101. Vì sao đeo kính râm phải chú ý đến thời gian, địa điểm và mùa?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
109. Vì Sao Mũi Có Thể Ngửi Được Các Loại Mùi? - 110. Trong Cơ Thể, Khí Quản Nào Lâu Đời Nhất?

❊ ❊ ❊

Có thể do ảnh hưởng của phim và vô tuyến truyền hình mà một số nam, nữ thanh nhiên rất thích đeo kính râm. Hơn nữa, họ không phân biệt hoàn cảnh, không nhìn thời gian, không chú ý mùa và thời tiết biến đổi, suốt ngày trên sống mũi vẫn gác cái kính râm. Trong con mắt họ, như thế là rất "chúa", rất phong độ... Thực ra, điều đó rất có hại cho thị lực của họ.

Vì sao thường xuyên đeo kính râm lại ảnh hưởng đến thị lực? Nói một cách thông thường thì mắt ta giống như máy ảnh, đeo kính râm giống như trước ống kính máy ảnh còn thêm kính lọc màu. Như ta biết, ánh sáng tự nhiên do 7 màu: đỏ, da cam, vàng, lục, xanh, lam và tím hợp thành. Tác dụng của kính lọc màu là chỉ cho phép những tia sáng có màu sắc giống với nó đi qua, những tia sáng có màu sắc gần giống với nó chỉ qua được một phần, nó không cho phép những tia sáng có màu khác xa với nó đi qua. Như thế là kính lọc màu đã giảm lượng ánh sáng đi qua nó, hơn nữa thành phần ánh sáng đi qua cũng rất khác nhau.

Kính râm quả thực có giảm được sự kích thích của ánh sáng mạnh đối với mắt, tránh được tia tử ngoại làm hại mắt. Cho nên khi tắm nắng hoặc tiếp nhận tia tử ngoại để điều trị hoặc khi làm việc dưới ánh nắng chói chang thì mới cần đến kính râm. Còn khi trời âm u, lúc hoàng hôn, ở trong nhà hoặc xem ti vi, xem phim hoặc ở những nơi ánh sáng yếu đều không nên đeo kính râm. Nếu bất chấp điều kiện bên ngoài như thế nào vẫn đeo kính râm liên tục, lâu dài sẽ làm giảm khả năng thích ứng với ánh sáng tự nhiên của nhãn cầu, dẫn đến thị lực giảm yếu. Đồng thời còn có thể giảm thấp độ nhạy cảm của mắt với một số ánh sáng màu nào đó, dẫn đến bệnh mù màu, nghiêm trọng hơn là gây ra đau đầu, chóng mặt và chứng không thể nhìn lâu.

Từ khoá: Kính râm; Kính lọc màu.

102. Vì sao có bệnh "cận thị giả"?

Con mắt bình thường khi nhìn xa không cần điều tiết, khi nhìn gần mới cần điều tiết.

Mắt cận thị có thể chia thành hai loại: một loại là do độ dài phía trước và phía sau của nhãn cầu (còn gọi là đường kính trước sau) vượt quá độ dài bình thường 24 mm. Loại cận thị này gọi là "cận thị thật", còn gọi là "cận thị trục".

Còn một loại cận thị khác do thói quen sử dụng mắt không đúng quy tắc gây nên.

Ví dụ đọc sách quá lâu, đọc sách hay ngồi viết dưới ánh sáng quá mạnh hoặc quá yếu, cự li sách và mắt quá gần, hoặc vừa đi đường vừa đọc sách, nằm đọc sách, hoặc đi tàu, đi ô tô lắc lư đọc sách, tư thế ngồi đọc và viết không đúng, khiến cho cơ mắt ở trạng thái điều tiết quá căng thẳng. Ngoài ra thuỷ tinh thể trong mắt giống như một thấu kính lồi, thường bắt nó lồi về phía trước ở giới hạn tối đa để thích ứng với nhu cầu. Cơ mắt giống như dây chằng, nếu thường xuyên ở trạng thái kéo căng, thời gian lâu sẽ mất đi tác dụng đàn hồi, tức là cơ mắt vì phải điều tiết căng thẳng nên sinh ra mệt mỏi, thậm chí co giật, cuối cùng khiến cho thị lực giảm thấp, do đó thành bệnh cận thị. Loại cận thị này trong y học gọi là "cận thị giả", cũng gọi là cận thị "có tính chức năng". Lúc đó mặc dù đường kính trước sau của nhãn cầu vẫn bình thường, nhưng nhìn xa không rõ. Để tránh bệnh "cận thị giả" cần kịp thời uốn nắn thói quen dùng mắt không hợp lí, nhờ bác sĩ nhãn khoa chỉ ra những phương pháp điều trị thích hợp để xoá bỏ tình trạng căng thẳng của cơ mắt, khiến cho thị lực được cải thiện và trở lại bình thường. Sự xử lí này cần phải kịp thời, nếu để thời gian lâu thì phần trong của mắt và nhãn cầu sẽ phát sinh biến đổi, lúc đó sẽ biến thành "cận thị thật".

Từ khoá: Cận thị; Cận thị giả; Cơ mắt.

103. Vì sao có người mắt không phân biệt được màu sắc?

Trời xanh mây trắng, hoa đỏ lá xanh... Vạn vật hiện ra trước mắt mọi người một bức tranh phong cảnh muôn màu muôn vẻ. Nhưng có người vì mắt không phân biệt được màu sắc mà cảm thấy mông lung, mờ nhoè, thậm chí chỉ thấy một vùng màu xám. Y học gọi hiện tượng này là "mù màu".

Như ta đã biết, màu sắc dù thiên biến vạn hoá, nhưng không ngoài ba màu sắc cơ bản là: đỏ, lục, lam trộn lẫn mà thành. Trên võng mạc của mắt có một loại "tế bào hình nón", nó có khả năng cảm xúc đặc biệt với ba loại màu này. Vì tất cả các màu khác đều do ba loại màu cơ bản hỗn hợp theo những tỉ lệ khác nhau mà thành, cho nên mắt có thể phân biệt được đủ các loại màu sắc. Nếu vì một nguyên nhân nào đó mà thiếu khả năng phân biệt được màu đỏ thì gọi là "mù màu đỏ", không thể phân biệt màu lục thì gọi là "mù màu lục", đối với màu lam không phân biệt được thì gọi là "mù màu lam". Không phân biệt được hai màu đỏ và lục thì gọi là "mù màu đỏ, lục". Nếu đối với cả ba màu không phân biệt được thì gọi là "mù màu hoàn toàn ". Bình thường hay gặp là mù màu đỏ và màu lục, còn mù màu lam và mù màu hoàn toàn rất ít gặp.

Vậy mù màu phát sinh như thế nào?

Điều này cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nói chung, người ta cho rằng do di truyền bẩm sinh, tức là bố mẹ có người mù màu thì con cái cũng có thể sẽ mù màu.

Còn vì thần kinh thị giác hay vì võng mạc gây nên là điều rất ít thấy.

Người mù màu không thể làm những công việc cần phân biệt màu sắc. Ví dụ như không thể lái ô tô, vì người lái xe đòi hỏi phải phân biệt được đèn xanh, đèn đỏ. Nếu không phân biệt được sẽ xảy ra tai nạn.

Từ khoá: Mù màu; Tế bào hình chóp.

104. Trước khi bị cận thị có tín hiệu gì không?

Rất nhiều người cho rằng: từ mắt bình thường biến thành mắt cận thị là một quá trình thay đổi dần dần. Thực ra, trước khi thị lực giảm yếu, mắt sẽ có một số triệu chứng dự báo nào đó. Những tín hiệu này rất quan trọng, vì nó nhắc nhở chúng ta cần sớm có biện pháp đề phòng.

Tín hiệu quan trọng nhất trước khi có bệnh cận thị là cảm giác mắt mệt mỏi. Ví dụ nhiều học sinh cấp I, cấp II, khi đọc sách thời gian lâu, trước mắt thường xuất hiện hình ảnh dòng chữ chồng lên nhau thành chuỗi. Khi nhìn các vật phía trước thường có cảm giác lúc gần lúc xa. Có một số người sau khi nhìn xa một thời gian, khi nhìn gần cảm thấy mắt mờ, không rõ. Những hiện tượng này chứng tỏ mắt quá mệt mỏi, các cơ trong mắt đã mất đi sự điều tiết nhanh nhạy. Trường hợp này nếu tiếp tục kéo dài thì sẽ sinh bệnh cận thị. Ngoài ra, đồng thời với mắt mệt mỏi, một số người có thể có cảm giác nóng trong mắt, hoặc mắt căng đau, nghiêm trọng hơn là thấy đau đầu và đau sau cổ. Những chứng này đều do thần kinh cảm giác của mắt bị mệt mỏi gây nên dị ứng về cảm giác.

Vì vậy, bác sĩ thường nhắc chúng ta, nhất là các bậc cha mẹ phải chú ý "những tín hiệu cận thị" phát sinh đối với con cái để kịp thời uốn nắn hoặc đề phòng bệnh cận thị.

Từ khoá: Cận thị; Mắt mệt mỏi; Cơ mắt.

105. Vì sao nông dân ở miền núi cũng bị bệnh cận thị?

Thường người ta cho rằng: mắt cận thị là do dùng mắt không đúng cách gây ra, tức là đọc sách hoặc viết chữ ở cự li quá gần, hoặc đọc sách dưới ánh sáng yếu, hoặc đọc sách lâu, hoặc xem ti vi thời gian dài gây nên. Thực ra cách nghĩ này chưa đầy đủ, vì có người dùng mắt bình thường mà cũng bị cận thị. Ví dụ những người nông dân sống ở nông thôn, rừng núi, quanh năm cày bừa, chăn nuôi là chính nhưng vẫn có người bị cận thị. Vậy nguyên nhân vì đâu?

Cận thị là chỉ ánh sáng song song từ xa đến không tập trung thành ảnh trên võng mạc mà ảnh nằm phía trước võng mạc. Do đó nhìn đồ vật thấy mờ, không rõ. Nhưng ánh sáng từ gần đến tương đối phân tán cho nên có thể thành ảnh trên võng mạc, vì vậy có thể nhận được hình ảnh tương đối rõ. Đó là loại do khúc xạ của thuỷ tinh thể không chuẩn mà ta thường gặp. Nhưng kết quả nghiên cứu của mấy chục năm gần đây chứng tỏ: cận thị không những liên quan đến việc dùng mắt không hợp lí mà còn liên quan với di truyền. Đặc điểm của nó là: (1) Có liên quan với chủng tộc. Người da vàng mắc bệnh cận thị nhiều hơn người da trắng và da đen. (2) Có liên quan với lịch sử gia tộc, tức là trong nhà có người cận thị thì những thành viên khác của gia đình tỉ lệ cận thị tăng cao. Vì vậy, mặc dù có những người sống ở nông thôn, miền núi, tuy không bị ảnh hưởng bởi dùng mắt không hợp lí, nhưng vẫn bị cận thị. Do đó các thành viên trong gia đình có người cận thị nên chú ý dùng mắt đúng quy tắc hơn so với những người bình thường để bảo vệ mắt được tốt hơn.

Từ khoá: Cận thị; Nhân tố di truyền.

106. Vì sao một số người mắt bị "tán quang"?

Người mắt bị tán quang nhìn vật gì cũng mơ hồ không rõ. Vì sao lại có loại bệnh này? Nguyên nhân rất nhiều, nhưng chủ yếu là do độ cong của giác mạc mắt phát sinh biến đổi gây nên. Giác mạc là ô cửa ở phía trước nhãn cầu, nó không những phải trong suốt, trơn tru mà còn phải có hình bán cầu hoàn chỉnh. Chức năng chủ yếu của nó là tập trung các tia sáng lại, khiến cho các tia đó đi vào đồng tử tập trung ở tiêu điểm nằm trên võng mạc của đáy mắt, sau đó phản ánh lên đại não khiến cho con người nhìn rõ các vật bên ngoài. Cho nên khi độ cong bán cầu của giác mạc phát sinh biến đổi thì tương tự như khi kính mắt không được mài phẳng, bề mặt lồi lõm không quy chuẩn, do đó ánh sáng sẽ không tập trung thành tiêu điểm trên võng mạc mà phân tán về các phía, làm cho ảnh vật mơ hồ. Đó gọi là "tán quang". Sự tán quang này không có quy tắc, rất khó dùng kính để điều chỉnh.

Ngoài ra, có một loại tán quang có quy tắc, tức là do độ cong của giác mạc ở một phía nào đó không vuông góc với hướng ánh sáng đến gây nên. Có rất nhiều dạng, có dạng đơn thuần tán quang viễn thị, có dạng đơn thuần tán quang cận thị, có dạng tán quang cả viễn thị và cận thị vv.. Phần nhiều chúng là do năng lực khúc xạ của giác mạc khác nhau gây nên đồng thời tồn tại mắt bị cận thị hoặc viễn thị, dạng bệnh này có thể dùng kính để điều chỉnh.

Giác mạc không phẳng, độ cong không quy tắc gây nên bệnh tán quang có hai loại: một loại do di truyền bẩm sinh, còn một loại do giác mạc bị bệnh sau này. Ví dụ giác mạc bị loét hoặc bị chấn thương, sau khi khỏi để lại vết sẹo gây cho giác mạc không bằng phẳng, độ cong không chuẩn. Tán quang có quy tắc ở độ nhẹ nói chung không ảnh hưởng đến thị lực, nhưng có hiện tượng mắt mệt mỏi, không thoải mái. Rất nhiều người khi dùng mắt không hợp lí kéo dài sẽ gây nên đau đầu, mắt và chung quanh khoang mắt đau mỏi, cảm giác không thoải mái, một ít người thậm chí còn nôn nao, ảnh hưởng đến sức khoẻ và công tác.

Vì vậy, nếu mắt bị tán quang thì nên sớm đến bác sĩ kiểm tra, khi cần thiết phải đeo kính có độ thích hợp.

Từ khoá: Tán quang; Giác mạc.

107. Vì sao sáng ngủ dậy hay có dử mắt?

Buổi sáng ngủ dậy nếu soi gương ta sẽ thấy khoé mắt gần sống mũi có một ít dử mắt, khi nhiều khi ít. Mặc dù buổi tối trước khi đi ngủ đã rửa mặt rất sạch, khi ngủ mắt nhắm và không có bụi rơi vào, nhưng sáng dậy vẫn có dử mắt. Vậy dử mắt từ đâu mà ra? Thực ra, chỉ cần ta tìm hiểu tổ chức và hoạt động bình thường của mắt thì sẽ hiểu ngay.

Ở trong mắt ta có một mẩu giống như xương sụn gọi là "mí mắt" có nhiều ống nhỏ sắp xếp rất ngay ngắn, gọi là "tuyến góc mắt". Miệng của tuyến này nằm đúng chỗ mép khoé mắt gần mũi, nó không ngừng tiết ra một chất "mỡ". Bạn không nên coi thường chất mỡ này, vì tác dụng của nó rất lớn. Ban ngày nó có thể thông qua nháy mắt để bôi mỡ lên quanh mắt, nó còn ngăn cản nước mắt chảy ra ngoài, vừa có thể ngăn mồ hôi chảy vào mắt, tóm lại nó có tác dụng bảo vệ mắt. Nhưng lúc ngủ, mắt nhắm liên tục trong một thời gian dài, chất mỡ này tiết ra dùng không hết, đành lẫn với các tạp chất ban ngày lẫn vào mắt và số nước mắt còn thừa lại, dần dần tập trung vào khoé mắt làm thành dử mắt. Cho nên bình thường trong mắt có một ít dử, đó không phải là bệnh. Chỉ khi dử mắt rất nhiều, không những ban ngày mà ban đêm càng nhiều,có lúc còn gắn lông mi hai mí lại với nhau làm cho mắt không mở được thì đó là vi khuẩn đang gây bệnh, làm cho mắt viêm, cần đến bệnh viện để kiểm tra, điều trị.

Từ khoá: Dử mắt; Da mắt; Tuyến mí mắt.

108. Con người có "mắt thứ ba" không?

Trong Tây du kí có tên Nhị Lang võ thuật rất cao cường, đấu ngang ngửa với Tôn Hành Giả. Trước trán thần Nhị Lang có con"mắt thứ ba". Con mắt này rất sắc sảo, cho dù Tôn Ngộ Không biến đi đâu, thành vật gì cũng đều bị Nhị Lang phát hiện. Đương nhiên đó chỉ là chuyện thần thoại.

Con người thực chất có "mắt thứ ba" không? Các nhà khoa học đã phát hiện "mắt thứ ba" trên thực tế là một hạt giống như hạt quả thông, nằm sâu chính giữa đầu, to bằng hạt đậu, cho nên gọi là "hạt thông".

Nhưng con mắt này không thể nhìn thấy các vật như con mắt bình thường, tức là nó không có đầy đủ thị lực bình thường.

Vậy nó có tác dụng gì? Ngày nay người ta đã biết được trong cơ thể có đồng hồ sinh học rất kì diệu. Có người không dùng chuông đồng hồ báo thức mà sáng vẫn dậy đúng giờ, chỉ chênh vài ba phút. Đó chính là nhờ đồng hồ sinh học. Các nhà khoa học phát hiện "hạt thông" chính là đồng hồ sinh học trong cơ thể. Ban đêm nó có đủ công suất để sản sinh ra một chất kích thích gọi là chất thoát đen. Ban ngày nó tự động ngừng sản sinh, do đó con người có thể cảm biết được sự thay đổi của ngày đêm. Ngoài ra, "hạt thông" tiết ra chất thoát đen còn để khống chế chức năng sinh dục của con người. Các nghiên cứu chứng tỏ chất thoát đen có thể khống chế sự phát triển của tuyến giới tính ở thời kì niên thiếu. Đến một thời kì nhất định nó sẽ xoá bỏ sự khống chế này để cho thời kì thanh xuân đến. Ngày nay thời kì thanh xuân của thiếu niên sở dĩ đến sớm, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là vì ban đêm thời gian chiếu sáng kéo dài, làm cho chất thoát đen sản sinh ra ít, kết quả đã rút ngắn thời gian khống chế tuyến giới tính.

Từ khoá: "Hạt thông"; Đồng hồ sinh học; Chất thoát đen.

109. Vì sao mũi có thể ngửi được các loại mùi?

Mũi người có hai chức năng: một là dùng để hô hấp, hai là cơ quan khứu giác. Trong cuộc sống thường ngày, vai trò của cơ quan khứu giác không thể thiếu được. Ví dụ, khi mắt ta chưa nhìn thấy thì mũi đã ngửi thấy mùi cháy, do đó mà cảnh giác nạn hoả hoạn, kịp thời dập tắt ngọn lửa. Có một số đồ vật khi ta cầm lên nhìn, nghe nhưng vẫn chưa hiểu được nó, khi đưa lên mũi thì lập tức hiểu được. Điều đó chứng tỏ khứu giác có thể giúp ta phân biệt các chất khác nhau. Có người qua tập luyện đặc biệt mũi có khả năng phân biệt rất cao. Ví dụ thợ lành nghề trong các ngành nước hoa và tinh dầu, họ là những chuyên gia ngửi mùi.

Họ chỉ cần dùng mũi là có thể phân biệt được nhiều loại nước hoa, hương thơm, thẩm định chất lượng chúng tốt hay xấu. Những chuyên gia đánh giá chất lượng sản phẩm trà, rượu, cà phê, vv.., ngoài vị giác ra, đồng thời còn dùng khứu giác nhạy cảm của mình để đánh giá chất lượng sản phẩm tốt hay xấu, từ đó mà phân cấp sản phẩm được chính xác. Ngoài ra, khứu giác còn làm tăng thêm cảm giác ăn ngon. Sau khi nhờ mũi biết được hương vị của thức ăn sẽ kích thích cảm giác thèm ăn. Mọi người chắc đều có kinh nghiệm sau: khi tịt mũi, ăn gì cũng không cảm thấy ngon. Thực ra những thức ăn ấy vẫn ngon, chẳng qua vì mũi không ngửi thấy mùi thơm cho nên không kích thích ngon miệng mà thôi.

Mũi có thể ngửi được các loại hương vị là nhờ niêm mạc trên thành khoang mũi rộng khoảng 5 cm2, phân bố hơn 10 triệu tế bào khứu giác, chúng có liên quan với đại não. Như ta đã biết, mùi vị là do các chất bốc hơi thành các phân tử mà gây nên. Khi ta thở thì những phân tử mùi vị bay lẫn trong không khí sẽ đi vào khoang mũi, làm cho tế bào khứu giác hưng phấn, chuyển các kích thích cảm thụ được thành những thông tin đặc biệt, qua thần kinh khứu giác truyền lên đại não, do đó sinh ra cảm giác thơm. Nhờ đó mà chúng ta ngửi được các mùi vị khác nhau.

Từ khoá: Khứu giác; Vách trong khoang mũi; Tế bào khứu giác.

110. Trong cơ thể, khí quản nào lâu đời nhất?

Cơ thể có 5 giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác. Theo thống kê, trên 90% thông tin trong cuộc sống hằng ngày mà ta nhận được đến từ thị giác, tiếp theo là thính giác, xúc giác và vị giác. Riêng khứu giác thường bị xếp vào vị trí không đáng kể. Sinh lí học truyền thống thậm chí còn xem khứu giác là cơ quan cảm giác nguyên thuỷ đang thoái hoá dần.

Mặc dù khứu giác không chiếm địa vị chủ đạo trong 5 cơ quan cảm giác, nhưng nó lại là cơ quan cảm giác lâu đời nhất của cơ thể. Rất nhiều động vật hoang dã đều dựa vào khứu giác để tìm thức ăn, tránh nguy hiểm, tìm bạn đời. Cơ quan cảm giác nguyên thuỷ này đối với con người cũng rất có ích. Ví dụ hương vị của thức ăn có thể làm tăng cảm giác ăn ngon; khi ngửi thấy mùi cháy ta sẽ cảm giác đề phòng hoả hoạn; nếu ngửi thấy mùi khí ga rò rỉ, hoặc thức ăn đã biến mùi thì ta sẽ tránh được nguy hiểm. Có những người làm nghề đặc biệt có thể căn cứ vào mùi vị để phán đoán chất lượng nước hoa, hương liệu, rượu tốt hay xấu. Có một số thanh niên nam nữ người dân tộc thích ngửi mùi trên cơ thể của nhau để tăng thêm tình cảm.

Khứu giác của con người đang thoái hoá chăng? Không phải! Thông qua kết quả nghiên cứu của mấy chục năm gần đây, các nhà khoa học đã bắt đầu coi trọng đến khứu giác, thậm chí họ rất kinh ngạc đối với độ nhạy cảm rất cao của khứu giác con người. Ví dụ một chuyên gia hương liệu có kinh nghiệm chỉ dựa vào mùi ngửi cũng có thể phân biệt được mấy nghìn, thậm chí hàng vạn loại mùi vị, hơn nữa ngay lập tức họ có thể nói ra thời gian mùi này bốc lên đã bao lâu, thành phần chủ yếu trong đó gồm những gì.

Ngày nay, các nhà khoa học tin rằng tầm quan trọng của khứu giác chắc chắn không kém hơn các cơ quan cảm giác khác.

Từ khoá: Khứu giác.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.