuyện với người khác, sau đó anh ta liền quên ngay, không thể nhớ nổi đã nói chuyện với ai, thậm chí anh ta không biết được mình đang ở đâu, vì sao lại ở đây. Anh ta hầu như mất hoàn toàn khái niệm về thời gian, thậm chí không biết rõ mình bao nhiêu tuổi. Vì vậy, anh ta chỉ có thể làm một số động tác đơn giản, tức thời và không làm được việc gì khác nữa. Tình hình đó kéo dài 28 năm (đến năm 1981) vẫn không có gì thay đổi. Rõ ràng trí nhớ của con người có liên quan mật thiết với khu hải mã.
Tương tự, nếu não chẩm bị tổn thương thì thị giác sẽ có vấn đề, khu vực não quản lí sự vận động nếu bị tổn thương sẽ gây trở ngại cho vận động.
Mấy năm gần đây, các nhà khoa học còn phát minh một kĩ thuật mới, có thể không cần mở hộp xương sọ, không cần gây cho não tổn thương mà vẫn có thể tiến hành nghiên cứu chức năng các khu vực khác nhau của đại não. Điều đó đã làm nhận thức sâu thêm về chức năng của các khu vực. Kĩ thuật chụp cắt lớp bằng luồng chiếu pozitron (PET) chính là một trong những ứng dụng đó. Như ta đã biết, tế bào thần kinh hoạt động càng mạnh thì lượng tiêu hao gluco càng nhiều. Kĩ thuật PET chính là lợi dụng nguyên lí này, thông qua các hoạt thể để xác định tình hình hấp thu và đào thải đường gluco của các tế bào thần kinh, từ đó mà hiểu được hoạt động của các khu vực đại não. Những nghiên cứu này chứng tỏ các khu vực của đại não tuy có sự phân công khác nhau, nhưng khi thực hiện một chức năng nào đó luôn đòi hỏi nhiều khu vực cùng tham gia. Các khu vực sẽ phối hợp với nhau bằng một phương thức nào đó để hỗ trợ hoàn thành nhiều dạng chức năng khác nhau. Chức năng tiếng nói là một ví dụ có tính tiêu biểu. Nhà nghiên cứu để cho người thí nghiệm tỉnh táo, vẫn nghe, nhìn, nói các đơn âm khác nhau, đồng thời dùng phương pháp PET để kiểm tra hoạt động của đại não. Kết quả phát hiện được khi nghe, nhìn và nói các đơn âm đều có mấy khu vực đồng thời hoạt động, nhưng sự hoạt động của các khu vực không giống nhau. Đặc biệt thú vị là khi nói một động từ và một danh từ thì sự hoạt động của não cũng như nhau. Những người thạo hai ngôn ngữ, đối với những danh từ của hai ngôn ngữ khác nhau có cùng hàm nghĩa thì khu vực não chứa hai thứ tiếng cũng khác nhau. Hơn nữa, tuy chức năng tiếng nói chủ yếu là do não trái điều khiển, nhưng khu vực tương ứng của não phải cũng tham gia điều khiển về độ cao thấp của giọng nói. Vì vậy, một khi những khu vực này bị tổn thương thì chúng ta không thể diễn đạt tiếng nói một cách sinh động được.
Từ khoá: Các khu vực của đại não.
4. Có phải ai não lớn hơn là thông minh hơn không?
Có người nói: não ai to thì người đó thông minh. Mới nghe hình như câu nói này có lí. Trong tự nhiên, não loài côn trùng thường bé như mũi kim, cho nên chúng thường là những con vật thua kém khi ta so sánh não của chúng với loài động vật có xương sống. Não của mèo, chó và thỏ đều bé hơn não người, cho nên chúng không thể tranh giành được với con người.
Con người thường được mệnh danh là "đấng tinh khôn nhất của loài vật". Con người sở dĩ tinh khôn là nhờ có đại não phát triển. Trong giới động vật, trí năng của loài vượn người được xếp hàng đầu nhưng trọng lượng não của chúng cũng còn cách xa so với não người. Trọng lượng bộ não của hắc tinh tinh là 420 g, của đại tinh tinh gần 500 g, của người vượn gần bằng với não người nhưng vẫn còn một khoảng cách nhất định. Trọng lượng bình quân của não người hiện đại là 1450 g, của người vượn Bắc Kinh là 1075 g, của người vượn Lam Điền là 850 g. Trẻ em vừa sinh ra trọng lượng não chỉ khoảng 390 g, nhưng lớn lên não dần dần nặng thêm, to thêm, trí năng cũng phát triển cao hơn. Về già, trọng lượng não lại giảm dần, trình độ trí năng cũng giảm theo. Những điều này hầu như xác nhận rằng não lớn là thông minh.
Nhưng trên thực tế không nhất thiết não lớn là thông minh. Ví dụ, não của loài chuột nhỏ hơn so với não thỏ nhưng trí nhớ của chuột vẫn mạnh hơn. Về trọng lượng não thì con người cũng không phải là loại đứng đầu. Não của cá kình nặng khoảng 7.000 g, não của voi khoảng 5000 g, đều nặng gấp mấy lần so với não người, nhưng trí năng của chúng lại thua kém con người rất xa. Vì vậy, một nhà nhân chủng học Liên Xô (cũ) đã đưa ra chỉ số: [(trọng lượng não x trọng lượng não) / trọng lượng cơ thể] để biểu thị mức độ phát triển của đại não. Chỉ số này càng lớn thể hiện não càng phát triển. Kết quả não chuột là 0,19, não người vượn là 7,35, não người là 32,0.
Có thể trong loài người, người có não lớn hơn thì thông minh hơn chăng! Trọng lượng não của nhà văn nổi tiếng Nga, Sekhov là 2012 g. Nhưng có một số danh nhân thế giới não không nặng. Ví dụ Gauxơ, nhà toán học Đức, người đã từng phát hiện nhiều định lí và công thức toán nổi tiếng, não chỉ nặng 1492 g. Nhà thơ Italia nổi tiếng thế giới là Tantin não chỉ nặng 1420 g, như một người bình thường, nhưng trình độ trí năng của ông thì lại vượt xa người bình thường. Anhstanh là một trong những nhà khoa học hiện đại vĩ đại nhất, ông học rộng, tài nhiều, có trí nhớ kinh người, nhưng sau khi ông mất, các nhà khoa học Mĩ đã nghiên cứu đại não của ông và không phát hiện thấy có gì khác so với người bình thường. Có một số người nổi tiếng não khá nhỏ, như nhà văn nổi tiếng Pháp, Banzăc, trọng lượng não chỉ có 1017 g, nhà hoá học Đức Penlin, trọng lượng não cũng chỉ có 1259 g, còn nhẹ hơn cả não người bình thường, mặc dù vậy, vẫn không ảnh hưởng đến trí thông minh và tài năng về nghệ thuật và khoa học. Có nhà khoa học đã từng nghiên cứu tổng kết đối với người trưởng thành khoẻ mạnh, nếu trọng lượng não của nam giới không thấp hơn 1000 g, của nữ giới không thấp hơn 900 g thì sẽ không ảnh hưởng gì đến sự phát triển của trí năng.
Trên thực tế, trong não người có nhiều nếp gấp làm tăng diện tích bề mặt vỏ đại não và tăng thêm số lượng tế bào vỏ não. Cho nên đại não nhỏ chưa chắc tế bào não đã ít, đại não lớn cũng chưa chắc tế bào não đã nhiều, huống hồ tài trí thông minh của con người trên một mức độ rất lớn được quyết định bởi sự giáo dục và rèn luyện của người đó. Những bạn trẻ vì não nhỏ mà buồn rầu hoàn toàn có thể yên tâm vứt bỏ mặc cảm đó. Và, một số ít người có não lớn cũng không nên tự kiêu tự đại, không nên coi nhẹ việc học tập và phấn đấu hằng ngày.
Từ khoá: Trọng lượng não.
5. Vì sao người già hay quên những việc gần đây?
Người già hay quên những việc gần đây, nhưng rất nhiều việc từ thời trẻ, thậm chí là những việc vụn vặt thì lại nhớ rất rõ. Vì sao lại thế nhỉ?
Nguyên nhân là khi một sự việc nào đó gây cho vỏ đại não sự hưng phấn mạnh mẽ, tạo nên phản xạ có điều kiện thì việc đó được xem là đã có dấu ấn. Lúc nhớ đến chỉ cần kiểm tra lại, tức chỉ là sự lặp lại phản xạ có điều kiện mà thôi. Con người thời trẻ tinh thần sung mãn, phản xạ có điều kiện vừa dễ thiết lập, vừa dễ củng cố, cho nên trí nhớ của trẻ em và thanh niên rất tốt. Cùng với tuổi tác tăng cao, năng lực hiểu biết tuy được tăng thêm, nhưng vì công tác nhiều và phức tạp cho nên phản xạ có điều kiện có lúc không được củng cố, do đó trở nên mau quên, nhưng chức năng vỏ đại não của họ tốt, phản xạ có điều kiện mới tuy không dễ thành lập, nhưng những phản xạ có điều kiện cũ lại rất vững chắc, cho nên mới có chuyện việc cũ vẫn nhớ rõ, còn việc mới lại rất mau quên.
Hiểu được nguyên lí này, ngay từ trẻ chúng ta nên phấn đấu tuổi trẻ phải học tập nhiều để đặt nền tảng vững chắc cho công tác và cuộc sống sau này.
Từ khoá: Vỏ đại não; Phản xạ có điều kiện; Trí nhớ.
6. Dùng đầu đánh bóng, có gây chấn động cho não không?
Trong bóng đá ta thường thấy có những pha cầu thủ đánh bóng hoặc ghi bàn bằng đầu rất đẹp. Có người hỏi: với quả bóng tốc độ nhanh, lực va chạm rất mạnh, cầu thủ đánh đầu liệu có làm cho đại não bị chấn động không? Có thể khẳng định hậu quả đáng sợ đó hầu như không xảy ra.
Đó là vì bên ngoài đại não có một vỏ xương sọ rất cứng, gồm xương đỉnh đầu, xương trán, xương thái dương, xương chẩm và xương ót cấu tạo nên. Nói chung cầu thủ thường dùng xương trán để đánh đầu. Xương trán là bộ phận dày nhất, cứng nhất trong hộp xương sọ. Nó có thể chịu đựng được sự va chạm rất mạnh.
Hơn nữa, quả bóng đá được làm bằng các mảnh da mềm, trong đó còn có hơi, nên nó có độ đàn hồi nhất định. Ngoài ra, khi cầu thủ đánh đầu một cách chủ động thì toàn bộ khung xương và các cơ bắp đều ở trạng thái căng cao độ, đặc biệt là xương và cơ bắp ở vùng trán giữ được một độ căng cứng hài hoà, như vậy sẽ có tác dụng đàn hồi nhất định.
Do đó, có thể thấy, từ cấu tạo của hộp xương sọ cho đến sinh lí vận động, khi quả bóng từ xa bay đến với tốc độ nhanh, lực lớn, các cầu thủ nhảy cao, dùng đầu đánh bóng sẽ không gây nguy hại gì cho não.
Nhưng cũng cần phải nói thêm, khi một người ở trạng thái hoàn toàn không chuẩn bị, nếu có một quả bóng từ xa bay đến với tốc độ nhanh, đập trực tiếp vào đầu, vì cơ bắp không kịp đàn hồi nên có khả năng sẽ gây ra sự chấn động mạnh mẽ đối với não, nghiêm trọng hơn còn có thể khiến cho tổ chức của não bị tổn thương, dẫn đến những hậu quả không tốt.
Từ khoá: Chấn động đại não; Xương sọ; Đàn hồi.
7. Vì sao não chết là dấu hiệu chỉ sự sống của con người kết thúc?
Chết là kết thúc sự sống. Quá trình tiếp thu đào thải của cơ thể kết thúc thì cơ thể cũng chết theo. Quan niệm truyền thống cho rằng: khi tim ngừng đập, mũi ngừng thở thì sự sống không phục hồi lại nữa, lúc đó có thể phán đoán cơ thể đã chết.
Nhưng cũng có khi, có người tim đã ngừng đập, mũi đã ngừng thở mà vẫn chưa chết thật. Ví dụ người bị bệnh tim, khi tim đã hoàn toàn ngừng đập nhưng vẫn có thể nhờ máy hô hấp và máy kích nhịp tim mà tiếp tục sống lại. Ngược lại, người mà chức năng của tim và phổi được duy trì bằng biện pháp nhân tạo, nguyên khi tim còn tiếp tục đập cũng không có nghĩa là nhất định sẽ sống. Đặc biệt là mấy năm gần đây, nhờ sự phát triển của y học, một số người tuy chức năng của đại não đã mất đi, nhưng vẫn có thể dùng máy hô hấp và máy kích nhịp tim để phục hồi và duy trì chức năng tim, phổi. Nhưng những bệnh nhân này chắc chắn không thể phục hồi trở lại. Chính vì thế mà quan niệm truyền thống lấy tiêu chí tim ngừng đập, phổi ngừng thở là chết đã hoàn toàn thay đổi. Hiện nay y học hiện đại đang dần dần xây dựng một quan niệm mới về sự chết: não chết mới thực sự là người chết.
Não chết là bao gồm chức năng của đại não, tiểu não và đuôi não hoàn toàn đã mất đi và không thể phục hồi trở lại được. Não ví như bộ tư lệnh của cơ thể. Bộ tư lệnh bại liệt, thậm chí bị huỷ diệt thì cơ thể sẽ đứng trước cái chết. Nói chung, con người sau khi tim và phổi ngừng làm việc, vỏ đại não còn có thể chịu đựng thiếu oxi được từ 5 - 6 phút, vượt quá khoảng thời gian này thì chức năng đại não sẽ vĩnh viễn mất đi. Cho nên, sau khi tim và phổi ngừng làm việc phải lập tức cấp cứu, cơ thể còn có khả năng phục hồi lại được. Vì vậy mà dùng tiêu chí tim ngừng đập và phổi ngừng thở để phán đoán một người nào đó đã chết là không đủ cơ sở khoa học. Chỉ sau khi chức năng toàn bộ não mất đi mới kết luận được cuộc sống đã kết thúc.
Từ khoá: Não chết; Tử vong; Chức năng não.
8. Thần đồng và các em bé bình thường có gì khác nhau?
Người ta thường gọi những em bé được trời phú cho nhiều tài năng nổi trội xuất chúng là thần đồng.
Những thần đồng nổi tiếng nhất của thế kỉ này phải kể đến nhà vĩ cầm nhỏ tuổi người Mĩ là Yahudi Menuhin. Em sinh năm 1916 ở New York, 5 tuổi đã bắt đầu chơi viôlông, 7 tuổi cùng tham gia diễn xuất với dàn nhạc Giao hưởng New York. Kĩ thuật biểu diễn nhuần nhuyễn, tươi trẻ, nhiệt tình và khả năng cảm thụ tác phẩm sâu sắc của em khiến cho người ta vô cùng mến phục.
Xưa nay trong và ngoài nước, thần đồng khá nhiều. Ví dụ, đại thi hào Bạch Cư Dị đời Đường của Trung Quốc, mới 6 tháng tuổi đã biết đọc, Lạc Tân Vương, 5 tuổi đã làm được bài thơ "Vịnh nga" nổi tiếng. Nhà toán học Gaoxơ người Đức, chưa đến 10 tuổi mà năng lực tính toán đã ngang với giáo sư đại học.
Vậy thì thần đồng và các em bé phổ thông khác nhau ở chỗ nào? Trước hết, đó là hệ thần kinh, đặc biệt là bộ não của các thần đồng thành thục sớm hơn rất nhiều so với các trẻ bình thường, do đó mà trí lực phát triển rất nhanh. Ngoài ra, những thần đồng còn nhận được sự giáo dục tốt từ rất sớm. Nếu không để cho trẻ em tích cực hoạt động não sớm thì não của trẻ sẽ không thể phát triển hoàn hảo, do đó trí lực không thể được khai thác kịp thời.
Gorki từng nói: tài năng của con người giống như pháo hoa, nó có thể bị dập tắt, cũng có thể bùng lên, vấn đề là ở chỗ nó được đối xử như thế nào. Thực tiễn cho thấy: giáo dục sớm là một khâu vô cùng quan trọng khiến pháo hoa trời phú cho có thể thăng hoa mạnh mẽ.
Nhưng cũng cần hiểu rằng: việc giáo dục sớm chưa phải đã quyết định được cả cuộc đời người. Cho dù là thần đồng, một khi thiếu đi sự nỗ lực và phấn đấu liên tục về sau thì cũng vẫn chỉ là một đốm lửa nhất thời, cuối cùng vẫn không làm nên thành tựu gì. Căn cứ các tài liệu nghiên cứu, theo dõi và phát hiện thì phần lớn số thần đồng sau khi đã trưởng thành đều không duy trì được vị trí dẫn đầu về trí lực như hồi còn nhỏ.
Ví dụ, trong số 70 thần đồng của hai thế kỉ gần đây, chỉ có 8 người về sau trở thành thiên tài nổi tiếng. Có người đã từng thống kê, trong số mấy trăm danh nhân có thành tích xuất sắc chỉ có 5% là thần đồng, còn 95% thì trí lực ban đầu rất bình thường, họ phải nhờ vào sự phấn đấu liên tục mới giành được những thành tích nổi bật. Nhà bác học Newton nổi tiếng là một trong những người như thế.
Từ khoá: Thần đồng; Sự phát triển của trí lực.
9. Vì sao ngồi xổm lâu khi đứng dậy cảm thấy chóng mặt, hoa mắt?
Thường ngày ta vẫn có lúc ngồi xổm. Ngồi xổm lâu, sau đó đứng dậy, bạn dễ cảm thấy chóng mặt, hoa mắt.
Trên thực tế, đó là một loại phản xạ của thần kinh. Khi tư thế đột nhiên thay đổi thì người khoẻ cũng thường xuất hiện phản ứng này.
Chóng mặt vì não thiếu máu, hoạt động của tế bào thần kinh bị ảnh hưởng. Hoa mắt là vì máu ở võng mạc của mắt không được cung cấp đầy đủ, khiến cho tế bào thị giác bị kích thích. Cả hai điều đó đều là nguyên nhân khiến cho ta khi đang ngồi xổm, đứng dậy đột ngột, phần đầu phát sinh thiếu máu.
Vì sao hiện tượng này lại xuất hiện sau khi ngồi lâu, đứng dậy đột ngột? Nguyên là khi ta ngồi, các mạch máu ở phần bụng bị ép, máu ở phần bụng và tứ chi giảm thấp rất nhiều, còn đầu hơi cúi về phía trước thì máu ứ lại. Khi ta đứng dậy đột ngột, máu ở trên đầu nhiều sẽ chảy xuống phần bụng và tứ chi, điều đó gây ra hiện tượng não thiếu máu tạm thời. Đương nhiên, đó chỉ là hiện tượng xảy ra rất nhanh, nhờ tác dụng điều tiết của hệ thống thần kinh nên mạch máu ở phần bụng co lại, máu rất nhanh lại được dồn lên não, khiến hiện tượng não thiếu máu được xoá bỏ nhanh chóng và chứng chóng mặt, hoa mắt cũng sẽ nhanh chóng mất đi.
Từ khoá: Dồn máu; Não thiếu máu.
10. Vì sao khi tức giận lại không muốn ăn cơm?
Khi bụng trống rỗng ta có cảm giác đói, đồng thời trong bụng còn có tiếng kêu, đó là tín hiệu: chúng ta nên được ăn cơm.
Nhưng ngẫu nhiên cũng có lúc xảy ra trường hợp rõ ràng là ta đang đói, muốn ăn, nhưng bỗng nhiên xảy ra một sự việc làm ta không thoải mái, lúc đó cảm giác đói tạm thời mất đi. Cũng có lúc đang ăn rất ngon miệng, bỗng nhiên vì một việc nào đó làm ta tức giận, khi đó nuốt không trôi, giống như bụng đã no rồi.
Vì sao như thế? Nguyên nhân là nhất cử nhất động của chúng ta đều chịu sự điều khiển, chỉ huy của đại não. Đại não vừa điều khiển những hành vi cụ thể, vừa quản tư duy của chúng ta. Từ lúc tỉnh dậy đến lúc đi ngủ, có thể nói bộ não rất bận rộn, những lúc ngủ không tốt bộ não cũng không được nghỉ ngơi.
Nhưng mặc dù phải làm việc nhiều như thế, đại não vẫn làm việc rất có trình tự. Nói chung trong một thời điểm nhất định, não chỉ xử lí một việc, thế mà trong cuộc sống có lúc nhiều việc lớn nhỏ lại đến cùng một lúc, tuy nhiên nó vẫn không vội vàng, giống như bên cạnh bạn có rất nhiều máy điện thoại cùng đổ chuông một lúc, nhưng bạn chỉ có thể lần lượt nói chuyện với từng máy một. Khi vỏ đại não xử lí công việc, chỉ ở vị trí có liên quan phát sinh hưng phấn, còn tất cả các vị trí khác đều bị khống chế.
Ví dụ, khi bạn đang tập trung tư tưởng làm một việc gì đó, hoặc khi bạn đang đọc sách rất say mê thì bạn sẽ không biết đến nhưng sự vật xuất hiện xung quanh, cũng không nghe thấy điều gì đang xảy ra, đó là vì vỏ đại não của bạn có một vị trí nào đó đang ở trạng thái hưng phấn, còn các vị trí khác đều bị khống chế. Lúc ta cảm thấy đói, vỏ đại não quản vị trí thèm ăn được hưng phấn, do đó chúng ta có cảm giác muốn ăn, thèm ăn là nhiệm vụ duy nhất lúc đói, còn những việc khác đều tạm thời bị gác lại, tức là các vị trí khác của vỏ đại não đang trong trạng thái bị khống chế. Nhưng nếu bỗng nhiên phát sinh một việc mới khiến ta không thoải mái, hoặc tức giận thì vị trí khác của vỏ đại não sẽ hưng phấn mạnh mẽ, còn vị trí quản việc ăn lại bị khống chế, do đó cảm giác thèm ăn tạm thời mất đi.
Thực ra không chỉ vì tức giận khiến ta không muốn ăn mà chỉ cần sự việc phát sinh khiến ta hưng phấn mãnh liệt thì cũng đủ khiến cho vị trí vỏ đại não quản về việc ăn bị khống chế, cho nên ta nuốt không trôi cơm.
Từ khoá: Vỏ đại não; Hưng phấn; Khống chế.