Mọi người không thể trong một thời gian dài không ngủ được. Có người từng làm thí nghiệm: để cho một số người khoẻ suốt từ 72 đến 90 giờ không cho ngủ, kết quả họ lần lượt xuất hiện "trạng thái tinh thần khác thường", nhưng ngừng thí nghiệm, cho họ ngủ mấy giờ, sau đó mọi hiện tượng lại trở lại bình thường.
Vậy mỗi người một ngày nên ngủ bao lâu thì vừa? Với đa số người lớn mà nói, mỗi đêm ngủ 7 - 8 giờ là đủ. Hiệp hội ung thư Mĩ đã làm một cuộc điều tra, bình quân mỗi ngày ngủ 7 - 8 giờ thì tuổi thọ dài nhất. Nếu so sánh mỗi tối người lớn ngủ không đủ 4 giờ thì tỉ lệ tử vong cao đến 180%, mỗi tối người lớn ngủ trên 10 giờ, tỉ lệ tử vong cao trên 80%.
Nhưng lứa tuổi khác nhau thì nhu cầu về thời gian ngủ cũng khác nhau. Nói chung, từ 1 - 3 tuổi mỗi ngày cần ngủ 14 - 16 giờ; 4 - 6 tuổi cần ngủ 12 - 14 giờ; 7 - 9 tuổi cần ngủ 11 giờ; 10 - 13 tuổi cần ngủ 9 - 10 giờ; 14 - 20 tuổi cần ngủ 8 - 9 giờ; từ 20 tuổi trở lên cần ngủ 7 - 8 giờ. Đương nhiên, thời gian ngủ dài hay ngắn có quan hệ với thói quen đã hình thành lâu ngày. Pitơ người Nga suốt đời mỗi ngày chỉ ngủ 5 giờ, Aiti mỗi ngày chỉ cần ngủ 2 - 3 giờ là có thể phục hồi sức khoẻ, Napôlêông có lúc chỉ cần tựa vào gốc cây chợp mắt một chốc là có thể xoá bỏ mệt mỏi, còn Anhstanh mỗi ngày cần ngủ đến 10 giờ.
Cho nên ngủ đầy đủ hay không mỗi người một khác. Chỉ cần sau khi ngủ cảm thấy đầu óc tỉnh táo, tinh thần thoải mái, không có cảm giác thiếu ngủ là được.
Từ khoá: Thời gian ngủ.
142. Vì sao người có tuổi nhu cầu ngủ lại ít?
Trong cuộc sống ta thấy, người càng trẻ thời gian cần ngủ càng dài, còn người lớn tuổi thời gian cần ngủ càng ngắn. Trong trường hợp bình thường, trẻ em sơ sinh ngoài thời gian ăn là ngủ, còn người già mỗi ngày chỉ ngủ 5 - 6 giờ là không ngủ được nữa. Thực chất nguyên nhân vì đâu? Muốn hiểu rõ điều này, trước hết ta hãy tìm hiểu ngủ là gì. Khi con người học tập hay làm việc cả ngày, tối đến tế bào thần kinh vỏ đại não mệt mỏi, từ trạng thái hưng phấn chuyển sang trạng thái ức chế, hơn nữa sự chuyển biến này từ cục bộ dần dần khuếch tán rộng ra.
Khi vỏ não và tầng dưới vỏ não phát sinh ra ức chế rộng rãi sẽ đi vào giấc ngủ. Theo quan sát điện não đồ, con người trong khi ngủ tồn tại hai loại trạng thái thay thế nhau. Một loại lμ ngủ sóng chậm, lúc đó giấc ngủ không sâu, thở chậm và đều, mạch và huyết áp ổn
định, thuỳ thể não tiết ra "hoocmôn sinh trưởng" tăng lên, thúc đẩy quá trình hấp thu và đào thải của cơ thể, giúp cho thể lực được hồi phục. Ngủ sóng chậm kéo dài 80 - 120 phút, sau đó chuyển sang ngủ sóng nhanh.
Khi ngủ sóng nhanh thì giấc ngủ sâu, gọi khó tỉnh và xuất hiện mạch máu não giãn nở, lượng máu qua não nhiều hơn lúc ngủ sóng chậm 30 - 50%, các tế bào não được hấp thu, đào thải mạnh mẽ, khiến cho não được phục hồi.
Trạng thái này kéo dài khoảng mười mấy phút đến nửa tiếng, sau đó lại chuyển sang giấc ngủ sóng chậm. Cả hai loại thay thế nhau liên tục, một đêm khoảng 4 - 6 lần. Người già, vì chức năng vỏ đại não hoạt động không mạnh mẽ như tuổi trẻ, tốc độ hấp thu, đào thải giảm, hơn nữa hoạt động thể lực đã giảm rất nhiều, do đó thời gian người già cần ngủ cũng giảm theo. Tục ngữ nói "30 năm đầu ngủ không tỉnh, 30 năm sau ngủ không say" là vì lẽ đó. Nói chung, người già một đêm ngủ khoảng 5 - 6 giờ là đủ. Người già ban đêm khó đi vào giấc ngủ, nửa đêm dễ tỉnh dậy, thời gian ngủ ngắn hơn một ít, đa số có thể thông qua nghỉ ngơi hoặc chợp mắt một chốc về ban ngày là có thể bù đắp được. Đó đều là những phương pháp tốt để tiêu trừ mệt mỏi.
Thời gian ngủ cố nhiên rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là chất lượng giấc ngủ. Để cho người già ngủ tốt, phòng ngủ nên giữ yên tĩnh, trong phòng không có ánh sáng, không khí thoáng và chăn đắp thích hợp, ngoài ra nên tập thành thói quen ngủ có quy luật để bảo đảm chất lượng. Như thế sẽ có lợi cho việc kéo dài tuổi thọ.
Từ khoá: Thời gian ngủ; Ngủ sóng chậm. Ngủ sóng nhanh; Thuỳ thể não.
143. Có phải ngủ gối càng cao càng tốt hay không?
Con người 1/3 cuộc đời dành cho ngủ, mà giấc ngủ gắn liền với cái gối, cho nên nói vai trò của cái gối rất quan trọng đối với sức khoẻ.
Nếu tối ngủ không có gối thì vị trí đầu sẽ thấp hơn tim, máu chảy lên đầu tăng lên, dẫn đến các mạch máu não bị dồn máu, thời gian lâu sẽ gây đau đầu, mí mắt sưng lên và ngủ không tốt.
Ngược lại ngủ có gối, đầu được nâng cao, phần ngực cũng hơi được nâng cao, như vậy máu ở nửa dưới người sẽ chảy chậm hơn, có thể giảm nhẹ gánh nặng cho tim. Đối với người có thói quen ngủ nằm ngửa, gối đầu để ngủ thì phổi sẽ không áp sát với giường, như vậy có lợi cho thở. Hơn nữa ngủ có gối đầu thì phần cổ được cong về phía trước, cơ cổ được thư giãn, có lợi cho nghỉ ngơi, sáng tỉnh dậy tinh thần thoải mái.
Tục ngữ nói "gối cao đầu vô lo". Thực ra cách nói này thiếu cơ sở khoa học. Không phải gối càng cao càng tốt. Nếu gối đầu quá cao, các cơ cổ sẽ không được thư giãn tự nhiên, phần cơ phía áp vào gối bị kéo căng, tạo nên cơ bắp căng thẳng, dễ gây mệt mỏi. Suốt đêm ngủ gối cao, cổ sẽ đau, đầu đau, thậm chí ngẩng đầu hoặc cúi đầu đều khó khăn, cổ khó quay. Hơn nữa gối quá cao sẽ làm cho tim cung cấp máu lên não khó khăn, vô hình trung đã tăng thêm gánh nặng cho tim. Ngủ gối cao còn làm giảm góc giữa cổ và ngực, khiến cho khí quản bị cong, thở gặp trở ngại dễ dẫn đến yết hầu khô đau và ngáy to. Ngoài ra, gối quá cao sẽ khiến cho các cơ ở ngực và lưng căng thẳng, các tổ chức phần mềm ở cổ bị rối loạn, dẫn đến mạch máu, thần kinh bị dồn nén gây ra vai mỏi, tê tay và choáng đầu.
Vậy gối cao bao nhiêu là vừa? Các chuyên gia đã làm thí nghiệm đo điện não đồ đối với những người dùng gối cao thấp khác nhau, kết quả phát hiện gối cao 6 - 9 cm thì điện não đồ xuất hiện trạng thái ổn định, ngược lại cao quá hoặc thấp quá đều ảnh hưởng đến giấc ngủ, khiến cho cơ thể có cảm giác không thoải mái hoặc khó ngủ.
Các chuyên gia khoa xương cho rằng từ góc độ sinh lí và hình dạng đốt sống cổ mà xét, khi ngủ có gối đầu, gối cao 8 - 15 cm là thích hợp, hơn nữa gối nên có hình dạng hình yên ngựa, tức hai đầu cao khoảng 15 cm, ở giữa thấp khoảng 8 cm là tốt nhất. Khi nằm ngửa đầu ở giữa gối, khi nằm nghiêng thì đầu gối ở hai bên. Ngủ với gối có độ cao và hình dạng như thế rất phù hợp với hình cung của cổ, có lợi cho đề phòng bệnh đốt sống cổ và nghỉ ngơi tốt.
Từ khoá: Gối.
144. Vì sao khi người mệt mỏi lại hay ngáp?
Khi người mệt mỏi, thiếu ngủ, tinh thần buồn tẻ, không hứng thú với mọi việc chung quanh, hoặc làm việc đến nửa đêm, sáng vừa ngủ dậy cũng như khi trong người sợ rét thì hay ngáp dài.
Ngáp là triệu chứng của mệt mỏi. Giống như khi cơ thể thiếu nước thì phải uống nước, dạ dày trống rỗng thì phải ăn cơm, ngáp cũng là một hoạt động phản xạ vốn có của cơ thể. Nó có ý nghĩa nhất định đối với bảo vệ cơ thể. Ví dụ khi cơ thể đã mệt mỏi lại làm việc hay học tập đến tối khuya thì sẽ ngáp liên tục, tức là thúc giục ta nên đi nghỉ.
Ngáp cũng có tác dụng điều tiết nhẹ đối với mệt mỏi. Khi ngáp, hai mắt nhắm lại, miệng mở to để thở, hơn nữa, chân tay, mặt cổ, lưỡi và yết hầu, các cơ bắp được co lại làm cho đại não, vốn đang hoạt động hưng phấn tạm thời giảm yếu, thở sâu hơn, hoạt động cơ bắp của toàn thân tạm thời ngừng xuống, cảm giác của thân thể đối với sự kích thích xung quanh giảm thấp, chính thời điểm đó ta được nghỉ ngơi tạm thời.
Buổi sáng khi mới ngủ dậy, vì hoạt động của đại não từ trạng thái ức chế chuyển sang hưng phấn, cơ bắp đang chùng, toàn thân uể oải, cơ thể đang nặng cảm giác mệt mỏi cho nên ta cũng thường ngáp, đặc biệt là khi ngủ chưa đủ lại càng hay ngáp hơn.
Tinh thần phấn chấn, sức lực dồi dào, sống có quy củ, thường xuyên tập luyện, người sống mạnh mẽ thì thường ít ngáp. Khi thể chất suy yếu, thiếu ngủ, tinh thần uể oải, sống không có quy củ, thiếu vận động, thiếu hăng say vì công việc thì thường ngáp nhiều hơn.
Khi ngáp, năng lực phản ứng của cơ thể trở nên kém hẳn, hiệu quả làm việc hay học tập không cao. Lúc đó có thể ra ngoài trời hoạt động một chút hoặc hít thở không khí trong lành, hoặc làm một vài công việc nhẹ, nếu quá buồn ngủ thì nên đi ngủ.
Từ khoá: Ngáp.
145. Vì sao sau một thời gian mệt mỏi quầng mắt lại thâm đen?
Nhiều người mỗi lần mệt mỏi, đặc biệt là thiếu ngủ hoặc thức đêm nhiều hai quầng mắt sẽ thâm đen. Vì sao vậy? Y học hiện đại phát hiện, con người mệt mỏi quầng mắt thâm đen có hai trường hợp:
– Trường hợp thứ nhất là do mệt mỏi quá mức hoặc thiếu ngủ mà gây nên, nó làm cho mí mắt bị căng thẳng lâu dài, dẫn đến những mạch máu nhỏ ở phần da quầng mắt giãn nở ra làm ứ huyết. Các tổ chức dưới da của quầng mắt bị chùng lỏng, các mạch máu ứ huyết nhiều, máu không lưu thông, cộng thêm da quầng mắt rất mỏng, do đó ở quầng mắt xuất hiện vầng xanh xám. Đối với trường hợp quầng mắt thâm đen không phải do bệnh gây nên như thế này, chỉ cần chú ý nghỉ ngơi, ngủ tốt là rất nhanh có thể xoá bỏ được. Nếu dùng ngón tay xoa nhẹ lên quầng mắt giúp cho các mạch máu ở đó lưu thông tốt thì hiện tượng đen quầng mắt cũng sẽ giảm nhẹ hoặc mất dần.
– Trường hợp thứ hai là do một cơ quan nào đó trong cơ thể có bệnh, khả năng nhiều nhất là bệnh thận. Các tổ chức tế bào của thận có một loại sắc tố đen. Sau khi chức năng thận suy nhược, sắc tố đen sẽ hiện ra rõ ràng, khiến cho quầng mắt thâm đen. Ngoài ra, các bệnh về nội tiết hoặc bệnh về mạch máu tim cũng gây ra sự nhiễu loạn về tuần hoàn máu trong cơ thể, các mạch máu nhỏ ở da quầng mắt bị ứ huyết lâu dài mà tạo nên quầng đen. Tóm lại, quầng mắt đen là một loại "tín hiệu", nó báo hiệu ta bị mệt mỏi quá mức, nên chú ý nghỉ ngơi; cũng có thể là một sự "cảnh báo", cho ta biết sắp có một loại bệnh nào đó, nên đi đến bác sĩ để kiểm tra sức khoẻ.
Từ khoá: Quầng mắt thâm đen.
146. Vì sao thanh, thiếu niên không nên thức thâu đêm nhiều?
Một người nếu suốt ngày tay không rời sách, vùi đầu đọc sách thì dần dần sẽ cảm thấy đầu óc căng lên, năng lực tư duy giảm thấp. Tương tự, nếu lao động thể lực thời gian kéo dài mà không được nghỉ ngơi đúng mức thì cũng sẽ tổn hại đến sức khoẻ. Cho nên muốn tiêu trừ mệt mỏi ta phải biết cách nghỉ ngơi.
Phương pháp nghỉ rất đa dạng, trong đó ngủ là điều không thể thiếu được. Ngủ là một hiện tượng sinh lí, là điều kiện không thể thiếu được để bảo đảm sức khoẻ. Nếu con người không ngủ đủ thì cuộc sống không thể kéo dài.
Vì sao ngủ lại quan trọng đến thế?
Tất cả mọi hoạt động của con người bao gồm hoạt động trí lực và thể lực đều chịu sự chỉ huy của vỏ đại não. Vỏ đại não do hơn 10 tỉ tế bào thần kinh tổ chức thành, được phân công vô cùng tinh vi, nó là bộ tư lệnh tối cao của cơ thể, có tính phản ứng rất cao, có thể cảm thụ rất nhanh tất cả những kích thích của ngoại giới và kịp thời phát ra mệnh lệnh để ứng phó lại. Nhưng đại não lại đặc biệt mềm yếu. Tế bào thần kinh đại não trong một phút không nhận được oxi thì con người sẽ mất đi cảm giác; từ 5 - 6 phút không nhận được oxi thì con người sẽ tử vong. Não tuy mềm yếu như thế, nhưng cũng có biện pháp tự bảo vệ mình, tức là khi bên ngoài kích thích quá nhiều khiến cho nó hưng phấn quá độ thì nó sẽ chuyển từ hưng phấn sang ức chế. Do đó, con người sẽ dần dần đi vào trạng thái ngủ để bảo vệ cho tế bào thần kinh não khỏi mệt mỏi quá mức và khỏi bị tổn thương. Đó gọi là "sự ức chế có tính bảo vệ".
Sau khi ngủ, thở trở nên sâu hơn, tim đập chậm hơn, cơ bắp toàn thân được thư giãn, những tế bào mệt mỏi được nghỉ ngơi, nhận được các chất dinh dưỡng mới từ máu đưa đến, làm cho cơ thể dần dần được khôi phục.
Thời gian và độ sâu của giấc ngủ sinh lí người bình thường tuỳ theo tuổi tác, tình trạng sức khoẻ và các mùa khác nhau mà thay đổi. Nói chung, người già ngủ 5 - 6 giờ là đủ, còn trẻ em đang thời kì phát triển mạnh mẽ cần ngủ 9 - 10 giờ mới thoả mãn nhu cầu cơ thể.
Thời kì thanh, thiếu niên đang là giai đoạn học tập căng thẳng, có một số thanh, thiếu niên vì tranh thủ thời gian xem sách, thường thức quá khuya, có lúc thậm chí thức thâu đêm. Thực ra làm như thế vừa không lợi cho sức khoẻ mà hiệu quả học tập cũng giảm sút, hơn nữa sẽ ảnh hưởng đến học tập của ngày hôm sau, cho nên nói "thức thâu đêm" đối với cơ thể và học tập đều là "được không bằng mất". Để nâng cao hiệu suất học tập, ngoài việc bảo đảm ngủ đầy đủ ra còn phải tham gia thích đáng một số hoạt động văn thể khác có lợi cho sức khoẻ. Vì tham gia hoạt động văn thể khiến cho một số bộ phận của vỏ đại não hưng phấn lên, để cho khu vực phụ trách học tập hay công tác trong đại não từ trạng thái hưng phấn chuyển sang trạng thái ức chế để nghỉ ngơi. Như vậy vừa có thể tiêu trừ mệt mỏi, vừa có thể rèn luyện thân thể, tăng cường sức khoẻ.
Từ khoá: Ngủ.
147. Vì sao chiêm bao?
Chiêm bao là hiện tượng sinh lí thần bí nhất, nhưng cũng bình thường nhất. Khi chiêm bao người ta hầu như bước vào một thế giới mới lạ. Trước đây, do không biết nguyên nhân chiêm bao nên người ta thường liên hệ chiêm bao với lành, dữ, hoạ, phúc của vận mệnh cuộc đời, khiến cho chiêm bao mang đầy màu sắc thần bí.
Ngày nay các nhà khoa học đã biết được, sau khi ngủ say phần lớn các tế bào của vỏ đại não được nghỉ ngơi, nhưng có một bộ phận tế bào thần kinh vẫn đang ở trạng thái hưng phấn, chính vì nguyên nhân đó mà sinh ra chiêm bao.
Chiêm bao sở dĩ rất thần bí là vì trong cảnh mộng luôn luôn xuất hiện những nội dung rất li kì, quái lạ. Vậy những nội dung này được sinh như thế nào? Có một điểm có thể khẳng định, đó là nó gắn chặt với cuộc sống thường ngày. Nội dung chiêm bao cho dù hoang đường bao nhiêu ta vẫn có thể tìm thấy những hình ảnh cuộc sống thực trong đó. Nếu bạn là một người nguyên thuỷ cách biệt với thế giới thì chắc chắn trong giấc mộng không thể xuất hiện cảnh tàu hoả, máy bay.
Có những giấc chiêm bao thường có quan hệ mật thiết với những việc ta đã từng trải qua và có ấn tượng sâu sắc, hoặc là chịu ảnh hưởng của những tình tiết nào đó trong tiểu thuyết, vô tuyến hay phim ảnh. Có một số giấc chiêm bao xuất hiện sau khi cơ thể chịu sự kích thích nào đó sinh ra. Ví dụ thời tuổi nhỏ từ 3 - 6 tuổi, vì năng lực tự khống chế còn kém, một khi uống nước nhiều, không thể nín đi tiểu suốt đêm, do dó bị kích thích buồn đi tiểu, cho nên trong chiêm bao xuất hiện mơ thấy đi tiểu, kết quả bị đái dầm.
Một nguyên nhân khác hình thành chiêm bao là do lòng mong muốn quá mãnh liệt. Ví dụ, khi bạn yêu đương, trong giấc mộng thường xuất hiện người yêu. Khi bạn muốn đến chơi một nơi nào đó, hoặc muốn ăn vật gì thì trong chiêm bao thường đạt được điều đó. Cho nên nhà tâm lí học nổi tiếng người áo là Freud đã nói: chiêm bao là sự đạt được của nguyện vọng.
Đương nhiên có rất nhiều nguyên nhân gây nên chiêm bao, có những giấc chiêm bao ngay các nhà khoa học đến nay vẫn chưa làm sáng tỏ được. Chính vì lẽ đó mà nghiên cứu đối với chiêm bao luôn là một vấn đề cuốn hút các nhà khoa học.
Từ khoá: Chiêm bao; Mộng cảnh.
148. Vì sao có người mộng du?
Mộng du là một hành vi vô ý thức có liên quan với giấc ngủ, cũng là một hiện tượng ngủ mà hàng trăm, hàng nghìn năm nay rất khó giải thích.
Ta thường gặp trường hợp như thế này, người mộng du sau khi ngủ say đột nhiên đứng dậy mặc quần áo, sau đó đi ra ngoài một vòng, hoặc làm một vài việc nào đó rồi lại trở về nằm ngủ, tự mình không hề biết những việc mình đã làm.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu mộng du đã phát hiện: có một số mộng du có liên quan với trở ngại của chức năng não. Trong trường hợp bình thường, trong khi ngủ mà nhãn cầu chuyển động nhanh, đại não sẽ truyền mệnh lệnh hành động cho hệ thống vận động cơ bắp, ví dụ mộng thấy hoả hoạn, đại não sẽ mệnh lệnh cho hai chân chạy mau. Nhưng con người còn có một cơ chế tự hãm khác, tức là khi ngủ có thể không để cho tín hiệu truyền đến hệ thống vận động cơ bắp, từ đó mà khiến cho ta có thể ngủ yên ổn trên giường. Nếu cơ chế tự hãm này mất điều hoà thì con người sẽ sản ra hành động, xuất hiện hiện tượng mộng du.
Trong các thống kê về quan sát người mộng du, người ta phát hiện thấy đại bộ phận người mộng du ở lứa tuổi dưới 15. Điều này có thể do sự phát triển đại não của họ chưa thành thục, vỏ đại não thiếu chức năng khống chế. Nói chung, đến tuổi thành niên thì chứng mộng du sẽ tự động mất đi. Vì mộng du không phải là chứng do khí chất đại não gây ra nên thông thường không cần chữa trị. Có lúc vì tinh thần hoảng sợ, lo lắng quá mức, nên dễ sinh ra chứng mộng du, hoặc làm cho chứng mộng du nặng thêm. Lúc đó cần phải tìm cách xoá bỏ trạng thái tâm lí lo sợ trên.
Đương nhiên cũng có không ít người vì não bộ bị cảm nhiễm, chấn thương hoặc có bệnh động kinh mà gây nên mộng du. Đối với trường hợp này phải đến bệnh viện để kiểm tra và điều trị.
Từ khoá: Mộng du.
149. Vì sao có một số ác mộng có thể biến thành điềm dự báo bệnh tật?
Nhà khoa học cổ Hy Lạp Aristôt (384-322 tr. CN) từng dự đoán: ác mộng rất có thể là điềm báo trước bệnh tật. Bác sĩ nổi tiếng cổ La Mã là ông Lincơ trong tác phẩm nổi tiếng của mình đã từng kể lại câu chuyện: có một nam giới thường chiêm bao thấy chân trái mình nặng như đá, bước đi không nổi. Chẳng bao lâu sau quả nhiên chân trái anh ta bị bại liệt.
Một số nhà sinh lí học, tâm lí học và y học hiện đại cũng không ngừng dày công nghiên cứu về mối quan hệ giữa ác mộng và bệnh tật. Theo nghiên cứu của họ, nếu mộng thấy nhện, rắn độc và những động vật đáng sợ khác thì thường là điềm báo sẽ mắc bệnh ngoài da; mộng thấy bị người khác truy đuổi hoặc từ trên cao rơi xuống vực thẳm, muốn gọi mà không gọi được thì phải chú ý đến bệnh tim; nếu mộng thấy não thường bị ép, thở khó khăn thì phải chú ý đến bệnh phổi; mộng thấy thường ăn phải cá thối, tôm rữa hay thực phẩm ôi thiu thì có thể là điềm báo trước về bệnh dạ dày.
Vì sao những cơn ác mộng này sẽ trở thành điềm dự báo bệnh tật? Vì bệnh tật lúc khởi phát, bệnh nhân tuy chưa có cảm giác, nhưng trong cơ thể đã xuất hiện những mầm bệnh tiềm tàng, ban ngày khi tỉnh táo, tín hiệu kích thích của bên ngoài truyền vào đại não rất nhiều, lúc đó đại não bận xử lí các tín hiệu này, cho nên những kích thích yếu của bệnh tật ở thời kì đầu thường bị đại não bỏ qua. Ngoài ra, đối với những chứng bệnh còn nhẹ đại não còn có thể điều chỉnh và thích ứng, cho nên chưa cảm giác gì. Nhưng tối đến, khi ngủ, tình hình đã khác hẳn. Lúc đó rất nhiều tế bào của đại não đã chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi, nhiều tín hiệu kích thích mạnh từ bên ngoài không thể truyền vào đại não được, chức năng điều hoà và thích ứng của đại não cũng đã bị giảm. Do đó những tín hiệu khác thường của mầm bệnh trong cơ thể có thể khiến cho các tế bào ở những bộ phận tương ứng của đại não bắt đầu hoạt động. Lúc đó ác mộng sẽ nhân cơ hội mà hình thành. Vì có một số cảnh tượng của cơn ác mộng có quan hệ với những mầm bệnh tiềm tàng trong cơ thể cho nên nó trở thành điềm dự báo về bệnh tật.
Nói đến đây, có lẽ có người sẽ trở nên lo lắng: một khi thấy ác mộng thì cho rằng mình đã bị bệnh. Vì vậy, cần nói ngay rằng, sự lo lắng đó không cần thiết. Chẳng qua nếu nội dung ác mộng tương tự xuất hiện nhiều lần thì chúng ta nên tìm nguyên nhân hai mặt về cơ thể mình để sớm có biện pháp loại bỏ hậu hoạ.
Từ khoá: Ác mộng; Điềm dự báo bệnh tật.
150. Vì sao có giấc mộng nhớ rõ, có giấc mộng không nhớ rõ?
Mỗi người chúng ta chắc đã từng chiêm bao, hơn nữa đều có kinh nghiệm sau, đó là: Sáng hôm sau tỉnh dậy có lúc có thể nhớ rõ những chi tiết trong chiêm bao, nhưng có lúc không nhớ được gì. Đó là do nguyên nhân nào?
Đó là do sau khi ta ngủ say, một hai giờ đầu là giấc ngủ sâu nhất, sau đó lại dần dần ngủ nông hơn. Trong khi ngủ lơ mơ, sự ức chế của vỏ đại não sẽ rất nông, lúc đó những cảnh mộng phát sinh ra rất giống với cuộc sống thường ngày, tính nhất quán của giấc mộng có lúc khá mạnh, sau khi tỉnh dậy, những hình ảnh lưu lại trong đầu còn rất rõ, cho nên nhớ được rõ ràng. Còn lúc vừa vào giấc ngủ hoặc khi đã ngủ sâu thì các cảnh mộng phát sinh mờ nhạt, chắp vá, thời gian ức chế của vỏ đại não còn dài cho nên sáng mai tỉnh dậy thường không nhớ rõ.
Ngoài ra, những việc chúng ta thường gặp hoặc tiếp xúc gây ấn tượng mạnh thì hồi ức trong mộng, ngược lại là yếu ớt và mơ hồ. Còn đối với một số việc trong quá khứ đã lâu, chỉ cần thấy một lần, hơn nữa lại là việc không chú ý lắm; khi ta đang tỉnh không hề xuất hiện trước mặt nhưng khi ngủ vì cảm giác kích thích yếu được mở rộng nên làm cho cảnh tượng đó xuất hiện trước mặt ta rất rõ ràng. Đó cũng là nguyên nhân làm cho ta nhớ rõ hoặc không nhớ rõ cảnh chiêm bao.
Từ khoá: Chiêm bao.