Hàng trăm, hàng nghìn năm nay, nhân loại luôn đi tìm phương thuốc bí mật để kéo dài tuổi thọ, thậm chí mong rằng mình sẽ trường sinh bất lão, sống mãi với thời gian. Nhưng cho dù là những danh y xa xưa, hoặc các thuật sĩ luyện đan, hay là các nhà khoa học ngày nay đều không thể thực hiện được nguyện vọng tốt đẹp này. Nhưng con người từ thói quen đặc biệt ngủ đông của động vật đã tìm thấy sự gợi mở, từ đó nhen nhúm lên ngọn lửa hi vọng "trường sinh bất lão".
Loài dơi ngủ đông, còn loài chuột không ngủ đông. Thân hình của chúng gần gống nhau, nhưng loài dơi có thể sống được 20 năm, còn loài chuột chỉ sống khoảng nửa năm. Vì sao vậy? Nguyên là, khi ngủ đông, tỉ lệ tiêu hao năng lượng của cơ thể và hấp thu, đào thải rất thấp, hầu như không cần ăn uống gì, hơn nữa ngủ đông khiến cho bệnh tật phát triển chậm lại. Ví dụ cấy tế bào ung thư cho động vật, sau đó cho nó ngủ đông thì những động vật này sẽ không vì ung thư mà chết nhanh, bởi vì tế bào ung thư cũng ở trạng thái tiềm phục, không thể hoạt động được.
Vậy con người có thể dựa vào ngủ đông để kéo dài tuổi thọ không? Những chuyên gia nghiên cứu về mặt này cho rằng: con người muốn ngủ đông thì trước hết phải làm cho cơ quan bảo đảm nhiệt độ cơ thể ổn định là đồi não khống chế được nhiệt độ cơ thể ở mức thấp nhất. Ngày nay người ta đã có thể dùng các phương pháp hoá học để khiến cho đồi não giữ cho nhiệt độ cơ thể hạ thấp trong vòng mấy giờ, đi vào trạng thái ngủ đông. Nhưng khoảng thời gian này còn ngắn quá cho nên giấc ngủ đông này mới chỉ dùng vào những phẫu thuật về não.
Cách đây không lâu có người đã làm đông lạnh cá vàng ở nhiệt độ – 210 0C trong một thời gian, sau đó chờ hết đông lạnh thì phát hiện cá vàng vẫn sống bình thường. Căn cứ hiện tượng này, các nhà khoa học bỗng nhiên nghĩ tới, nếu để cho một số bệnh nhân ở giai đoạn cuối cùng của bệnh vào trong môi trường nhiệt độ siêu thấp, cho ngủ đông, chờ đến khi tiến bộ của y học có thể chữa khỏi loại bệnh này, lúc đó mới cho họ sống trở lại, như vậy không những sẽ chữa được bệnh mà còn kéo dài tuổi thọ.
Cách nghĩ này cho đến nay không còn chỉ dừng ở lí luận mà đã bắt đầu được thực hiện. ở Mĩ, tối thiểu đã có 27 bệnh nhân ung thư được cho đông lạnh, nghe nói có thể giữ được trên 1000 năm. Họ đều tin rằng một ngày nào đó họ có thể sống trở lại, trở về cuộc sống bình thường.
Từ khoá: Ngủ đông; Kéo dài tuổi thọ.
152. Vì sao khi ngáp nước mắt lại trào ra?
Ngáp là hiện tượng thường thấy ở mỗi người. Khi ngáp hai mí mắt khép lại, miệng mở to, người hơi ngả về phía sau, thở sâu và mạnh, đồng thời thường kèm theo động tác uốn vai. Lúc đó bạn sẽ phát hiện thấy người ngáp trào ra một ít nước mắt.
Vì sao lại như vậy? ở đây trước hết chúng ta phải xem xét nước mắt được trào ra như thế nào. Như ta đã biết, ở phía trên nhãn cầu của khoang mắt, mỗi mắt có một tuyến lệ. Nước mắt từ đó được tiết ra. Ngoài lúc ngủ, nước mắt từng giờ từng phút đều tiết ra. Lúc bình thường ta không cảm thấy được, vì trong cơ thể có một "thiết bị" thu thập và bài tiết nước mắt. ở góc trong của khoé mắt, mỗi con mắt đều có một lỗ nhỏ, nước mắt từ đó chảy ra ống nước mắt, rồi đi vào túi nước mắt. Phía dưới túi nước mắt là ống nước mắt được tiết ra, cuối cùng sẽ lẫn với nước mũi mà chảy đi. Từ lỗ nước mắt đến ống thông với khoang mũi gọi là đường nước mắt, đó là con đường để thu thập và bài tiết nước mắt.
Khi người ngáp, miệng mở to, một luồng khí từ trong miệng phả ra, lúc đó áp lực trong xoang mũi cũng theo đó tăng lên, nước mắt trong đường ống nước mắt tạm thời bị ngăn cản cho nên sẽ trào ra từ mắt, chính vì vậy mà khi ngáp nước mắt trào ra.
Ngoài ngáp, hắt hơi, ho, nôn ẩu, vv.. có lúc cũng sẽ làm cho áp lực trong xoang mũi tăng lên, khiến cho nước mắt trào ra.
Từ khoá: Ngáp; Đường lệ.
153. Vì sao sau mỗi tiết học phải nghỉ 10 phút?
Dù ở tiểu học hay trung học, cứ sau mỗi tiết học đều nghỉ 10 phút. Tại sao lại phải như vậy?
Như ta đã biết, đại não là "bộ tư lệnh" của cơ thể. Dưới sự chỉ huy của nó tất cả mọi hoạt động của con người đều diễn ra theo một trật tự nhất định. Lúc ta học tập, tế bào của một khu vực nào đó của đại não làm việc ở trạng thái hưng phấn. Khi ta hoạt động thì một bộ phận tế bào khác của đại não sẽ hưng phấn.
Vì võ đại não còn có khả năng tự bảo vệ mình, cho nên khi một công việc nào đó làm lâu thì độ hưng phấn sẽ giảm xuống. Nếu cứ tiếp tục làm việc đó thì những kích thích của bên ngoài này sẽ không làm cho vỏ đại não hưng phấn nữa, thậm chí sẽ dẫn đến ức chế.
Ví dụ trong cuộc sống thường ngày ta thường gặp các trường hợp sau: học lâu, sức chú ý sẽ không tập trung nữa, đầu óc căng lên, điều đó chứng tỏ đại não đang chuyển từ hưng phấn sang ức chế, xuất hiện mệt mỏi. Nếu không được nghỉ sẽ chuyển từ mệt mỏi sang mệt mỏi quá mức và gây tổn hại cho vỏ đại não.
Muốn cho chức năng của đại não luôn ở trạng thái mạnh mẽ thì phải để cho các khu vực hưng phấn và ức chế của đại não luân phiên thay nhau. Vì vậy, sau 45 phút học trên lớp người ta thường dành 10 phút nghỉ ngơi để cho một bộ phận tế bào nào đó của vỏ đại não từ hưng phấn chuyển sang ức chế, hi vọng một lúc sau sinh lực sẽ dồi dào trở lại để tiếp thu tiết học sau. Vì vậy 10 phút nghỉ giữa hai tiết học, học sinh nên đi ra ngoài, thở không khí mới, hoạt động tay chân, không nên ngồi lì trong lớp hoặc tranh thủ làm bài tập. Nhưng có những bạn giờ nghỉ giữa hai tiết lại hoạt động thể dục quá mức, nên vào tiết sau khó yên tĩnh trở lại, như vậy cũng ảnh hưởng đến học tập. Ngoài ra, 10 phút nghỉ ngơi có những ích lợi nhất định đối với việc giảm nhẹ mệt mỏi của thị lực cũng.
Từ khoá: Vỏ đại não.
154. Vì sao nam giới có râu, còn phụ nữ thì không?
Nam nữ khác nhau không những về đầu tóc và chức năng của các bộ phận cơ thể mà còn có những sự khác biệt rất lớn khác. Đó là nam giới đến tuổi thanh niên trên miệng mọc râu, còn nữ giới thì không. Nhiều người cảm thấy điều này rất kì lạ, không hiểu vì sao nữ giới lại không có râu?
Thực ra, điều đó có liên quan mật thiết với sự hấp thu, đào thải của các loại hoocmôn.
Nói chung người thanh niên khoẻ mạnh sau thời kì dậy thì đều mọc râu, ban đầu là một lớp lông thưa, màu nhạt và mềm, về sau dần dần biến thành dày và thô cứng. Y học hiện đại phát hiện vào thời kì này, trong cơ thể nam giới tiết ra nhiều hoocmôn giống đực, khiến cho lông tóc đen và thô. Mọc râu chính là một biểu hiện điển hình. Còn ở nữ thời kì này hoocmôn giống cái của cơ thể chiếm ưu thế tuyệt đối, số lượng hoocmôn giống đực rất ít, cho nên tác dụng mọc râu kém xa nam giới, do đó ở nữ không thể mọc râu thô cứng và dày đặc như nam giới.
Nhưng có một số nữ thanh niên đến tuổi dậy thì cũng mọc một lớp lông tơ đậm như "râu", vì thế mà họ cảm thấy rất đau đầu và khó chịu. Thực ra, đó không phải là râu mà chỉ là lớp lông mép hơi dày, không ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của cơ thể, thông thường qua tuổi dậy thì tự nó sẽ mất đi.
Từ khoá: Râu; Chất kích thích giới tính.
155. Vì sao nữ thường thấp hơn nam?
Nói chung đa số nữ thấp hơn nam, đương nhiên cũng có nam giới cá biệt thấp, nhưng đó là thiểu số.
Chiều cao của một người được quyết định bởi độ dài ngắn của khung xương người đó, đặc biệt là độ dài ngắn của xương chi dưới. Không tin thì bạn thử làm xem, hai người cao thấp khác nhau cùng ngồi trên ghế băng, nửa thân trên chênh lệch không bao nhiêu, nhưng khi duỗi chân ra thì chênh nhau một đoạn lớn. Cho nên bình thường ta hay nói người cao là người "chân dài", người thấp là người "chân ngắn". Điều đó là có lí. Chính vì chiều cao của một người chủ yếu biểu hiện ở chân dài hay ngắn, cho nên vấn đề nữ thấp nam cao mấu chốt là ở chỗ sự phát triển của chi dưới khác nhau.
Trẻ em sau khi sinh ra, vì sự phát triển của xương chi dưới tăng lên, chiều cao đương nhiên sẽ tăng lên. Nhưng sự phát triển của cơ thể có một quy luật nhất định, không phải hằng năm đều tăng cao như nhau mà là tăng trưởng theo hình sóng. Năm thứ nhất, chiều cao trẻ em tăng lên rõ rệt, khoảng 23 - 25 cm. Năm thứ hai chỉ tăng 10 cm. Về sau tốc độ tăng chiều cao ngày càng chậm. Năm thứ ba 8 cm, năm thứ tư, thứ năm mỗi năm chỉ tăng khoảng 4 - 6 cm. Nếu khi sơ sinh chiều cao của em bé là 50 cm thì đến 5 tuổi tăng lên gấp đôi tức là khoảng 1 m. Đến 6 - 7 tuổi lại lớn nhanh hơn, mỗi năm khoảng 8 – 10 cm. Từ đó về sau mãi đến trước tuổi dậy thì tốc độ tăng chiều cao bắt đầu giảm dần, mỗi năm chỉ tăng khoảng 3 - 4 cm. ở tuổi dậy thì các đặc trưng về giới tính xuất hiện, nam và nữ lại bắt dầu khác nhau. Bé gái nói chung bắt đầu phát dục khoảng 11 - 12 tuổi, còn bé trai chậm hơn sau 2 - 3 năm. Trong thời gian này sự tăng trưởng về chiều cao nhanh hơn, mỗi năm có thể cao 5 - 7 cm. Kết thúc tuổi dậy thì tuổi 17 - 18 chuyển sang thời kì sau của tuổi thanh niên, lúc đó sự tăng chiều cao chủ yếu dựa vào sự tăng trưởng của cột sống. Sự tăng trưởng của cột sống chậm nhưng kéo dài, vì vậy tốc độ tăng chiều cao giảm dần. Sự phát dục và phát triển của nam tuy bắt đầu chậm, nhưng tốc độ lớn lại vượt quá nữ giới và kết thúc chậm. Nói chung, nữ kết thúc tăng chiều cao từ 19 - 23 tuổi, còn nam giới từ 23 - 26 tuổi, cho nên nữ giới thường thấp hơn nam giới.
Từ khoá: Sự phát triển khung xương. Thời kì dậy thì; Chiều cao.
156. Cơ thể nam và nữ có gì khác nhau?
Sự khác nhau giữa nam và nữ ở lứa tuổi trẻ em, ngoài cơ quan sinh dục ra thì rất khó phân biệt. Đến sau tuổi dậy thì, sự khác biệt giữa nam và nữ biểu hiện trên nhiều mặt.
Da của nam giới tương đối khô ráp, còn da của nữ giới thì trơn bóng và mềm nõn, không có nếp nhăn. Cơ bắp của nam phát triển hơn nữ, khung xương cũng chắc, cứng hơn. Tuyến mỡ của nữ nhiều hơn. Nam 20 tuổi mỡ chỉ chiếm khoảng 15% trọng lượng, còn nữ chiếm đến 27%. Cho nên sức lao động thể lực của nữ yếu hơn so với bạn nam cùng lứa tuổi từ 25 - 50%, nhưng nữ lại có khả năng chịu đói tốt hơn nam giới.
Các cơ quan tạng phủ của nam và nữ có gì khác nhau? Như ta đã biết, nhịp tim nam giới đập chậm, nhịp tim nữ đập nhanh hơn. ở Trung Quốc, một nam giới khoẻ mạnh bình quân 1 kg trọng lượng cơ thể có khoảng 80 ml máu, còn nữ giới ít hơn, 1 kg trọng lượng chỉ có khoảng 75 ml máu. Số lượng hồng cầu trong máu nam giới cũng nhiều hơn nữ. Theo đo lường, lượng hoạt động của phổi nam giới hầu như cao gấp 1,5 lần so với nữ. Số lượng oxi trong máu của nam giới cũng cao hơn nữ giới, do đó nam giới có sức lực mạnh hơn.
Não của nam và nữ cũng không hoàn toàn giống nhau. Hình dạng đại não của con người giống như nhân hạt đào gồm hai bán cầu đại não tổ chức thành. Nói chung bán cầu não phải của nam giới phụ trách chức năng âm nhạc, hội hoạ tương đối phát triển, còn bán cầu não trái phụ trách về ngôn ngữ của nữ giới tương đối phát triển. Do đó trẻ em gái sớm ăn nói lưu loát hơn trẻ em trai. Còn về mặt âm nhạc, đặc biệt là sáng tác âm nhạc thì những nhạc sĩ nổi tiếng hầu như đều là nam. Đương nhiên, sự khác biệt lớn nhất giữa nam và nữ là cơ quan sinh dục. Cơ quan sinh dục của nam giới bao gồm: dương vật, túi tinh, tinh hoàn và ống dẫn tinh. Tinh hoàn nằm phía ngoài cơ thể là cơ quan sản xuất tinh trùng và tiết ra kích thích tố giống đực. Cơ quan sinh dục của nữ gồm có: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Tử cung nằm sâu trong bụng dưới, là "nôi" của bào thai. Buồng trứng ở hai bên tử cung. Vai trò của nó là sản sinh ra trứng và tiết ra hoocmôn giống cái.
Thông thường người ta có thể nhìn thấy ngay con gái thường đẹp, trau chuốt, còn con trai thì phong độ, cởi mở. Nhưng sự khác biệt giữa nam và nữ là tương đối. Có một số nam giới cũng rất giống nữ, ngược lại cũng có người nữ bề ngoài trông giống con trai. Có lúc bề ngoài nam nữ lẫn lộn, khó phân biệt. Di truyền học hiện đại cho ta biết: cơ thể người là do hàng nghìn tỉ tế bào cấu tạo nên. Trong mỗi tế bào có 46 đôi nhiễm sắc thể - là những sợi dễ bị thuốc nhuộm có tính kiềm nhuộm màu, trong đó có hai sợi nhiễm sắc thể quyết định giới tính của con người, đó gọi là nhiễm sắc thể giới tính. Ngày nay người ta bắt đầu dùng nhiễm sắc thể giới tính để kiểm tra nam hay nữ: nhiễm sắc thể giới tính XY là nam, nhiễm sắc thể giới tính XX là nữ. Trong các thế vận hội ôlympic quốc tế người ta phân biệt vận động viên nam hay nữ là dùng phương pháp này. Như vậy vận động viên không thể nam giả làm nữ, hoặc nữ giả làm nam để lẫn lộn được.
Từ khoá: Sự khác biệt của nam và nữ; Nhiễm sắc thể giới tính.
157. Có phải con gái ít thông minh hơn con trai không?
Nhiều người cho rằng con gái khi học cấp I thường chăm chỉ hơn con trai, thành tích cũng tốt hơn. Nhưng lên trung học, đặc biệt là ở cấp ba thì học lực con gái thường không đuổi kịp con trai. Do đó, có một số người đưa ra kết luận: con gái cuối cùng không thông minh bằng con trai. Sự thực thì không phải con trai thông minh hơn con gái đâu.
Vậy trí lực của con trai và con gái có gì khác nhau? Câu trả lời khẳng định là có. Các nhà khoa học nước ngoài đã từng nghiên cứu trẻ em trai và gái ba năm đầu của cấp I, tuy cùng một lớp nhưng tâm lí lứa tuổi của chúng có khác nhau. Tâm lí lứa tuổi bình quân của con trai thường kém hơn so với con gái từ 1 - 1,5 tuổi, tức là những năm đầu của cấp I, tâm lí của con gái phát triển nhanh hơn con trai, vì vậy sự nhạy bén về nhận thức của con trai và con gái có khác nhau.
Kết quả các nghiên cứu chứng tỏ xúc giác của con gái tương đối nhạy cảm, động tác bắt chước của con gái khá chính xác, khéo léo, qua rèn luyện để viết được chữ đẹp, đan nên những tấm áo len rất đẹp hoặc có những tư thế múa đẹp mê người, có thể làm những việc đòi hỏi động tác chính xác cao như hộ lí, hoặc đánh máy chữ. Sự phân biệt về âm thanh của em gái và năng lực định vị khá mạnh, dễ bị các âm thanh thu hút, cảm giác vui thích mạnh mẽ, thích hát và nghe âm nhạc. Còn thị giác và năng lực phán đoán phương vị của con trai lại mạnh hơn. Chúng luôn thích thú với các vật thực, mô hình và các phương án, có thể nhanh chóng phân biệt phương hướng, hiểu được phương vị của các vật thể, qua rèn luyện thì tuy đứng trước những mê cung dễ làm loạn mắt, thậm chí trước những bảng mạch điện rất phức tạp nhưng chúng vẫn hiểu được nhanh hơn con gái.
Con gái về mặt diễn đạt ngôn ngữ và nhớ nhanh trội hơn con trai. Khi thuật lại một câu chuyện nào đó các em gái thường thể hiện tình cảm đậm đà sâu sắc, sau khi xem phim hoặc xem kịch thích miêu tả lại các vai một cách có sắc thái, có tình cảm, thậm chí còn tự mình bắt chước. Sở trường của các em gái là tư duy hình tượng, thích những môn khoa học có liên quan với nhân văn và quan hệ con người, như các môn ngữ văn, ngoại ngữ, lịch sử, y học và nghệ thuật. Còn trẻ em trai năng lực phân tích tổng hợp khá mạnh, về mặt quan sát và suy lí trội hơn các em gái. Tư duy của chúng có tính trừu tượng, bao quát và linh hoạt, chứa đầy khát vọng khám phá bí mật của sự vật. Tóm lại, trẻ em trai có tư duy logic mạnh, yêu thích những môn khoa học trừu tượng, động não như toán, vật lí và hoá học. Vì trẻ em trai nói hay viết văn tuy kém hơn các em gái về mặt miêu tả trôi chảy, lời văn sinh động và từ ngữ phong phú, nhưng ý tứ lại mới mẻ, sâu sắc, suy nghĩ độc đáo và hàm nghĩa sâu xa hơn.
Qua đó có thể thấy trẻ em trai, gái về mặt phát triển trí lực mỗi bên có đặc điểm riêng, vừa không phải là trai mạnh hơn gái, cũng không thể nói là gái mạnh hơn trai. Có người đã tự điều tra trong số học sinh thành tích ưu việt nhất và kém nhất thì tỉ lệ % trẻ em trai cao hơn trẻ em gái, còn thành tích trung bình thì trẻ em gái chiếm nhiều hơn. Về thành tích bình quân của trẻ em trai và trẻ em gái thì không có gì chênh lệch rõ rệt.
Từ khoá: Sự khác biệt giữa em trai và em gái.
158. Vì sao nữ giới thường dịu dàng, ôn hoà hơn nam giới?
Nói chung, tính cách của nam và nữ không giống nhau. Nam giới có tính đua tranh và tính độc lập khá mạnh, còn nữ giới tương đối ôn dịu, giàu tình cảm.
Hai loại tính cách khác nhau này được hình thành như thế nào? Một nhà khoa học của Cục nghiên cứu tinh thần bang Atlanta, Mĩ đã từng thăm dò mối quan hệ giữa tính cách và giới tính. Ông phát hiện thấy trong máu có hai loại chất vi lượng có liên quan với trạng thái tinh thần. Một loại gọi là hoocmôn tuyến thượng thận A, một loại gọi là chất huyết thanh. Chất kích thích tuyến thượng thận A có thể khiến cho tính tình nôn nóng, dễ bị kích động, thích thách thức, còn tác dụng của chất huyết thanh ngược lại, có thể khống chế tính nôn nóng, khiến cho con người tỏ ra hiền dịu, hoà thuận. Thông thường, trong máu của mỗi người đều có hai chất này, nhưng tỉ lệ của chúng rất khác nhau. Nhà khoa học này đã phân tích máu của nam và nữ, phát hiện thấy 85% nữ giới có hàm lượng huyết thanh tố cao hơn nam giới, 80% nam giới có hàm lượng hoocmôn tuyến thượng thận A cao hơn nữ giới. Kết quả nghiên cứu này về mặt sinh lí đã làm rõ nguyên nhân vì sao nữ giới ôn hoà, dịu dàng hơn nam giới.
Nhưng các nhà tâm lí học lại cho rằng, sự khác biệt tính cách của nam nữ chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường xã hội. Hoạt động tâm lí và phương thức hành động của họ cần phải được xã hội tiếp thu, thừa nhận. Thông thường xã hội yêu cầu đối với nam giới là dũng cảm, kiên định, có tính độc lập, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm; yêu cầu đối với nữ giới là ôn dịu, thân tình, tỉ mỉ, gọn ghẽ, giàu tính nhẫn nại và đoan trang. Ban đầu, bố mẹ căn cứ vào hình ảnh của nam giới và nữ giới trong sự tưởng tượng của mình để giáo dục và uốn nắn con cái. Đến khi đi học, do học tập và bắt chước nhau, khiến cho tính cách của nam và nữ dần dần khác biệt càng rõ hơn. Sau khi trưởng thành, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của xã hội sẽ làm cho sự khác biệt này ngày càng định hình.
Đương nhiên, ở đây nói đến sự khác biệt về tính cách giữa nam và nữ là nói về đa số. Trong cuộc sống thực tế vẫn có những phụ nữ tính tình kiên định, mạnh mẽ, tâm lí đua tranh và chí tiến thủ rất mạnh, giành được nhiều thành tích huy hoàng trong sự nghiệp vượt qua nam giới. Tương tự, cũng có nhiều nam giới có tính hoà dịu, thân tình.
Từ khoá: Hoocmôn tuyến thượng thận A; Huyết thanh; Tính cách.
159. Vì sao họ hàng gần không thể lấy nhau?
Tác phẩm văn học nổi tiếng Hồng lâu mộng miêu tả tỉ mối tình giữa Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa. Câu chuyện làm xúc động lòng người, nhưng họ là những người họ hàng có quan hệ huyết thống nên lấy nhau là không thích hợp.
Trong 23 đôi nhiễm sắc thể của con người, có khoảng 10 vạn gien di truyền. Ngày nay đã biết được trong đó có hơn 1000 gien, nếu có vấn đề (biến thành gien gây bệnh) thì có thể gây nên các bệnh di truyền có tính tiềm ẩn (tính lặn). Loại bệnh này có đặc điểm, nếu hai bên bố mẹ có 23 đôi nhiễm sắc thể trong đó có mang gien gây bệnh giống nhau thì đời con sẽ mang bệnh. Nếu hai bên bố mẹ chỉ có một bên mang gien gây bệnh thì đời con chỉ "tiềm ẩn bệnh đó mà không phát ra" cho nên con không có bệnh.
Trong trường hợp bình thường, mỗi người chỉ có 5 - 6 đôi nhiễm sắc thể khác nhau trong số hơn 1000 gien lặn gây bệnh, cho nên hai người bà con họ hàng xa kết hôn có rất ít cơ hội cùng mang gien di truyền lặn giống nhau, do đó bệnh di truyền mang tính tiềm ẩn này rất ít gặp, tỉ lệ phát bệnh chỉ là một phần mấy vạn mà thôi.
Nhưng vợ chồng là bà con có họ gần nhau kết hôn thì tình hình lại không còn như thế nữa. Bởi vì có chung ông bà nội (hoặc ông bà ngoại) truyền cho mẹ (hoặc bố) số gien gây bệnh tiềm ẩn có cùng tỉ lệ đã tăng lên rất nhiều so với những người không có ông bà nội (hoặc ngoại) chung. Như vậy cơ hội gặp nhau giữa những cặp gien gây bệnh tiềm ẩn trong bản thân đứa con sau này sẽ tăng lên gấp bội. Vì vậy, khả năng con bị bệnh di truyền là khó tránh khỏi.
Do đó, luật pháp nhiều nước quy định không cho phép kết hôn giữa những người thân thích với nhau, chủ yếu là những người trong vòng ba đời, ví dụ anh em họ hoặc anh em chung ông bà nội, ngoại.
Từ khoá: Gien gây bệnh; Gien lặn trong di truyền.
160. Vì sao có người chửa nhiều bào thai?
Trong cuộc sống ta thường gặp một số người có khuôn mặt gần như hoàn toàn giống nhau. Đó là những anh (chị) em sinh đôi, hoặc sinh ba.
Thông thường mỗi lần mang thai, người mẹ chỉ sinh một đứa con. Nhưng tại sao có người một lần sinh đến hai, ba hoặc nhiều đứa con.
Các nhà khoa học giải đáp rằng: trẻ em sơ sinh được cấu tạo nên từ hàng nghìn tỉ tế bào, còn thai nhi ban đầu được phát sinh là từ một tế bào - trứng bắt đầu thụ tinh. Nữ giới sau thời kì dậy thì trứng chín, khoảng mỗi tháng trứng rụng một lần, mỗi lần thường là một trứng. Nếu trứng gặp và kết hợp với tinh trùng nam giới thì sẽ thành trứng thụ tinh. Trứng thụ tinh sau khi đi vào tử cung thì bắt đầu phân chia ra thành hai hoặc nhiều hơn nữa. Cùng với tế bào không ngừng lớn lên và phân hoá, cuối cùng một trứng thụ tinh sẽ hình thành thai nhi trong cơ thể mẹ. Nếu một trứng sau khi thụ tinh chia thành hai, mỗi phần phát triển thành một bào thai, ta gọi là "một trứng song thai". Trẻ em sinh đôi này sau khi sinh ra không những diện mạo giống nhau mà ngay đến giới tính, nhóm máu và gien di truyền cũng đều giống nhau. Nếu thay các cơ quan của chúng cho nhau thì không gây ra phản ứng bài trừ nào. So với một trứng song bào thai thì đa số trường hợp song bào thai khác không giống nhau đến thế, chúng hoặc nam hoặc nữ, có cao có thấp giống như anh chị em. Đó là vì mẹ của chúng một lần đã rụng hai hoặc nhiều trứng, phát triển thành những bào thai khác nhau. Trường hợp ba bào thai thì càng phức tạp hơn nhiều. Chúng có thể gồm một trứng song thai và một trứng một thai, cũng có thể giống như hai trứng song thai, cũng có thể từ ba trứng hình thành ba bào thai. Bốn bào thai, năm1 bào thai cũng suy ra tương tự.
Từ khoá: Nhiều bào thai; Trứng thụ tinh. Một trứng song thai.