71. Vì sao có người dễ say rượu, có người khó say?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
79. Vì Sao Nói Lá Lách Là Cơ Quan Rất Có Ích? - 80. Trong Cơ Thể Có "Dầu Bôi Trơn" Không?

❊ ❊ ❊

Sau khi uống rượu, mỗi người có những biểu hiện khác nhau. Người tửu lượng ít, chỉ cần uống mấy ngụm là mặt đỏ bừng, thậm chí choáng đầu, tim đập nhanh, người không thoải mái. Còn người tửu lượng nhiều, khi mới uống ít mặt chưa biến sắc, uống đến say mặt mới tím tái. Vậy vì sao tửu lượng của mỗi người lại nhiều ít khác nhau? Có người dễ say, có người khó say?

Như ta đã biết, cho dù chủng loại rượu rất đa dạng nhưng chúng đều chứa cồn (alcon etylic), chẳng qua là hàm lượng khác nhau mà thôi. Sau khi uống rượu, cồn được dạ dày và đường ruột hấp thụ, thông qua máu đi vào gan và các tổ chức khác. Cồn trong cơ thể được đào thải chủ yếu do gan đảm nhận. Các nhà khoa học nghiên cứu phát hiện thấy trong cơ thể người có hai loại men sinh vật có liên quan với sự đào thải cồn. Một loại men sinh vật gọi là men cồn không chứa hiđro, nó có thể khiến cho cồn phân giải thành axetandehit; một loại men sinh vật khác gọi là men axetandehit không chứa hiđro, nó có thể khiến cho axetandehit phân giải thành nước và khí CO2 bài xuất ra khỏi cơ thể. Tửu lượng của một người nhiều hay ít được quyết định bởi loại men axetandehit không chứa hiđro này.

Nếu một người nào đó chức năng của men axetandehit không chứa hiđro không đầy đủ thì sức chuyển hoá axetandehit tương đối kém, gây nên axetandehit không ngừng được tích luỹ trong cơ thể, khiến cho đầu cuối mạch máu trong cơ thể, đặc biệt là mạch máu trên mặt giãn nở ra, làm cho họ khi uống rượu mặt và cổ đỏ bừng, toàn thân phát nóng.

Vì đầu cuối mạch máu giãn nở làm cho huyết áp giảm xuống, để đảm bảo sự thăng bằng thì tuyến thượng thận sẽ tiết ra một chất khiến cho mạch máu co lại, từ đó mà tim đập nhanh hơn và huyết áp tăng lên. Cho nên người không biết uống rượu là người có chức năng của men axetandehit không chứa hiđro không đầy đủ, do đó khi uống sẽ có hiện tượng mặt đỏ, tim đập nhanh và choáng đầu.

Ngược lại, người biết uống rượu là người có chức năng men axetandehit không chứa hiđro trong cơ thể đầy đủ có thể nhanh chóng phân giải chất axetandehit.

Qua đó có thể thấy, trạng thái chức năng men axetandehit không chứa hiđro là nguyên nhân quan trọng quyết định tửu lượng của một người. Có thể nghĩ rằng: người có chức năng men axetandehit không chứa hiđro không đầy đủ là may mắn, vì họ uống rượu kém, nên giữ được sức khoẻ. Ngược lại, người mà chức năng men axetandehit không chứa hiđro đầy đủ là không may, vì họ uống được nhiều nên dễ say. Say nhẹ thì nôn mửa và ngủ thiếp đi, say nặng thì trung khu hô hấp bị tê liệt, thậm chí có thể chết.

Từ khoá: Cồn; Men cồn không chứa hiđro. Men axetandehit không chứa hiđro; Tửu lượng.

72. Vì sao người say rượu đi xiêu vẹo?

Nếu bạn nhìn thấy một người đi lang thang, lảo đảo, miệng đầy hơi rượu thì chắc chắn đó là người say rượu. Vì sao khi say rượu bước đi không vững?

Các nhà khoa học giải thích rằng: khi bạn bị xô đẩy đột ngột, thân thể sẽ mất thăng bằng, bản năng của bạn sẽ điều chỉnh nhanh chóng để lập lại trạng thái thăng bằng. Tất cả những điều này nhờ cơ quan thăng bằng thực hiện. Nó có thể căn cứ sự xiêu vẹo vị trí của thân thể, phản xạ điều chỉnh thân thể lại để luôn giữ ở vị trí thăng bằng.

Cơ quan thăng bằng nằm trong tai giữa. Chúng gồm có tiền đình và ba ống bán quy, có sự phân công tương hỗ lẫn nhau. Tiền đình phụ trách tìm hiểu mức độ xiêu lệch của phần đầu, ba ống bán quy phụ trách thăm dò trạng thái vận động của thân thể, trong đó một ống phụ trách vận động trên dưới, ống thứ hai phụ trách vận động trước sau, ống thứ ba phụ trách vận động nghiêng hai bên. Trong ống bán quy chứa đầy các tế bào chuyên cảm nhận vị trí của thân thể, nó có ghể tiếp thu các thông tin bất cứ lúc nào để truyền lên đại não, sau đó từ đại não điều tiết thống nhất sự vận động của các bắp thịt toàn thân. Như vậy, khi bạn thực hiện các dạng vận động vẫn có thể bảo đảm được sự thăng bằng của thân thể.

Nhưng khi say rượu, chất cồn trong rượu đã làm tê liệt cơ quan thăng bằng, khiến cho độ nhạy của nó giảm thấp, phản ứng chậm chạp. Do đó người say rượu đi đường, vì việc điều chỉnh sự thăng bằng vị trí của cơ thể chậm đi nửa nhịp, nên bước đi xiêu vẹo.

Nếu say quá mức thì cơ quan thăng bằng sẽ tê liệt hoàn toàn, lúc đó không những đi không vững mà một bước cũng không lê nổi.

Từ khoá: Điều chỉnh vị trí cơ thể; Cơ quan thăng bằng; Tiền đình; ống bán quy.

73. Vì sao trẻ em không nên uống rượu?

Có người lớn vì vui đùa hoặc muốn bồi dưỡng cho trẻ em từ nhỏ đã có khí chất hảo hán, nên trên bàn ăn thường kích thích trẻ em uống rượu. Còn một số trẻ em vì tò mò nên cũng cầm cốc lên uống, người lớn nhìn thấy nhưng không cản lại. Thích uống rượu, thực ra không phải là bẩm sinh. Như trường hợp trên đây là đã sớm tập thói quen uống rượu cho trẻ em. Ta cần biết rằng, trẻ em uống rượu vô cùng có hại, không có lợi chút nào.

Trước hết, đó là vì tổ chức các cơ quan của trẻ em đang thời kì non nớt, đặc biệt là hệ thống tiêu hoá, nó không chịu đựng được những chất kích thích mạnh. Rượu rõ ràng là chất kích thích mạnh, cồn có hại rất lớn cho các nội tạng, đặc biệt là gan và dạ dày. Trẻ em uống rượu làm cho gan phải giải trừ chất cồn độc trong rượu bằng cách chuyển cồn thành men amoni tăng cao lên, khiến cho tế bào gan bị tổn thương. Gan là cơ quan rất quan trọng của cơ thể và rất dễ bị bệnh.

Nếu từ bé chức năng đã bị giảm thấp, thậm chí bị tổn thương thì hậu quả sẽ khôn lường. Trẻ em uống rượu ngoài có hại cho gan, còn có hại cho dạ dày. Mọi người đều biết cồn sẽ kích thích dạ dày tiết ra một lượng lớn dịch vị, lâu ngày sẽ dẫn đến tiêu hoá không tốt, thậm chí phát triển thành viêm và loét dạ dày.

Hơn nữa, trẻ em uống rượu còn làm giảm khả năng miễn dịch. Sau khi uống ruợu các mạch máu mao quản sẽ giãn nở, sức tản nhiệt tăng lên, đặc biệt là lứa tuổi nhi đồng dễ bị cảm và viêm phổi.

Ngoài ra, trẻ em uống rượu còn tổn thương đến não, khiến cho trí nhớ giảm xuống, ảnh hưởng đến học tập, nghiêm trọng hơn là còn ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của đại não. Nếu những ảnh hưởng này kéo dài sẽ khiến cho trí nhớ của các em giảm sút.

Cuối cùng, điều đáng phải nhắc nhở là trẻ em uống rượu sẽ còn mang đến một hậu quả đáng sợ, đó là ảnh hưởng đến sự phát dục. Một nhà khoa học nước ngoài đã làm thí nghiệm, chứng tỏ cồn gây tổn thương rất lớn đối với tinh hoàn thời kì phát dục của trẻ em. Nếu tổn thương nhẹ thì khiến cho tính thành thục của tính đực kéo dài, tổn thương nặng thì khiến cho tế bào sinh tinh và ống dẫn tinh bị phá hoại, có khả năng dẫn đến vô sinh.

Đối với nữ giới, nếu tuổi trẻ uống rượu cũng ảnh hưởng đến tính phát dục của giới tính, khiến cho nội tiết tố bị nhiễu loạn, đến thời kì thanh xuân sẽ xuất hiện kinh nguyệt không đều, thời kì có kinh dễ bị phù, có hiện tượng đau bụng kinh, đau đầu, vv...

Từ khoá: Cồn; Gan; Dịch vị; Tính phát dục.

74. Gan có tác dụng gì?

Bên phải khoang bụng, có một cơ quan rất quan trọng, đó là gan. Mọi người đều biết gan rất quan trọng, nhưng thực chất nó có tác dụng gì thì không phải ai cũng có thể nói rõ được. Có người từng ví: nếu cơ thể là một xí nghiệp hoá chất liên hiệp thì gan là nhà máy hoá chất quan trọng nhất. Vì sao lại nói thế? Bởi vì khi con người thực hiện các vận động đòi hỏi phải tiêu phí nhiều năng lượng. Khi ăn, cần phải tiết ra các loại dịch tiêu hoá, khi đọc sách hay viết phải có một số vitamin để giúp đỡ thị lực. Tóm lại, chúng ta làm bất cứ việc gì cũng đều cần đến sự giúp đỡ của gan.

Theo phân tích của các nhà khoa học, gan có thể thực hiện 500 loại công việc. Sở dĩ gan có khả năng lớn như thế, chủ yếu là do gan có thể sản xuất được nhiều loại men. Theo tính toán, trong cơ thể ta có khoảng 2000 loại men, trong đó gan đã sản xuất gần 1000 loại.

Nói gan có rất nhiều chức năng, nhưng chung quy lại là có 3 chức năng chính: đó là giải độc, tàng trữ chất dinh dưỡng và chế tạo dịch mật.

Khi con người ăn uống hoặc uống thuốc thường đưa các chất độc vào cơ thể, hơn nữa các vi khuẩn trong đường ruột cũng sinh ra các độc tố. Nếu những chất độc này thông qua máu trực tiếp đến tim thì con người sẽ chết rất nhanh. Nhưng trước hết chúng phải thông qua gan xử lí, ở đó các chất độc chỉ trong mấy giây đã bị "vô hiệu hoá" mất đi tính độc, vì gan đã giải độc của chúng. Ví dụ người hay uống rượu nên cảm ơn gan vì trong rượu có chất cồn rất có hại cho sức khoẻ, mà gan có thể biến cồn thành khí CO2 và nước. Đương nhiên nếu uống rượu nhiều quá thì gan không thể phân giải hết cồn, cuối cùng làm cho gan bị tổn thương.

Như ta đã biết, trong quá trình tiêu hoá những thức ăn có hàm lượng protêin và mỡ cao thì dịch mật là loại không thể thiếu được. Có người cho rằng, dịch mật được sản sinh ra trong túi mật, nhưng đó là quan niệm sai. Trên thực tế, gan mới là cơ quan sản xuất ra dịch mật, còn túi mật chỉ là nơi chứa mật.

Gan còn có chức năng quan trọng là dự trữ các chất dinh dưỡng. Nó có thể chuyển chất đường gluco quá nhiều trong máu thành đường nguyên để dự trữ lại. Như vậy vừa có thể đề phòng máu quá nhiều đường, ảnh hưởng đến thân thể, lại vừa có thể chuyển đường nguyên thành đường gluco đưa về máu khi cơ thể cần đến.

Từ khoá: Gan; Men; Giải độc. Dự trữ dinh dưỡng; Chế tạo dịch mật.

75. Vì sao canh thịt không cho muối thì không ngọt?

Xào rau phải cho muối là lẽ đương nhiên xưa nay. Điều đó không chỉ là nhu cầu của sinh lí cơ thể mà cũng là nhu cầu của khẩu vị. Nếu một bát canh không có muối thì canh nhạt, vô vị, còn cho thêm một ít muối thì như gấm được thêu hoa, hương vị trở nên thơm ngọt. Sở dĩ như thế là vì muối có tác dụng điều chỉnh hương vị. Tục ngữ nói: "Muối là vua của trăm vị", điều đó rất có lí.

Thức ăn có ngon miệng hay không, trên một mức độ rất lớn được quyết định ở hàm lượng mì bột ngọt trong đó. Bột ngọt có thể khiến cho hương vị của rau tươi ngọt, thành phần của nó chủ yếu là natri glutamat. Như ta đã biết, thành phần hoá học của muối ăn là natri clorua, trong đó hàm lượng natri chiếm 40%, còn mì chính (hay bột ngọt) trên thực tế là muối natri của axit glutamic. Trong nhiều loại thức ăn như thịt đều có axit glutamic. Trong quá trình nấu thịt, nó được giải phóng ra và hoà tan trong nước. Lúc đó nếu cho thêm một ít muối vào canh thì axit glutamic trong nước canh sẽ kết hợp với natri để hợp thành natri glutamat, làm cho vị ngọt tăng lên. Đương nhiên, nếu thêm nhiều muối quá thì vị ngọt sẽ trở thành vị mặn, có tác dụng ngược lại.

Từ khoá: Muối; Natri glutamat.

76. Vì sao không nên nín đại, tiểu tiện?

Nước tiểu của người được trữ lại trong bàng quang. Khi tích tụ đến một mức độ nhất định, bàng quang sẽ chướng lên, thông qua thần kinh, thông tin được truyền lên đại não khiến cho ta có cảm giác buồn đi tiểu. Nín tiểu tiện không những khó chịu mà khi nước tiểu đầy bàng quang nó sẽ khiến cho các cơ của bàng quang giãn ra, sau đó ảnh hưởng đến chức năng co bóp của bàng quang, gây nên lực bài tiết nước tiểu yếu, đi tiểu không hết. Nước tiểu là môi trường dung dịch tốt của vi khuẩn, nhiệt độ trong bàng quang lại rất thích hợp cho vi khuẩn phát triển. Nếu thời gian nước tiểu bị giữ lại trong bàng quang lâu thì các loài vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở, dễ dẫn đến hệ thống tiết niệu bị viêm nhiễm, gây ra các chứng đái lâu, đái rắt, thậm chí nước tiểu kèm máu. Cho nên mỗi lần buồn đi tiểu, không nên nín kéo dài.

Theo nhu cầu sinh lí vệ sinh của cơ thể, tốt nhất mỗi ngày nên đi đại tiện một lần để có lợi cho nhịp điệu vận chuyển của hệ thống tiêu hoá. Rất nhiều thanh, thiếu niên đại tiện không có quy luật, có lúc cần đại tiện, nhưng vì ham chơi mà cố nín, khiến cho nhu cầu dần dần mất đi, như thế sẽ ảnh hưởng đến chức năng bài tiết của đường ruột, làm cho nhu động của ruột trở nên chậm chạp, về sau rất khó phục hồi trở lại. Nếu thời gian phân đọng lại trong đường ruột lâu, vì phần nước bị hấp thu, phần bã còn lại dễ trở nên khô cứng, cho dù uống nước nhiều cũng không thể khiến nó mềm lại. Có một số thanh, thiếu niên thường bị táo bón, khi đi ngoài phải rặn nhiều, phân bị khô cứng, xét cho cùng thì phần lớn là do thường ngày đại tiện không có quy luật, hơn nữa hay có thói quen nín lại chịu đựng.

Nín đại tiện còn gây ra các bệnh khác. Ví dụ thời gian phân đọng lại trong ruột kéo dài sẽ ép vào tĩnh mạch của thành ruột, khiến cho máu trong tĩnh mạch xung quanh trực tràng sát hậu môn không tuần hoàn về tim được, phần tĩnh mạch đó sẽ bị ứ huyết, dễ gây ra bệnh trĩ. Những người vốn có bệnh trĩ nín đại tiện sẽ làm cho trĩ xuất huyết nghiêm trọng. Đồng thời phân cứng, khi đi ngoài sẽ phải dùng lực nhiều, như vậy tăng thêm áp lực trong khoang bụng khiến cho chứng trĩ ngoại càng nặng thêm.

Ngoài ra, người già bị bệnh áp huyết cao và bệnh động mạch vành càng không nên nín đại tiện mà phải giữ thói quen đại tiện đúng giờ. Nếu không sẽ gây nên táo bón, khiến cho huyết áp lên cao, cơ tim thiếu máu và thiếu oxi, dẫn đến mạch máu não bị rách và bệnh nhồi máu cơ tim nguy hiểm đến tính mệnh.

Từ khoá: Bàng quang; Nước tiểu; Phân; Bệnh trĩ.

77. Nước tiểu được hình thành như thế nào?

Trong điều kiện bình thường, uống nước nhiều sẽ đi tiểu nhiều, uống nước ít đi tiểu ít. Mới nghe qua tưởng như nước vào cơ thể biến thành nước tiểu rất đơn giản. Nhưng thực ra các quá trình biến đổi trung gian rất phức tạp. Tất cả các biến đổi này đều được hoàn thành ở thận.

Bình thường ta hay gọi vùng thận là thắt lưng. Hai quả thận nằm hai bên cột sống ở sau thắt lưng, mỗi bên một quả to bằng nắm đấm, hình dạng giống với hạt đậu tằm. Kết cấu của quả thận có thể chia thành hai bộ phận là bộ phận sinh nước tiểu và bộ phận bài tiết nước tiểu. Bộ phận sinh nước tiểu gọi là nhu mô thận. Nó gồm các tiểu cầu thận và các ống tổ chức thành. Tiểu cầu thận có một nhóm các mạch máu nhỏ li ti, các ống thận là những đoạn ống cong cong nằm ở phía ngoài. Khi máu đi qua tiểu cầu thận thì nó được lọc một lượt, các chất phế thải trong máu và phần nước dư ra được lọc vào trong các ống nhỏ, đó chính là nước tiểu.

Nhiều nhu mô thận sẽ tập trung nước tiểu đến bộ phận bài tiết của thận, sau đó thông qua niệu quản đưa xuống bàng quang.

Bàng quang giống như một quả bóng đàn hồi, vai trò chủ yếu của nó là lưu trữ nước tiểu. Khi nước tiểu trong bàng quang tích luỹ đến một mức độ nhất định thì bàng quang phình ra, các tín hiệu kích thích thông qua thần kinh truyền lên đại não. Đại não ra lệnh "thải nước tiểu". Khi đó trước hết các cơ ở phần trên bàng quang co lại, cơ tròn chỗ miệng thoát nước tiểu mở ra. Như vậy nước tiểu sẽ bị chảy thoát ra ngoài.

Từ khoá: Nước tiểu; Thận; Nhu mô thận. Bể thận; Bàng quang.

78. Vì sao lại đánh rắm?

Đánh rắm là kết quả của quá trình đường ruột nhu động đi xuống dần, bài tiết các chất khí trong đó ra qua hậu môn. Vậy các chất khí trong cơ thể từ đâu mà có?

Nguyên là khi ta ăn cơm, uống nước, nuốt sẽ có không khí lẫn vào đi xuống dạ dày và đường ruột. Các khí trong nước bọt và thức ăn cũng thông qua đường miệng đi vào cơ thể. Ngoài không khí từ ngoài vào, hàng trăm triệu loại vi khuẩn nằm sẵn trong đường ruột, chúng gây lên men, phân giải các chất thức ăn trong hệ tiêu hoá sản sinh ra các chất khí. Ngoài ra, vi khuẩn trong ruột còn phân giải các chất dịch trong máu khuếch tán trong kết tràng thành khí amoni. Các chất bicacbonat và dịch toan được tiết ra trong phần trên của đường tiêu hoá sẽ hỗn hợp với nhau sản sinh ra khí CO2. Những chất khí này chiếm khoảng 30 - 40% tổng chất khí trong đường ruột.

Một phần chất khí trong dạ dày và đường ruột thông qua thán khí thoát ra ngoài theo đường miệng, một phần thông qua sự hấp thụ của thành ruột mà khuếch tán vào máu, sau đó đi ra theo đường hô hấp. Còn lại đại bộ phận chất khí trong đường ruột thông qua nhu động được đưa dần xuống phía dưới, thoát ra theo đường hậu môn. Các chất khí trong đường ruột tích tụ càng nhiều thì tốc độ bài tiết xuống càng nhanh. Vì các cơ quan xung quanh hậu môn co lại đóng chặt hậu môn, cho nên khí trong ruột bị dồn ép thành một khu vực cao áp. Khi khí thoát cưỡng bức qua hậu môn sẽ phát ra tiếng kêu. Trong điều kiện ăn uống bình thường, mỗi người mỗi giờ có thể đào thải từ 400 - 1000 ml, sai số rất lớn.

99% chất khí đào thải qua hậu môn không phải là khí thối, chủ yếu là 5 loại khí: nitơ, CO2, oxi, hiđro và mêtan. Còn lại không đến 1% là khí amoniac, amin bốc hơi, khí hiđro sunfit, khí thối, vv.. làm cho ta khó chịu. Ngoài oxi và nitơ đến trong không khí, thì phần lớn các khí khác là do vi khuẩn lên men trong hệ thống tiêu hoá phân giải ra.

Vì thói quen cuộc sống và chế độ ăn uống của mỗi người khác nhau, cho nên số lượng và mùi vị khí thải ra cũng khác nhau. Người quen thở bằng miệng, nuốt nước bọt, thường ăn kẹo cao su và những người già nhai khó khăn thường nuốt vào khá nhiều không khí, vì vậy những người này đánh rắm nhiều hơn. Có một số thực phẩm chứa khá nhiều chất khí, ví dụ bánh bao, kem trứng, nước giải khát, vv.. và rau bắp cải, hẹ, các loại rau đậu chứa một lượng lớn đường và các chất xơ khó tiêu hoá. Trong kết tràng chúng bị các vi khuẩn đường ruột lên men phân giải thành khí CO2, hiđro, mêtan. Người ăn những loại thực phẩm này sẽ đánh rắm nhiều. Vì tỏi, hành tây và hẹ chứa nhiều hợp chất của lưu huỳnh, vi khuẩn đường ruột sẽ phân giải chúng thành hợp chất sulfua và chất khí thioaleohol, cho nên khi ăn nhiều những rau này thì đánh rắm rất nhiều và thối. Rất nhiều người trong đường ruột thiếu men đường sữa, không thể hấp thụ được đường sữa có trong sữa bò, vì vậy khi uống sữa bò sẽ chướng bụng và sản sinh ra nhiều khí. Ngoài ra, khi viêm đường ruột, vi khuẩn sẽ phát triển nhiều, tác dụng trực tiếp lên các chất dinh dưỡng làm nhiễu loạn sự nhu động bình thường của ruột, gây ra đánh rắm nhiều hơn.

Nhưng đánh rắm là hiện tượng sinh lí bình thường của cơ thể, không nên vì thấy đánh rắm nhiều mà lo sợ.

Từ khoá: Đánh rắm; Vi khuẩn đường ruột.

79. Vì sao nói lá lách là cơ quan rất có ích?

Lá lách nằm ở bên trái phía trên bụng, màu đỏ thẫm, đại khái to bằng cái lá dài. Khi thai nhi còn trong bụng mẹ, lá lách là "nhà máy" độc nhất vô nhị tạo máu cho thai nhi. Nhưng sau khi ra đời, bộ xương dần dần lớn lên, tuỷ trong xương sẽ là "nhà máy tạo máu", do đó chức năng tạo máu của lá lách không còn nữa. Vì vậy, một thời gian dài, người ta cho rằng, lá lách chỉ là "kho chứa máu" trong cơ thể, nó chỉ có tác dụng tàng trữ máu cho nên có hay không có đều không quan trọng. Thực ra không phải như thế.

Tác dụng của lá lách đối với cơ thể trong những năm gần đây sau khi làm nhiều phẫu thuật để cấy hoặc thay tạng, phủ, người ta mới có nhận thức đầy đủ hơn. Trước đây, khi bệnh nhân được cấy hoặc thay cơ quan lành mạnh của người khác vào cơ thể, do phải tiếp nhận những thứ không thuộc của mình cho nên cơ thể thường phát sinh phản ứng bài trừ. Các tế bào lympho và những chất kháng thể miễn dịch trong cơ thể sẽ ra mặt "đuổi" các cơ quan mới thay đó ra ngoài, trăm phương ngàn kế không chịu tiếp thu. Đương nhiên thay cơ quan là để cứu vãn sự sống của bệnh nhân, cho nên bác sĩ không cho phép những phản ứng bài trừ này tiếp tục phát triển mà họ luôn tìm cách ngăn cản những phản ứng đó phát sinh. Vì vậy, khi thay các cơ quan thì bác sĩ hoặc là dùng thuốc để khống chế, hoặc dứt khoát cắt bỏ lá lách. Cắt bỏ lá lách quả thực đã làm xoay chuyển cục diện, phản ứng bài trừ không diễn ra. Vì sao lại thế? Vì trong lá lách không những chứa một lượng lớn tế bào lympho mà còn sản sinh ra nhiều bạch cầu miễn dịch. Những bạch cầu này là nguyên liệu để tạo ra các chất kháng thể phản kháng lại cơ quan thay thế. Sau khi cắt bỏ lá lách, cơ thể mất đi một lượng khá lớn tế bào lympho, lượng sản sinh ra kháng thể cũng giảm thấp rõ rệt, có lợi cho việc bảo vệ cơ quan thay thế và ngăn ngừa phản ứng bài trừ.

Để việc thay thế thành công, cắt bỏ lá lách là một biện pháp điều trị như đi nước cờ "thí xe giữ tướng". Nhưng ngược lại cũng cần phải nói rõ rằng: lá lách trong cơ thể đảm nhiệm công tác "phòng vệ" rất quan trọng, chủ yếu nó có tác dụng nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Rất nhiều nghiên cứu phát hiện cắt bỏ lá lách thì sức đề kháng của cơ thể giảm đi rất nhiều, dễ dẫn đến lây nhiễm các bệnh khác, hơn nữa những sự lây nhiễm này đến rất mãnh liệt, nên tỉ lệ tử vong cao.

Do đó có thể thấy, lá lách không phải là cơ quan không có tác dụng. Bác sĩ cắt lá lách là đã chọn một biện pháp không thể nào làm khác được. Vì vậy, khi lá lách bị chấn thương, dù đã giập nát, bác sĩ vẫn luôn tìm đủ mọi cách để cứu nó, trừ khi bất đắc dĩ mới cắt bỏ, mục đích là để giữ lại cho bệnh nhân "vệ sĩ" đắc lực này.

Từ khoá: Lá lách.

80. Trong cơ thể có "dầu bôi trơn" không?

Trong nhà máy, máy móc thường phải có dầu bôi trơn để giảm nhẹ ma sát khi vận hành. Thực ra, cơ thể của ta cũng là "một bộ máy lớn". Các cơ quan trong cơ thể không ngừng vận động. Để bảo đảm các cơ quan không bị mài mòn, cơ thể chúng ta cũng tiết ra một số chất "bôi trơn" đặc biệt.

Trong khoang bụng có ruột già, dạ dày, lá lách, mật, gan và tuỵ, vv.. rất chật chội, huống hồ các bộ phận đó còn phải vận động làm việc. Ví dụ, dạ dày mỗi phút co bóp ba lần, ruột non và ruột già uốn nhiều khúc cũng thường phải co bóp. Như vậy, mỗi cơ quan và giữa các cơ quan không tránh khỏi ma sát. Thời gian lâu, các cơ quan trong bụng này không đến nỗi vì ma sát mà bị tổn thương. Tất cả những chức năng này đều nhờ vào những chất "dầu bôi trơn" đặc biệt.

Như ta biết, trong khoang bụng có một lớp màng bụng không ngừng tiết ra một chất dịch tương. Loại dịch tương này có tác dụng bôi trơn các cơ quan trong khoang bụng.

Ngoài các cơ quan nội tạng ra, vận động của khớp xương cũng không thể thiếu được "dầu bôi trơn". Khớp là bộ phận quan trọng của hệ khung xương, là chỗ kết nối các đầu xương với nhau. Có khớp thì tứ chi và thân thể chúng ta mới có thể vận động co gập lên xuống, trái phải được. Khớp sở dĩ có thể chuyển động dễ dàng là nhờ chỗ khớp là xương sụn đặc biệt trơn, hơn nữa trên bề mặt xương sụn còn rất trơn ướt, vì ở đó có một lớp dịch rất mỏng. Đó chính là "dầu bôi trơn" do cơ thể tiết ra. Nó có thể đi vào bề mặt các khớp, khiến cho các khớp khi chuyển động lực ma sát rất nhỏ.

Từ khoá: Vận động của các cơ quan; Khớp.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.