81. Vì sao lưỡi, môi khi cắn bị thương sẽ lành mau hơn những chỗ khác?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
89. Vì Sao Lưỡi Có Thể Biết Được Hương Vị Thức Ăn? - 90. Vì Sao Người Ta Ví Mắt Là Máy Ảnh?

❊ ❊ ❊

Tục ngữ nói: "Răng và lưỡi cũng có lúc đánh nhau", quả thực đúng như thế. Có người khi ăn vì không cẩn thận, lưỡi và môi bị răng cắn giập. Nhưng không vì thế mà người ta cảm thấy lo lắng, bởi vì vết thương này khỏi rất nhanh.

Vì sao lại thế? Hiện nay người ta đã biết rất rõ, đó là vì nước bọt đã phát huy tác dụng. Nước bọt là chất dịch hỗn hợp của các tuyến nước bọt tiết ra trong miệng. Người lớn hằng ngày tiết ra khoảng 1000 – 1500 ml nước bọt. Theo phân tích, trong đó tỉ lệ nước chiếm 99%, phần còn lại là bạch cầu dính, bạch cầu axit amid và một số nguyên tố vi lượng vi lượng khác cũng như men amylaza để có thể tiêu hoá các hợp chất khác và cacbon. Ngoài ra, trong nước bọt còn có một loại men hoà tan vi khuẩn, nó có thể hoà tan và diệt chết vi khuẩn, tiêu độc cho vết thương. Mấy năm gần đây, người ta còn phát hiện trong nước bọt còn có một chất kích thích biểu bì sinh trưởng. Nó có thể thúc đẩy sự sinh trưởng và phân chia các tế bào, tăng tốc hợp thành chất protêin, có lợi cho việc làm lành vết thương. Rất nhiều động vật có vú sau khi bị thương thường dùng lưỡi liếm vào vết thương, đó là vì trong nước bọt của chúng có chất kích thích biểu bì sinh trưởng này, do đó giúp cho vết thương mau lành.

Ngoài ra nhiệt độ trong miệng thường cao hơn so với bề mặt da trên cơ thể, thần kinh và mạch máu ở lưỡi, môi cũng dày đặc, đó chính là điều kiện lí tưởng để chữa trị vết thương. Đúng là nhờ những nguyên nhân này mà lưỡi và môi sau khi bị thương lành nhanh hơn các bộ phận khác.

Từ khoá: Nước bọt; Men hoà tan vi khuẩn; Chất sinh trưởng biểu bì.

82. Vì sao nói nước bọt vô cùng quý báu?

Nước bọt do các tuyến nước bọt lớn nhỏ tiết ra, chịu sự khống chế của vỏ đại não. Người lớn bình quân mỗi ngày tiết ra khoảng 1000 ml nước bọt, cho nên chốc chốc người ta lại nuốt nước bọt, chẳng qua vì tập trung làm việc, hoặc học tập, hoặc vui đùa nên không cảm thấy mà thôi.

Miệng của người luôn giữ được nhuận ướt, đó là nhờ nước bọt không ngừng được tiết ra, đặc biệt là khi đói nhìn thấy thức ăn thì nước bọt tiết ra càng nhanh. Vậy tác dụng của nước bọt có phải là chỉ làm trơn khoang miệng không? Không phải chỉ có thế! Chức năng của nước bọt nhiều hơn thế nhiều!

Ngoài thành phần nước ra, trong nước bọt còn chứa men amylaza, chất protêin, bạch cầu miễn dịch, axit amin, kích thích tố và lượng rất nhỏ của một số chất vô cơ khác như natri, kali, clo vv..

Nước bọt là "dịch tiêu hoá". Nó chứa men amylaza khiến cho chất amylaza trong thức ăn sau khi đưa vào miệng là bắt dầu quá trình tiêu hoá.

Nước bọt là "chất hoà tan". Nó có chức năng làm ướt và hoà tan thức ăn. Khi thức ăn đưa vào miệng, nước bọt sẽ thẩm thấu lẫn vào, thông qua nhai nghiền thức ăn, nước bọt được hoà trộn đều không những làm cho thức ăn dễ nuốt mà sau khi thức ăn xuống dạ dày càng dễ tiêu hơn.

Nước bọt là "chất làm nhuận ướt". Khi ta nói chuyện phải nhờ vào thanh đới, yết hầu, đầu lưỡi, răng, môi để phát âm. Nếu không có nước bọt thì không thể nói một cách dễ dàng trơn tru, đặc biệt là khi phải nói chuyện dài hoặc diễn thuyết lâu, nước bọt tiết ra không kịp thì bắt buộc phải uống mấy ngụm nước để bổ sung.

Nước bọt là "chất làm sạch". Chức năng này của nước bọt đối với miệng rất quan trọng. Nó giúp ta thanh lọc cặn của thức ăn ở trong khoang miệng, bảo đảm cho miệng sạch sẽ. Trong nước bọt chứa chất men hòa tan vi khuẩn và bạch cầu miễn dịch A, có tác dụng sát khuẩn tiêu độc, nên nó tiêu diệt vi khuẩn trong miệng bất cứ lúc nào.

Ngoài ra, nước bọt còn là "chất bảo vệ". Chất natri bicacbonat và protêin đặc trong nước bọt sau khi đi vào dạ dày có thể trung hoà dịch toan quá nhiều và phủ lên niêm mạc dạ dày một lớp để bảo vệ đồng thời tăng cường chức năng tiêu hoá của dạ dày. Cuối cùng, điều đặc biệt cần được nhắc đến là nước bọt có tác dụng giải độc đối với những chất gây khối u nằm trong thức ăn. Cho nên thậm chí có người gọi nước bọt là "chất chống khối u thiên nhiên". Một số nhà y học đã đề xướng, mỗi miếng thức ăn phải nhai tối thiểu 30 giây để cho nước bọt và thức ăn hoà trộn đầy đủ, như thế mới có ích cho tiêu hoá và còn có thể làm "tan rã" những chất gây khối u.

Nước bọt là rất quý, chúng ta không nên coi thường nước bọt.

Từ khoá: Nước bọt; Hoà tan; Làm nhuận ướt; Tiêu độc; Tiêu hoá.

83. Răng có phải là một "mẩu xương" đặc không?

Bộ phận cứng nhất trong cơ thể là răng. Mới nhìn qua, răng giống như một mẩu xương đặc, thực ra kết cấu của nó không đơn giản như thế.

Nhìn bề ngoài răng có thể phân thành ba bộ phận, đó là: Thân răng, cổ răng và chân răng. Phần lộ ra ngoài lợi là thân răng, phần cắm chặt trong xương hàm là chân răng, còn phần giữa hai bộ phận này chỗ lợi là cổ răng. Điều quan trọng là kết cấu phần trong và phần ngoài răng không giống nhau.

Mặt ngoài của răng là một lớp men rất cứng và bóng. Độ cứng của nó vượt xa thép. Bên trong lớp men là lõi răng, vào sâu nữa là khoang tuỷ răng. Trong khoang tuỷ răng đầy mạch máu và thần kinh.

Men răng chủ yếu để bảo vệ răng. Tuy nó cứng khác thường và chịu bền mòn, nhưng lại dễ bị chất chua phá hoại. Với người không có thói quen đánh răng, vi khuẩn và cặn thức ăn đọng lại ở chân và kẽ răng lâu ngày, vi khuẩn sẽ phân giải các chất cặn, sản sinh ra chất chua, dần dần ăn mòn phòng tuyến men răng, khoét chân răng thành lỗ thủng. Những lỗ thủng này sẽ là nơi trú ngụ của vi khuẩn và cặn răng, khiến cho chất chua sinh ra ngày càng nhiều hơn, dẫn đến chân răng bị đục rỗng sâu hơn.

Khi lỗ thủng sâu đến tuỷ răng thì thần kinh trong đó lộ ra, làm đau không chịu nổi. Cho nên tuyệt đối không được xem răng như là một mẩu xương đặc mà phải có ý thức bảo vệ nó thật cẩn thận.

Từ khoá: Răng; Men răng; Khoang tuỷ răng.

84. Vì sao người lại mọc răng hai lần?

Các cơ quan trong cơ thể chỉ sinh ra một lần, sau khi sinh ra thì không thay đổi nữa. Chỉ có răng trong đời người mọc hai lần. Lần mọc đầu tiên gọi là răng sữa. Răng sữa nhỏ, không bền, tất cả có 20 cái. Vì nó bắt đầu mọc khi đang bú cho nên gọi là răng sữa. Răng mọc lần thứ hai là răng cố định. Nó bắt đầu thay thế răng sữa từ 6 tuổi. Thông thường răng cố định khá lớn, bền mài mòn, hai hàm có tất cả 32 răng, cũng có người chỉ có 28 răng.

Trong quá trình sinh trưởng phát triển, răng sữa và răng cố định có chức năng hoàn toàn khác nhau. Răng sữa ngoài nhai thức ăn ra còn có thể kích thích cho xương quai hàm phát triển, tạo điều kiện cho răng cố định sinh trưởng, còn răng cố định chủ yếu dùng để nhai thức ăn. Một em bé nếu răng sữa bị sâu hoặc bị rụng quá sớm thì xương lợi sẽ phát triển không tốt, răng cố định cũng mọc không tốt. Như vậy không những ảnh hưởng đến chức năng nhai mà còn dễ dẫn đến các bệnh về răng.

Xương quai hàm của ta có quá trình phát triển từ nhỏ đến to. ở thời kì trẻ em, xương hàm còn bé nếu mọc bộ răng cố định thì sẽ không thể đứng vững trên giá xương đó được. Sau khi sang tuổi trưởng thành, xương quai hàm đã lớn lên, nếu chỉ có 20 răng sữa thì xương quai hàm quá to, hơn nữa răng sữa yếu không đảm đương được nhiệm vụ nhai nghiền thức ăn nhiều.

Trong quá trình tiến hoá lâu dài của sinh vật, con người đã phát sinh sự biến đổi mang tính thích ứng cao: thời trẻ tạm thời nhờ răng sữa để nhai và kích thích xương hàm phát triển; đến lứa tuổi nhất định răng sữa sẽ rụng đi, răng cố định thay thế vào đó.

Từ khoá: Răng sữa; Răng cố định.

85. Vì sao răng có hình dạng khác nhau?

Bình thường một người trưởng thành có 32 răng, tất cả được chia thành hai hàng trên và hàng dưới đều đặn.

Nếu quan sát kĩ ta sẽ phát hiện: có răng dẹt, răng nhọn, lại có răng thân hơi tròn, đó là vì các loại răng đảm nhiệm những công việc khác nhau. Do được phân công nhiệm vụ khác nhau, cho nên hình dạng của chúng cũng có sự khác biệt.

Răng mọc ở chính giữa mặt trước gọi là răng cửa, còn gọi "răng cắt", chúng chuyên cắt thức ăn. Ví dụ khi ta ăn bánh, trước hết dùng răng cửa cắn một mẩu. Cắn cắt chính là nhiệm vụ của răng cửa, cho nên răng cửa có hình rộng và dẹt, giống như lưỡi dao dùng để cắt thức ăn.

Gần hai bên khoé miệng, mỗi bên có một đôi răng hơi nhọn gọi là "răng nanh" hoặc "răng chó", chuyên xé nát thức ăn. Răng nanh của người so với răng nanh của hổ và sư tử nhỏ hơn nhiều, vì động vật ăn thịt sống đòi hỏi răng nanh nhọn và dài để lực xé khoẻ, còn người chủ yếu ăn thức ăn chín nên răng nanh không cần thật phát triển.

Hàng răng ở phía trong gọi là "răng hàm", chúng giống như hai thớt trên dưới của cối xay, dùng để nghiền nát và làm rữa thức ăn.

Răng có thể cắt, xé và nghiền thức ăn. Nếu dùng răng cắn những vật cứng như cắn hạt đào và mở nắp chai nước giải khát, vv.. dễ làm cho răng mẻ, thậm chí gãy; nhưng nếu chỉ ăn thức ăn mềm lại khiến cho răng và xương hàm không thể phát triển tốt. Do đó ta vừa không nên dùng răng cắn những vật quá cứng, nhưng cũng không nên chỉ toàn ăn những thức ăn mềm mà phải ăn cả những thứ hơi thô cứng một chút, như cọng rau, cơm cháy. vv.. Lúc ăn phải nhai kĩ và nuốt chậm để khiến cho răng, lợi và xương hàm nhận được sự kích thích vừa phải và sự rèn luyện cần thiết.

Từ khoá: Răng sữa; Răng nanh; Răng hàm.

86. Vì sao dùng tăm xỉa răng không tốt?

Xỉa răng là thói quen không tốt. Nếu như mọi người biết được răng của ta vốn sắp hàng ngay ngắn, các kẽ hở giữa các chân răng đều được lợi và chân răng điền đầy, cho nên người có hàm răng chỉnh tề thì giữa các răng sẽ không có khe hở, trừ khi giữa xương quai hàm và tổ chức chân răng bị co lại mới xuất hiện kẽ răng. Có một số người thường dùng tăm, hoặc cành cây nhỏ, hoặc những vật khác để xỉa răng khiến cho kẽ răng rộng dần ra, những người kẽ răng vốn đã rộng sẽ vì thế mà ngày càng rộng hơn. Như vậy thức ăn dễ giắt vào kẽ răng. Vì sao nói dùng tăm xỉa răng khiến cho kẽ răng rộng thêm? Như ta đã biết, tăm và que diêm đều là chất gỗ, nếu chúng ta đặt nó dưới kính hiển vi để quan sát sẽ phát hiện thấy tăm và que diêm có vô số sợi xơ.

Khi bạn dùng nó để xỉa răng thì những xơ này sẽ giắt vào chân răng. Có lúc vì không cẩn thận, chân răng bị rách, vi khuẩn nhân cơ hội đó mà làm cho chân răng viêm nhiễm, xương quai hàm và chân răng sẽ bị tổn thương, dẫn đến các tổ chức chung quanh chân răng co lại, khiến cho kẽ răng rộng ra. Hơn nữa, thường dùng tăm xỉa răng thì lực tác dụng sẽ khiến cho chân răng dần dần lỏng ra, như thế không những dễ giắt thức ăn vào mà còn dễ sinh sâu răng. Từ đó có thể thấy dùng tăm xỉa răng rất có hại, cho nên các bác sĩ nha khoa thường khuyên ta không nên dùng tăm xỉa răng.

Nếu gặp phải trường hợp thức ăn giắt vào chân răng mà không dùng tăm thì giải quyết bằng cách nào? Súc miệng là phương pháp đơn giản, dễ làm nhất. Chỉ cần bạn ngậm một ngụm nước, dùng hai cơ má súc liên tục, nhờ lực xung kích của nước làm cho cặn bong ra. Nếu không thì dùng phương pháp bàn chải để đánh răng, ép sát bàn chải vào kẽ răng rồi cọ lên xuống liên tục. Nếu không được có thể dùng sợi chỉ luồn qua kẽ răng kéo lên kéo xuống để cho cặn bong ra. Nếu những phương pháp này đều không được thì đành phải dùng đầu mũi kim để gỡ, nhưng phải cẩn thận để đề phòng các tổ chức chân răng bị tổn thương. Thức ăn giắt vào kẽ răng là do hai hàm răng trên và dưới tiếp xúc gây nên, khi cần thiết, phải nhờ bác sĩ giúp đỡ.

Từ khoá: Xỉa răng; Khe răng; Chân răng.

87. Vì sao có người chỉ nhai một bên hàm?

Bình thường nhai thức ăn là nhờ hai hàm răng vận động có tính đối xứng để răng trên và răng dưới phối hợp nghiền nát thức ăn. Trong quá trình nhai, thức ăn bị cắt, nghiền nhỏ và hoà lẫn với nước bọt tạo thành hồ lỏng để dễ nuốt và dễ tiêu hoá. Đồng thời nhai cũng giúp cơ hàm và răng phát triển được bình thường. Nhưng trong cuộc sống rất nhiều người có thể vì một bên hàm răng bị khuyết thiếu, hoặc bị sâu, hoặc bị khe răng rộng nên có thói quen chỉ nhai một phía. Trong y học gọi đó là cách nhai lệch, là thói quen không tốt, có hại cho sức khoẻ.

Thông thường, nhai lệch tạo thành quai hàm chỉ phát triển một bên, cơ quai hàm bên kia bị co lại, nhìn từ bề ngoài hình dạng bộ mặt bị biến lệch, cơ mặt bên hàm nhai phát triển tốt, khuôn mặt đầy đặn, còn khuôn mặt bên kia phát triển kém hơn, má hóp. Nếu nghiêm trọng có thể làm cho khuôn mặt phát triển không cân xứng, ngay sống mũi cũng bị lệch đi.

Người thường nhai một bên thì răng bên đó làm việc nặng hơn. Mặt răng bị mài mòn nhiều hơn dẫn đến men răng mau hỏng, hoặc viêm tuỷ răng, còn hàm bên kia do vận động ít nên tổ chức chung quanh răng mỏng và yếu, dễ tích cặn răng, gây sâu hoặc viêm răng.

Ngoài ra, người nhai lệch vì chỉ một bên răng làm việc, làm cho thức ăn chưa được nhai kĩ đã nuốt, tăng gánh nặng cho dạ dày, lâu ngày dễ gây ra bệnh dạ dày.

Vì vậy, người nhai lệch nên sửa chữa thói quen này, nếu do một bên hàm thiếu răng, hoặc răng bị sâu cần đi bệnh viện chữa trị.

Từ khoá: Nhai lệch; Cơ hàm.

88. Vì sao có người lúc ngủ hay nghiến răng?

Có người, nhất là thanh, thiếu niên buổi tối khi ngủ thường nghiến răng. Đó là vì sao? Có rất nhiều nguyên nhân gây ra nghiến răng. Như ta đã biết, khi ngủ vỏ đại não ở trạng thái ức chế. Nhưng mức độ vỏ đại não ức chế sâu và nông có khác nhau. Nếu vỏ đại não ức chế sâu thì giấc ngủ say, ức chế nông sẽ có thể có những bộ phận trong khi ngủ vẫn còn hoạt động. Khi chiêm bao, sự hưng phấn của vỏ đại não nói chung là yếu, cho nên ta không có được động tác cụ thể gì. Khi sức hưng phấn của vỏ đại não khá mạnh thì có người sẽ nói mơ, hoặc động chân tay, có trẻ em có thể khóc, cười, miệng nói những câu mơ hồ, thậm chí có người còn bật dậy đi ra khỏi giường gọi là "mộng du". Nghiến răng thông thường xảy ra trong những trường hợp giống như thế.

Ngoài ra, bác sĩ còn cho ta biết, khi ngủ nghiến răng có thể là do trong ruột có giun. Vì chất độc do giun sản sinh ra rất dễ kích thích thần kinh của cơ hàm, khiến cho nó không bị khống chế, kết quả đêm ngủ thường nghiến răng.

Từ khoá: Nghiến răng; Vỏ đại não; Giun.

89. Vì sao lưỡi có thể biết được hương vị thức ăn?

Có người gọi đầu lưỡi là "máy nếm". Quả thực đúng thế, các vị: chua, cay, đắng, ngọt, bùi của thức ăn trước hết đều do lưỡi thưởng thức.

Đầu lưỡi vì sao có thể phân biệt được hương vị? Bí mật là ở chỗ trên mặt lưỡi có các "gai vị giác", dưới đây gọi tắt là "gai”.

Gai là cơ quan cảm giác hương vị, nó không những nằm ở trong các núm mọc trên mặt lưỡi mà còn phân bố ở dưới lưỡi, yết hầu, hàm ếch trong khoang miệng. Gai vị giác ở thời kì trẻ em phát triển nhất, sau đó dần dần giảm đi đến tuổi già thì giảm gần hết. Cho nên đừng cho rằng trẻ em không phân biệt được hương vị, mà thực tế cảm giác hương vị của chúng còn nhạy hơn cả người lớn. Chính vì vậy cho trẻ em uống thuốc rất khó. Người lớn uống thuốc cảm thấy đắng ít, nhưng trẻ em vừa bỏ vào miệng đã khóc ngay.

Gai vị giác có kết cấu hình bầu dục, Mặt ngoài của nó có một lớp tế bào bao phủ, bên dưới là những tế bào vị giác nhỏ, đầu cuối của các tế bào vị giác là lông xơ gọi là lông vị giác. Đầu cuối thần kinh cảm giác chi phối gai vị giác, bao bọc chung quanh tế bào vị giác, giống như dây điện truyền hưng phấn của tế bào vị giác lên trung khu vị giác của đại não.

Kết cấu của gai tuy muôn hình muôn vẻ, nhưng thông qua vị giác mà nó cảm thụ được có thể chia thành bốn loại là: ngọt, chua, đắng, mặn. Những hương vị khác như: chát, cay, vv.. đều do 4 loại vị trên tổng hợp mà thành. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học điều đó có thể là do tế bào vị giác chỉ có 4 loại, mỗi loại cảm thụ sự kích thích của một hương vị. Đối với con người mà nói những gai cảm nhận vị ngọt phân bố khá nhiều trên đầu lưỡi; những gai cảm nhận vị chua thì phân bố hai bên nửa sau của lưỡi; những gai cảm nhận vị đắng tập trung ở mặt trên cuống lưỡi; những gai cảm nhận vị mặn phân bố hai bên nửa trước của mặt lưỡi và đầu lưỡi. Ngoài các gai ra, lưỡi còn có một lượng lớn các cơ quan xúc giác và cảm nhận nhiệt độ, ở thần kinh trung khu, những cảm giác này được tổng hợp lại, đặc biệt là khi có khứu giác tham gia thì có thể sản sinh ra những cảm giác phức hợp rất đa dạng. Hiểu được những điều này, khi ăn chúng ta thử kiểm tra để phân biệt xem có đúng là bốn loại vị giác ngọt, chua, đắng, mặn trên đây phân bố trên các vị trí như thế của lưỡi không.

Từ khoá: Lưỡi; Gai vị giác; Tế bào vị giác.

90. Vì sao người ta ví mắt là máy ảnh?

Có người nói, hai mắt giống như hai máy ảnh đặt trên đầu, ví von như thế rất có lí.

Bên ngoài nhãn cầu mắt là tầng giác mạc không màu trong suốt, giống như ống kính của máy ảnh. Vì nó luôn được nước mắt bôi trơn, cho nên thường ướt, không thể bị bụi che. ở giữa nhãn cầu có một lỗ nhỏ gọi là đồng tử, ánh sáng từ bên ngoài thông qua đồng tử đi vào võng mạc ở đáy nhãn cầu. Khi máy ảnh chụp ảnh, người ta thường căn cứ vào độ sáng tối của ánh sáng mà điều chỉnh ống kính. Đồng tử cũng tương tự, khi ánh sáng mạnh quá thì đồng tử thu nhỏ lại, cản bớt lượng ánh sáng quá nhiều, khi ánh sáng yếu, đồng tử lại tự động mở ra để cho ánh sáng vào được tối đa.

Ta thường có kinh nghiệm sau: khi từ ngoài sáng bước vào phòng tối, lập tức cảm thấy trước mắt là một đám tối đen, không trông rõ vật gì, sau một thời gian ngắn mới thích nghi được. Đó là vì con ngươi khi từ chỗ sáng đi vào chỗ tối, đồng tử bắt đầu dần dần mở ra cho mãi đến khi thích ứng được với môi trường tối mới thôi.

Trong máy chụp ảnh, phim là bộ phận cảm quang cuối cùng để thành ảnh. Võng mạc của mắt cũng có chức năng tương tự. Vì trên võng mạc của mắt có vô số tế bào cảm quang, khi chúng tiếp thu được các tín hiệu kích thích của ánh sáng sẽ biến tín hiệu đó thành xung động thần kinh, thông qua thần kinh thị giác truyền lên trung khu thị giác của đại não. Như vậy con người có thể cảm nhận được một cách chân thực hình ảnh và màu sắc của mọi vật ở bên ngoài.

Từ khoá: Giác mạc; Đồng tử; Võng mạc; Máy ảnh.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.