201. Vì sao phải uống thuốc đúng giờ quy định?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
209. Có Thể Làm Cho Tiêm Không Đau Không? - 210. Vì Sao Uống Thuốc, Tiêm Thuốc Có Thể Chữa Được Bệnh?

❊ ❊ ❊

Khám bệnh xong, cầm đơn của bác sĩ đến cửa hàng thuốc, khi giao thuốc dược sĩ sẽ nói cho bạn biết từng loại thuốc, một ngày uống mấy lần hoặc cách mấy giờ uống một lần, một lần uống mấy gói hoặc mấy viên.

Nghiêm khắc quy định thời gian và lượng thuốc uống là có căn cứ khoa học của nó.

Ai cũng biết: uống thuốc là để tiêu diệt khuẩn bệnh trong cơ thể. Nhưng bạn đừng nghĩ rằng khuẩn bệnh đơn giản mà chúng vừa ngoan cường, vừa rất giảo quyệt. Bạn uống thuốc vào, nếu lượng ít không những không giết chết vi khuẩn mà còn làm tăng tính nhờn thuốc của chúng; nếu uống lượng nhiều rất có thể gây hại cho một số bộ phận nào đó của cơ thể. Nếu khi bạn cao hứng uống thêm nhiều lần, khi không cao hứng uống ít lần thì khuẩn bệnh sau một trận vật lộn kịch liệt có thể sẽ bung ra làm loạn, cơ thể bạn rất khó đối phó.

Chính vì khuẩn bệnh khó đối phó như thế cho nên phải quy định một ngày uống thuốc mấy lần, hoặc cách mấy giờ uống một lần. Và mỗi lần uống bao nhiêu để khiến cho thành phần thuốc trong cơ thể có được một nồng độ hợp lí, khuẩn bệnh không ngừng bị khống chế, tiêu diệt, khiến cho chúng không sinh trưởng được, mà còn không có sức chống lại, bệnh mới khỏi được. Ngoài ra còn phải chú ý có loại thuốc uống trước khi ăn cơm, có loại uống sau khi ăn. Khẩu vị không tốt, không ăn được cơm thì phải uống thuốc tăng thêm sự hoạt động của dạ dày để thúc đẩy thèm ăn; nếu dạ dày hoặc hành tá tràng bị loét thì phải uống loại thuốc có thể bảo vệ thành dạ dày, giảm nhẹ sự ma sát cơ học của thức ăn. Những loại thuốc này đều phải uống trước khi ăn cơm, nếu ăn xong mới uống sẽ không còn tác dụng.

Tiêu hoá không tốt nên uống thuốc trợ giúp tiêu hoá. Muốn tiêu hoá thì phải có cái gì đó để tiêu hoá, vì vậy loại thuốc này phải uống sau khi ăn, nếu uống thuốc giúp tiêu hoá khi trong bụng không có gì thì sẽ không có tác dụng.

Có những loại thuốc đòi hỏi cơ thể phải nhanh chóng hấp thu thì phải uống trước khi ăn, vì lúc bụng đói thuốc có thể tiếp xúc trực tiếp với thành dạ dày, nhưng có những loại thuốc có tác dụng kích thích nhất định, đòi hỏi nó phải được hấp thu chậm, thời gian kéo dài, vì vậy cần phải uống sau khi ăn khiến cho thuốc và thức ăn trộn lẫn với nhau, lượng thuốc tiếp xúc với thành dạ dày sẽ ít đi.

Từ khoá: Thời gian uống thuốc.

202. Làm thế nào thông qua vi khuẩn để tạo thành thuốc?

Trong thuốc hiện đại có một thành phần gọi là chất gây nhiễu, nó không những có thể đề kháng nhiều loại virut bệnh, chữa được một số bệnh do virut gây nên, mà còn có thể có tác dụng điều tiết miễn dịch và khống chế khối u, có vai trò quan trọng trong việc khôi phục sức khoẻ. Nhưng muốn sản xuất hàng loạt chất gây nhiễu này là vô cùng khó khăn. Nếu tách nó từ trong máu người thì giá thành quá cao. Nếu tách từ trong máu động vật thì hiệu quả của thuốc thấp. Về sau có một nhà khoa học đã dùng vi khuẩn, dựa vào công nghệ gien, cuối cùng đã giải quyết được khó khăn này.

Vi khuẩn làm thế nào để chế tạo ra được chất gây nhiễu?

Như mọi người đều biết, di truyền là đặc tính chung của giới sinh vật trong tự nhiên. Hai con sơn dương bố mẹ chỉ có thể sinh ra được một con sơn dương con, hạt giống dưa chuột chỉ có thể mọc mầm dưa chuột. Tất cả những điều này đều do tác động của quy luật di truyền. Ngày nay, người ta đã biết được chất khống chế di truyền trong tất cả các loài sinh vật là axit nucleic, mà đoạn axit nucleic phụ trách nhiệm vụ di truyền này là một gien. Công nghệ gen chính là thông qua thao tác của con người, đem một mẫu phân tử trên axit nucleic của một loài này cắt ra, ghép lên phân tử axit nucleic của một loài sinh vật khác, khiến cho loài sinh vật thế hệ sau biểu hiện ra đặc tính của mẫu gien này. Đương nhiên việc cấy ghép này không phải dùng kéo cắt mà là dùng một loại men có hoạt tính đặc biệt để thực hiện.

Năm 1973, nhà khoa học Mĩ Khơin lần đầu dùng nguyên liệu là trực khuẩn côli có tốc độ sinh sôi tương đối nhanh, đã lấy nhân của các loài sinh vật khác ghép vào trong loài trực khuẩn côli, khiến cho thế hệ sau của khuẩn đũa đại tràng được sắp xếp lại, có thể duy trì được đặc tính của sinh vật ban đầu. Sự xuất hiện trực khuẩn côli này đánh dấu thành công đầu tiên của công nghệ gen.

Năm 1980, các nhà khoa học sử dụng công nghệ gen ghép những mẫu nhân protêin của người đã qua xử lí lên trực khuẩn đại tràng nhờ công nghệ gen tổ chức lại, cuối cùng đã tạo ra được chất gây nhiễu nhân tạo - 2. Vì trực khuẩn côli sinh sôi nảy nở rất nhanh, khoảng 20 - 30 phút đã có thể sinh sôi được một đời, sau 24 giờ có thể sinh sôi 70 đời, hơn nữa nguyên liệu nuôi khuẩn đũa ở đại tràng rất đơn giản, phong phú nên giá thành thấp. Ngày nay với tốc độ phát triển cao của khoa học kĩ thuật, dùng vi khuẩn để chế ra các loại thuốc quý đã trở thành hiện thực.

Ngày nay các nhà khoa học không những đã sử dụng công nghệ gen để chế tạo ra chất nhiễu mà còn có thể ứng dụng nó rộng rãi vào trong các lĩnh vực sản xuất thuốc khác và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. ở những năm trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX, người ta đã dùng công nghệ gen thông qua vi khuẩn hoặc tế bào hoặc tế bào động vật có vú để sản xuất ra hơn 100 loại thuốc, trong đó bao gồm văcxin gan B, chất nhiễu, bạch cầu giới tố II, nhân sinh trưởng tế bào dạng xơ, vv.. Tất cả những kết quả này đánh dấu công nghệ gen trong lĩnh vực y học đã dần dần bước sang giai đoạn thành thục, đồng thời cũng chứng minh loài người có thể thực hiện được ý nguyện của mình là cải tạo đặc tính của vạn vật, sáng tạo ra những loại thuốc mới để đưa lại hạnh phúc cho con người.

Từ khoá: Vi khuẩn; Chất nhiễu; Công nghệ gen; Trực khuẩn côli.

203. Vì sao không nên lạm dụng uống vitamin?

Tục ngữ có câu "Thuốc ba phần là độc". Vitamin cũng là thuốc, vì vậy nên uống theo nhu cầu, không thể lạm dụng.

Nhưng có người cho rằng, vitamin là thuốc bổ, có lợi cho sức khoẻ, uống càng nhiều càng tốt. Đáng tiếc là số người có ý nghĩ như thế lại không ít. Vitamin quả thực có lợi cho cơ thể, không thể thiếu được, một khi thiếu vitamin sẽ gây ra các chứng lâm sàng, ví dụ thiếu vitamin A sẽ làm cho mắt khô, quáng gà, vv.. Nhưng điều đó không có nghĩa là vitamin càng nhiều càng tốt, bởi vì nó không phải là thuốc bổ mà là thuốc, nếu dùng quá liều sẽ phát sinh ngộ độc có hại cho sức khoẻ.

Vitamin phân làm hai loại là loại có tính hoà tan trong mỡ và loại có tính hoà tan trong nước. Loại vitamin hoà tan trong mỡ bao gồm vitamin A, D, E, K. Chúng đòi hỏi thông qua mỡ trong cơ thể để hoà tan và đào thải. Loại vitamin hoà tan trong nước bao gồm nhóm vitamin B, vitamin C, vv.. Loại vitamin này dễ bị đào thải cho nên chỉ cần một lần uống không quá nhiều là có thể đào thải ra khỏi cơ thể, không gây ra ngộ độc mạnh. Nhưng vitamin hoà tan trong mỡ thì ngược lại, vì nó phải dựa vào mỡ trong cơ thể để hoà tan và đào thải, cho nên khi dùng lượng quá nhiều, đào thải không kịp sẽ tích lại trong cơ thể, lâu ngày sẽ xuất hiện chứng ngộ độc.

Ví dụ, ngộ độc vitamin A, bệnh nhân sẽ có biểu hiện chán ăn, rối loạn tiêu hoá, da nổi vết từng đám, ngứa, bong da, rụng tóc, tóc giòn và dễ gãy, thường có chứng đau xương, nghiêm trọng hơn là nôn mửa, đau đầu, buồn ngủ. Ví dụ vitamin D uống quá liều gây nên ngộ độc, chán ăn, nôn nao, phiền não, bất an và kèm theo chứng nhiệt độ thấp, về sau còn có thể xuất hiện co giật, nhịp tim không đều, đau đầu, thậm chí chức năng thận suy kiệt, phát sinh bệnh kế phát đường hô hấp bị cảm nhiễm, ảnh hưởng đến sự phát triển tầm vóc của trẻ em. Qua đó, có thể thấy uống vitamin quá liều lượng nguy hại cũng rất lớn.

Cho nên vitamin không thể bị lạm uống. Nói chung, trong thức ăn cơ thể hấp thu đã có đầy đủ vitamin, chỉ có một số trường hợp đặc biệt như ăn kiêng lâu ngày, nôn mửa nhiều hoặc bị những bệnh có tính tiêu hao nhiều thì mới cần uống thêm vitamin.

Từ khoá: Vitamin; Vitamin hoà tan trong mỡ; Vitamin hoà tan trong nước.

204. Vì sao trước lúc tiêm phải đẩy một ít thuốc ra khỏi kim tiêm?

Tiêm là một việc bình thường. Nếu bạn chú ý quan sát sẽ phát hiện thấy y sĩ trước khi tiêm thường đẩy một ít thuốc ra khỏi kim tiêm. Đó là vì lẽ gì? Đó là để bảo đảm điều trị an toàn. Khi y sĩ rút thuốc từ trong ống thuốc, để điều chỉnh lượng thuốc, hoặc rút thuốc từ trong ống tiêm ra thường khó tránh khỏi đầu kim bị lộ ra khỏi mặt thuốc, vì vậy trước khi tiêm nhất định phải đẩy một ít thuốc ra khỏi kim tiêm. Nếu không làm như thế thì sẽ đẩy không khí vào cơ thể. Vậy không khí tiêm vào cơ thể có hại gì?

Không khí tiêm vào trong cơ thể sẽ gây ra một số phản ứng, điều đó phụ thuộc vào không khí tiêm vào nhiều hay ít và tiêm vào vị trí nào. Lượng không khí tiêm vào càng nhiều ảnh hưởng càng lớn. Nếu chỉ một ít thì có lẽ cảm giác không rõ. Khi tiêm phòng dịch, nói chung là tiêm thuốc dưới da, nếu lẫn vào một ít không khí thì ngoài cảm giác căng đau hơi khác thường, không đến nỗi gây ra ảnh hưởng gì lớn lắm. Nhưng nếu tiêm nhầm một ít không khí vào mạch máu thì sẽ rất phiền phức. Bởi vì không khí tiêm vào sẽ cùng máu đi khắp cơ thể, đến chỗ đường kính mạch máu nhỏ, bọt khí không vượt qua được, gây ra tình trạng giống như cái bình bị bịt nút. Như vậy sẽ cản trở máu thông thương, ảnh hưởng đến chức năng vận chuyển oxi và chất bổ của máu, làm cho các tổ chức ở phần sau mạch máu đó thiếu oxi và thiếu dinh dưỡng, trong y học có lúc gọi đó là apxe hoặc do đó mà sinh ra apxe.

Nếu lượng không khí tiêm vào khá nhiều thì ảnh hưởng càng lớn. Như vậy, tiêm tuy là một việc bình thường, nhưng nếu xử lí không thích đáng sẽ đưa lại rất nhiều hậu quả không đáng có.

Từ khoá: Tiêm.

205. Trước khi tiêm penicelin, vì sao phải tiêm thử phản ứng dưới da?

Penicelin là loại kháng sinh đầu tiên con người phát hiện được. Sự phát minh ra nó giúp cho con người không còn đến nỗi phải bó tay trước vi khuẩn bệnh. Nhưng người ta cũng phát hiện ra một điều rất lạ là có một số người sau khi dùng penicelin, trong một thời gian ngắn xuất hiện khó thở, mặt trắng bệch, đổ mồ hôi, huyết áp giảm xuống, có người thậm chí còn hôn mê, tử vong. Điều này khiến cho các nhà y học thời đó cảm thấy rất hoang mang, không hiểu vì sao lại xuất hiện tình trạng nghiêm trọng như thế?

Qua dày công nghiên cứu các nhà khoa học cuối cùng đã làm sáng tỏ điều bí mật đó. Nguyên là trong cơ thể có một hệ thống phòng ngự miễn dịch. Khi có chất kháng nguyên từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, hệ thống miễn dịch sẽ phản ứng, sinh ra kháng thể tương ứng, lúc đó không phát sinh phản ứng dị ứng. Nhưng với những người hay dị ứng, nếu một lần nữa tiếp xúc với loại kháng nguyên tương tự thì kháng thể trong cơ thể sẽ phát huy tác dụng với kháng nguyên đó, khiến cho một số tế bào bị phá hoại và giải phóng ra một chất hoạt tính. Những chất hoạt tính này sẽ khiến cho cơ thể trong một thời gian ngắn xuất hiện hàng loạt phản ứng nghiêm trọng, như huyết áp giảm xuống, da nổi mẩn, yết hầu sưng nước, thở khó khăn, vv.. Penicelin cũng là một loại kháng nguyên cho nên nó cũng có khả năng phát sinh phản ứng dị ứng. Vì cơ thể của mỗi người một khác nên lượng kháng thể sinh ra ở mỗi người cũng khác nhau, do đó không phải tất cả mọi người đều bị dị ứng.

Có biện pháp gì để trước khi tiêm penicelin biết được sẽ không xảy ra dị ứng không? Qua nghiên cứu, người ta phát hiện kháng thể gây ra phản ứng dị ứng với penicelin là một loại bạch cầu IgE, nó tồn tại ngay trong huyết thanh. Cho nên thông qua tiêm thử dưới da có thể biết được loại kháng thể này có tồn tại hay không. Sự thử nghiệm này gọi là thử nghiệm dị ứng dưới da, gọi tắt là "thử dưới da". Nếu kết quả thử dưới da là dương tính thì không thể tiêm penicelin, nếu tiêm sẽ có phản ứng dị ứng nhẹ hoặc nặng. Do đó trước khi tiêm penicelin phải tiêm thử dưới da. Ngày nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu một loại penicelin không cần tiêm thử dưới da (tức là không gây ra phản ứng dị ứng). Khi đó con người sẽ không cần phải tiêm thử dưới da nữa.

Từ khoá: Penicelin; Tiêm thử dưới da. Kháng thể; Kháng nguyên.

206. Vì sao cấm vận động viên uống thuốc kích thích (doping)?

Năm 1988, Thế vận hội ở Xơun - vận động viên điền kinh Canađa là BTohn son tham gia chạy 100 m nam. Khi kiểm tra nước tiểu tại hiện trường người ta phát hiện thấy có thuốc kích thích (doping), cho nên danh hiệu quán quân bị tước đi, ngoài ra còn bị phạt hai năm không được thi đấu.

Tôn chỉ của Thế vận hội là thể chất mạnh mẽ, tăng cường sức khoẻ, cho nên bất cứ cách làm nào có ý đồ mượn thuốc để nâng cao thành tích thi đấu đều trái với tôn chỉ. Huống hồ người khoẻ mạnh lại dùng những loại thuốc này thì chắc chắn là rất có hại cho sức khoẻ. Vì vậy, những loại thuốc này trở thành thuốc cấm của Thế vận hội.

Thuốc cấm của Thế vận hội không dưới 100 loại, nhưng quy lại chủ yếu có mấy dạng sau:

Loại thuốc gây hưng phấn thần kinh trung khu. Ví dụ caphein, lithalin, strycnin, nó có tác dụng gây hưng phấn đối với hệ thần kinh, làm phấn chấn tinh thần, người tỉnh táo, giảm cảm giác mệt mỏi. Nhưng chúng cũng đem lại những hậu quả không tốt như dị ứng thần kinh, mất ngủ, choáng đầu, tim hồi hộp, huyết áp tăng cao, hơn nữa loại thuốc này còn gây nghiện.

Loại thuốc gây hưng phấn cơ bắp. Ví dụ loại thuốc sinsitimin, pintinsitimin, niwelin, vv.. có thể gây hưng phấn ở mức độ nhất định đối với cơ vận động, tăng cường lực co của cơ. Nhưng thuốc cũng gây ra tác dụng phụ như tim đập chậm, nôn nao, nôn mửa và da nổi mẩn, vv..

Hợp thành loại steron đào thải. Loại thuốc này có tác dụng kích thích tương tự như chất kích thích giống đực, có thể làm tăng tốc độ hấp thu, đào thải, tăng chất hợp thành protêin, tăng chức năng nội tiết. Nhưng thuốc cũng dẫn đến phù thũng, tổn hại gan.

Thuốc lợi tiểu. Loại thuốc này có tác dụng tăng lợi tiểu, thông qua nước tiểu để bài tiết nhanh những chất thải trong cơ thể, hoặc làm cho cơ bắp vận động sản sinh nhanh các chất phế thải có lợi cho việc nâng cao sức mạnh và sức chịu đựng của cơ bắp. Ngoài ra, thông qua lợi tiểu có thể bài tiết nhanh những chất thuốc mà Thế vận hội cấm. Nhưng thuốc lợi tiểu cũng gây ra sự mất cân bằng làm bài tiết nhiều nước và muối cũng như làm nhiễu loạn các chất axit, kiềm trong cơ thể.

Để bảo đảm sức khoẻ cho vận động viên, các Thế vận hội hiện nay đã có Trung tâm kiểm nghiệm để ngăn ngừa vận động viên dùng các thuốc kích thích.

Từ khoá: Thuốc hưng phấn; Thuốc hưng phấn trung khu; Thuốc hưng phấn cơ bắp; Hợp thành loại steron đào thải; Thuốc lợi tiểu.

207. Vì sao không thể lạm dụng thuốc kháng sinh?

Nhớ lại lịch sử phát triển y học của trong và ngoài nước, có nhiều bài học và những sai lầm, trong đó có bài học ỷ lại thuốc kháng sinh, lạm dụng kháng sinh, đó là một trong những sai lầm lớn nhất của lịch sử y học nhân loại.

Trước đây, khi phát hiện ra thuốc kháng sinh, loài người đã thu được nhiều lợi ích to lớn. Nó có thể khiến cho phụ nữ khi sinh đẻ sốt cao không bị chết như trước đây, khiến cho những bệnh truyền nhiễm giết chết hàng triệu người như bệnh dịch hạch, thương hàn, dịch tả, vv.. được khống chế có hiệu quả, khiến cho những cuộc đại phẫu thuật không thất bại vì bị viêm nhiễm. Nhưng cùng với số loại kháng sinh tăng lên, thời gian sử dụng kéo dài thì hiện tượng lạm dụng thuốc cũng ngày càng phổ biến, đồng thời đưa lại những hậu quả không lường trước được.

Thuốc kháng sinh có thể phân thành nhiều loại. Mỗi loại có phạm vi kháng khuẩn riêng. Nói một cách đơn giản, một loại kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn hoặc khống chế một loại bệnh nào đó, nhưng nó không có tác dụng đối với các loại vi khuẩn khác.

Nếu chọn dùng thuốc kháng sinh sai, hoặc dùng một loại thuốc kháng sinh nào đó kéo dài thì sẽ gây nên hậu quả không tốt. Nhẹ thì không có tác dụng chữa bệnh, nghiêm trọng hơn sẽ kéo dài bệnh tật, thậm chí gây ra nhiều phản ứng không tốt do lạm dụng thuốc kháng sinh, khiến cho ngày càng có nhiều loài vi khuẩn nhờn thuốc. Một số thuốc kháng sinh ban đầu vốn rất có công hiệu nhưng dần dần mất đi hiệu lực, do đó người ta không thể không vắt óc để tìm ra những loại kháng sinh mới.

Điều đau đầu nhất là tốc độ phát hiện các chất kháng sinh mới không đuổi kịp tốc độ nhờn thuốc của vi khuẩn, hơn nữa chất độc của vi khuẩn nhờn thuốc ngày càng mạnh, cho nên ngμy càng khó đối phó. Để đối phó với vi khuẩn nhờn thuốc, bác sĩ bắt buộc phải dùng đồng thời nhiều loại kháng sinh. Nhưng đồng thời với việc giết chết những vi khuẩn có hại, một số vi khuẩn có ích cũng bị giết chết theo, khiến cho quần thể vi khuẩn mất cân bằng, làm giảm năng lực đề kháng của cơ thể.

Đồng thời với tác dụng chữa bệnh, các loại thuốc kháng sinh ít nhiều đều có tác dụng phụ. Nếu không hiểu biết đầy đủ những tác dụng phụ của thuốc mà lạm dụng thuốc thì hậu quả khôn lường. Ví dụ, có loại thuốc kháng sinh ảnh hưởng đến thính lực, thậm chí gây điếc; có thuốc kháng sinh làm tổn hại thận, nếu dùng cho những bệnh nhân có bệnh thận sẽ làm bệnh nặng thêm; có những loại thuốc kháng sinh gây dị ứng, trước khi dùng nhất định phải thử dưới da, vv.. Do đó khi chọn dùng thuốc phải vô cùng thận trọng.

Rất nhiều người có quan điểm sai lầm, cho rằng kháng sinh là thuốc vạn năng, chỉ cần hơi đau đầu, hơi sốt là tuỳ ý sử dụng. Điều đó không những gây ra lãng phí lớn mà còn làm cho khuẩn bệnh nhờn thuốc. Ngoài ra, sử dụng kháng sinh nhiều sẽ giảm rõ rệt khả năng đề kháng của cơ thể. Cho nên khi ốm, không nên tự mình sử dụng kháng sinh mà nhất thiết phải theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Từ khoá: Thuốc kháng sinh; Nhờn thuốc. Quần thể khuẩn mất cân bằng.

208. Vì sao có một số xét nghiệm máu phải lấy mẫu khi đói?

Những người đã xét nghiệm máu đều biết rõ, có một số xét nghiệm máu như đường máu, mỡ máu yêu cầu bệnh nhân buổi sáng không ăn gì để lấy máu. Vì sao lại cần làm như thế?

Do phương pháp xét nghiệm của mỗi loại xét nghiệm khác nhau, giá trị bình thường của kết quả xét nghiệm cũng khác nhau. Các số liệu bình thường là lấy mẫu máu của người khoẻ lúc đói để xác định. Vì lúc đói, cơ thể ở trạng thái đào thải cơ sở tương đối ổn định cho phép loại bỏ những ảnh hưởng của các nhân tố trong thức ăn, cho nên kết quả xét nghiệm máu phản ánh chân thực nhất. Do đó khi ta kiểm tra máu đối với bệnh nhân nên lấy mẫu xét nghiệm lúc bụng đói, như vậy kết quả xét nghiệm mới có tính so sánh để phản ánh trung thực tình hình thực tế của bệnh nhân, nó có giá trị để chẩn đoán được chính xác.

Vì thức ăn sau khi tiêu hoá có một số thành phần sẽ lẫn vào máu, khiến cho nồng độ của một số thành phần nào đó trong máu tăng cao, cho nên nếu lấy máu sau khi ăn thì kết quả xét nghiệm sẽ không chính xác.

Trước kia rất nhiều loại xét nghiệm đòi hỏi phải nhịn ăn, nhưng cùng với sự phát triển của kĩ thuật xét nghiệm, phương thức xét nghiệm cũng đã có nhiều biến đổi, cho nên ví dụ những xét nghiệm về chức năng gan, chức năng thận đã dần dần không đòi hỏi phải nhịn ăn. Cùng với sự phát triển của y học, sau này những xét nghiệm cần nhịn ăn sẽ dần dần trở thành không cần thiết.

Từ khoá: Xét nghiệm máu; Nhịn ăn.

209. Có thể làm cho tiêm không đau không?

Người ốm thì phải uống thuốc, hoặc phải tiêm. Trong hai cách đó hiệu quả của tiêm nhanh hơn uống thuốc rất nhiều. Nhưng tiêm có nhược điểm là làm cho bệnh nhân đau. Đặc biệt là trẻ em khi thấy y tá chuẩn bị tiêm thì rất căng thẳng và khóc thét lên, vì vậy cơ bắp ở trạng thái căng cứng, khi tiêm cảm giác đau sẽ nhiều hơn.

Làm thế nào để tiêm mà không gây đau? Điều đó có thể được. ở thập kỉ 90 của thế kỉ XX, một nhà khoa học ở đại học Newton (Anh) đã phát minh ra một dụng cụ tiêm không đau. Hình dạng ống tiêm giống như khẩu súng lục, đem mũi súng dí vào chỗ cần tiêm, chỉ cần ấn nút thì thuốc đã đi vào cơ thể. Trong quá trình này, bệnh nhân chỉ cảm thấy như có một luồng khí xung đột, không hề cảm thấy đau, lại rất thoải mái.

Loại dụng cụ tiêm này không có kim, không cần cắm vào cơ bắp, vậy thuốc làm thế nào đi vào cơ thể được?

Nguyên là thuốc trong ống tiêm không phải là thuốc nước mà là thuốc bột rất mịn, do đó cũng gọi là tiêm bột thuốc. Bột thuốc tiêm yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải được nghiền nát đặc biệt, đường kính hạt thuốc chỉ khoảng 0,02 - 0,07 mm. Nếu bột thuốc không đạt yêu cầu này thì không thể nào tiêm được, cũng tức là không đạt được hiệu quả điều trị.

Trong súng tiêm có một máy phát sóng siêu âm rất nhỏ. Khi tiêm sóng siêu âm sẽ khiến cho da hoặc niêm mạc chỗ tiêm đột nhiên giãn nở. Chính tại thời điểm này, bột thuốc rất nhanh bị bắn với tốc độ 750 ms đi vào tế bào da, sau đó cùng với máu tuần hoàn khắp cơ thể. Bột thuốc xuyên thấu niêm mạc hoặc da với tốc độ nhanh như thế cho nên bệnh nhân không hề có cảm giác đau. Một nguyên nhân khác không gây đau là nhờ bột thuốc rất mịn, nó không chứa những chất bổ trợ hoặc cũng không cần pha loãng, so với thể tích của các chất thuốc tiêm phổ thông thì có thể nói là rất ít. Nhiều lần thí nghiệm chứng tỏ tiêm loại bột khô này không làm cho da bị tổn thương, cũng không gây ra cảm giác ghê người do sát trùng trước khi tiêm mà y tá thường làm.

Phát minh tiêm bằng thuốc bột này chắc chắn là một cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực công nghiệp bào chế thuốc.

Vì có nhiều dược liệu, đặc biệt là thuốc gien, không thể gia nhiệt để diệt khuẩn và khi chế thành thuốc nước thì dễ bị phân giải nên mất đi hiệu quả của nó. Vì vậy, thuốc bột khô so với thuốc nước dễ bảo quản và cũng tránh được những quá trình gia công phức tạp trong công nghệ bào chế thuốc truyền thống.

Đối với bệnh nhân, dụng cụ tiêm không đau có rất nhiều ưu điểm. Ví dụ, một số bệnh nhân tiểu đường có thể suốt đời phải điều trị bằng cách tiêm insulin, hoặc các cơn đau của bệnh khối u cũng vô cùng dai dẳng, đòi hỏi phải thường xuyên tiêm cắt cơn đau. Tiêm thuốc bột không đau vừa giải thoát đau khổ cho bệnh nhân, lại vừa thuận tiện cho bệnh nhân, khiến cho họ có thể tự tiêm ở nhà.

Từ khoá: Tiêm; Tiêm không đau; Tiêm thuốc bổ.

210. Vì sao uống thuốc, tiêm thuốc có thể chữa được bệnh?

Mọi người trong cả cuộc đời khó tránh khỏi có lúc bị ốm. Chỉ cần đi khám bệnh là phải uống thuốc, phải tiêm thì bệnh mới khỏi. Vì sao uống thuốc và tiêm có thể chữa được bệnh?

Nguyên là dù uống thuốc hay tiêm, trên thực tế đều dùng đến những chất có tác dụng như vũ khí khoa học - chất hoá học. Chúng đều được dùng những biện pháp khác nhau để đưa vào cơ thể. Thông qua tuần hoàn máu, thuốc sẽ đến những chỗ cần thiết để phát huy tác dụng, từ đó mà chữa được bệnh.

Bệnh tật muôn màu muôn vẻ, như cảm, viêm phổi, vv.. Chứng cảm cũng đủ dạng như đau đầu, lên cơn sốt. Do đó, các loại "vũ khí" chữa bệnh cũng theo đó mà ra đời, ví dụ có loại vũ khí sát khuẩn, diệt vi khuẩn như thuốc kháng sinh, có loại vũ khí kháng khối u, tấn công các tế bào khối u như thuốc kháng u, vv.. Hơn nữa, mỗi loại bệnh lại có nhiều loại thuốc khác nhau, giống như đánh trận có súng máy, súng ngắn, súng trường.

Cho dù là mắc loại bệnh gì, uống thuốc gì hoặc tiêm thuốc gì thì vẫn không ngoài cách chữa nguyên nhân, hoặc chữa chứng bệnh. Đối với chữa nguyên nhân mà nói là nhằm loại bỏ những nguyên nhân gây bệnh, còn chữa chứng bệnh là để xoá bỏ các chứng bệnh tương ứng. Ví dụ, một em bé viêm phổi vì nhiễm khuẩn sẽ xuất hiện các chứng sợ rét, sốt cao, ho, đau ngực, vv.. Bác sĩ sẽ cho em uống thuốc và tiêm. Một khi tiêm thuốc kháng sinh vào người, nó sẽ chiến đấu với vi khuẩn, cho em uống thuốc giải nhiệt giảm đau thì một mặt thuốc sẽ tác dụng vào trung khu điều tiết nhiệt độ của cơ thể, hạ lệnh chấp hành trình tự giảm nhiệt - mạch máu ở da giãn ra và thải mồ hôi, mặt khác thuốc sẽ đến những nơi bị tổn thương để ức chế, hoặc giải phóng những chất gây đau. Còn thuốc trấn ho, hoá đờm thì có thể ức chế phản xạ ho, làm loãng dịch đờm trên niêm mạc, giảm bớt ho, khiến cho dịch đờm dễ thải ra cùng với ho. Cùng với sự tiêu diệt vi khuẩn, xoá bỏ các chứng bệnh, sau khi chữa khỏi bệnh viêm phổi thì cơ thể sẽ được phục hồi sức khoẻ trở lại.

Bệnh nhân uống thuốc hoặc tiêm thuốc thông qua tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để đạt được mục đích chữa bệnh. Ví dụ khi bệnh tim nặng làm cho lực tim suy kiệt, bệnh nhân vì thiếu oxi mà thở gấp, môi tím, còn có thể xuất hiện các chứng như phù nước. Sau khi uống thuốc hoặc tiêm trợ tim, thuốc sẽ trực tiếp tiếp xúc với tim làm tăng lực co bóp của cơ tim, nâng cao chức năng của tim, thông qua tác dụng trợ tim khiến cho bệnh nhân đi tiểu nhiều hơn, tiêu giảm phù nước, đó là tác dụng gián tiếp của thuốc trợ tim.

Đa số các chất hoá học khi được dùng với liều lượng thích đáng thì chúng sẽ phân liệt được mục tiêu cần công kích, nó chỉ gây tác dụng với một số tổ chức hoặc cơ quan nào đó, đối với những tổ chức hoặc cơ quan khác thì tác dụng rất ít, thậm chí hầu như không hề ảnh hưởng, trong y học gọi đó là tác dụng lựa chọn.

Từ khoá: Tiêm; Uống thuốc.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.