121. Vì sao tuổi càng cao càng sợ lạnh?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
129. Vì Sao Chân Bại Liệt Có Loại Chân Cứng Và Loại Chân Mềm? - 130. Vì Sao Đêm Tối Đi Chỗ Trống Thường Hay Vòng Quanh Như Cũ?

❊ ❊ ❊

Cuối mùa thu, khi thanh niên còn mặc áo sơ mi thì người già đã phải mặc áo len. Đến mùa đông, người già càng sợ lạnh, hơn nữa tuổi càng cao càng sợ lạnh.

Vì sao tuổi càng cao càng sợ lạnh? Điều đó phải bắt đầu từ sự hấp thu, đào thải và chức năng điều tiết thân nhiệt của người già. Người già mức độ hấp thu, đào thải so với tuổi trẻ yếu đi rõ rệt, do đó chức năng sinh nhiệt của cơ thể cũng kém đi.

Ngoài ra, hoạt động của người già cũng giảm thấp, cùng với chức năng của các cơ quan giảm thấp thì chức năng trung khu điều tiết thân nhiệt của đại não cũng giảm đi, cho nên khi thời tiết thay đổi, khả năng điều tiết thân nhiệt của cơ thể người già thấp đi. Có người đã từng đo thân nhiệt dưới nách của 1.025 cụ già tuổi từ 60 - 90. Kết quả phát hiện thấy thân nhiệt của họ so với người trẻ bình thường thấp hơn 0,3 oC. Chính vì sự hấp thu và đào thải của cơ thể người già giảm thấp, nhiệt lượng sản sinh ra thấp và chức năng trung khu điều tiết thân nhiệt bị giảm xuống, cho nên khi nhiệt độ bên ngoài hơi giảm xuống thì cơ thể đã rất khó thích ứng, do đó có cảm giác sợ lạnh. Tuổi càng cao, năng lực thích ứng càng kém càng sợ lạnh hơn.

Vì vậy giữ ấm cho người già là rất quan trọng. Khi dự báo thời tiết chuyển lạnh thì phải kịp thời mặc thêm quần áo.

Từ khoá: Hấp thu, đào thải. Trung khu điều tiết thân nhiệt.

122. Vì sao ta có cảm giác nóng và lạnh?

Ngày đông tháng chạp, gió bắc lùa từng cơn khiến cho ta có cảm giác lạnh buốt. Ngày hè oi bức, cho dù chỉ mặc áo lót mỏng manh, ta vẫn cảm thấy nóng!

Vì sao con người lại có cảm giác nóng và lạnh?

Các nhà khoa học giải thích rằng trong da của cơ thể phân bố một lượng lớn các cơ quan cảm thụ về nhiệt độ. Các cơ quan cảm thụ có thể chia thành hai loại lớn: một loại chuyên cảm thụ lạnh; còn một cơ quan khác chuyên cảm thụ nóng, ở trên da những chỗ đó gọi là "điểm nóng".

Trên cơ thể có khoảng 25 vạn đến 30 vạn điểm lạnh, 3 vạn điểm nóng. Nếu theo bình quân, 1 cm2 để tính toán thì trên bề mặt da có khoảng 8 - 9 điểm lạnh, 1,7 điểm nóng, bề mặt da trước cánh tay có 13 - 15 điểm lạnh, chỉ có 1,5 điểm nóng. 1 cm2 trên da chân bình quân có 4,8 - 5,2 điểm lạnh, 0,4 điểm nóng. Trên mặt da phần thân so với tứ chi và mặt thì điểm lạnh càng nhiều hơn. Vì điểm lạnh càng nhiều nên cảm giác lạnh càng mạnh, do đó da trên tứ chi và mặt chịu lạnh tốt hơn so với trên thân thể.

Điểm lạnh và điểm nóng cảm giác lạnh nóng như thế nào? Đó là khi da chịu sự kích thích của nhiệt độ thấp thì cơ quan cảm thụ chỗ điểm lạnh sẽ hưng phấn lên, chúng truyền những tín hiệu nhận được qua đầu dây thần kinh lên trung khu thần kinh, do đó cơ thể sẽ sản sinh cảm giác lạnh. Tương tự, sau khi da bị nhiệt kích thích cũng thông qua quá trình như thế để cảm thấy nóng.

Từ khoá: Cơ quan cảm thụ; Điểm lạnh; Điểm nóng.

123. Vì sao từ trên cao nhìn xuống cảm thấy tim hồi hộp và tay chân mềm yếu đi?

Khi ta xem người biểu diễn "tiếp xúc với điện" thì ta liền tránh ra. Khi trong lòng nghĩ đến việc vui trước đây, ta bỗng sung sướng cười lên; khi nhìn thấy mây đen đầy trời ta biết được trời sắp mưa; khi nhìn thấy dấu chân trên mặt đất ta biết rằng có người đã đi qua đây, vv.. Tất cả những điều này đều được hình thành trên cơ sở phản xạ có điều kiện.

Từ trên cao nhìn xuống, tim hồi hộp, chân run cũng là do nguyên lí đó. Khi nhìn từ trên cao xuống ta sẽ đồng thời liên tưởng đến kinh nghiệm trong quá khứ như hồi nhỏ bị ngã, do đó hiểu được hậu quả nguy hiểm ngã từ trên cao xuống sẽ ra sao. Vì vậy, khi bản thân rơi vào điều kiện tương tự tim sẽ hồi hộp đập liên hồi, tay chân mềm nhũn ra. Những phản xạ tâm lí này của con người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường và tính năng động chủ quan. Nếu ta để một người mù đứng trên đỉnh nhà lầu cao mười tầng mà không báo cho anh ta biết trước thì chưa chắc người đó đã có cảm giác run sợ. Khi đứng trên đỉnh núi cao, nhìn ra phương xa ta có cảm giác thoải mái, nhưng khi đứng trên một vách tường dựng đứng, nhìn xuống vực sâu thì tâm lí ta sẽ trở nên sợ hãi. Người mới học nhảy dù cảm thấy rất lo sợ, nhưng khi đã khắc phục được tâm lí hoang mang đó thì sẽ bình tĩnh nhảy vào trong không trung không có gì đáng sợ cả.

Từ khoá: Phản xạ có điều kiện.

124. Vì sao phải đề phòng bệnh béo phì từ bé?

Cùng với mức sống được nâng cao, tỉ lệ bệnh béo phì hằng năm có xu hướng tăng lên rõ rệt. Béo phì không những ảnh hưởng đến thể hình, mà quan trọng hơn là còn dễ phát sinh nhiều loại bệnh như bệnh đái đường, huyết áp cao, bệnh động mạch vành, bệnh máu mỡ, sỏi mật và tai biến mạch máu não, vv.. Do đó giảm béo cho cơ thể ngày càng được nhiều người coi trọng. Vì trẻ em béo dễ bị phát triển thành người lớn béo, cho nên các nhà khoa học kêu gọi đề phòng bệnh béo phì phải bắt đầu từ bé.

Trẻ em béo phì thông thường là dưới da tích tụ một lớp mỡ quá nhiều, trọng lượng vượt quá 20% so với những trẻ em cùng tuổi, có cùng chiều cao. Người béo phì là mỡ trong cơ thể quá thừa, được tích trữ dưới hai phương thức: một là số lượng tế bào mỡ tăng lên; hai là lượng mỡ hàm chứa trong tế bào mỡ tăng cao, tức là thể tích tế bào tăng to. Trẻ em phát phì phần nhiều là số tế bào mỡ tăng lên, đó là dạng béo sau này rất khó giảm. Do đó biện pháp giảm béo chỉ có thể biến cho các tế bào mỡ nhỏ đi nhưng không thể giảm số tế bào mỡ, cho nên phải đề phòng béo từ bé là điều vô cùng quan trọng.

Đề phòng trẻ em phát phì, nên bắt đầu từ lúc sơ sinh. Đó là trẻ em sau khi sinh ra nên bú sữa mẹ,. 4 - 5 tháng đầu không nuôi bằng thức ăn đặc hoặc có chứa men amylase đặc. Nếu trong gia đình có người bị bệnh phát phì, hoặc khi trọng lượng trẻ em vượt quá phạm vi bình thường thì nên cẩn thận hết sức để sớm có phương thức ăn uống hợp lí. Thức ăn phải ít chất đường, ít mỡ, bảo đảm protêin và ăn nhiều rau xanh, hoa quả, đặc biệt là ít ăn những thức ăn ngọt, đồng thời phải tham gia rèn luyện thể dục và các hoạt động ngoài trời.

Từ khoá: Phát phì; Chất mỡ.

125. Vì sao giảm béo khó đến thế?

Cùng với mức sống không ngừng được nâng cao, thân thể mọi người ngày càng béo hơn. Rất nhiều người bị giày vò vì béo quá, tìm muôn phương ngàn kế để cho thân thể được thanh mảnh hơn. Do đó giảm béo không những trở thành đầu đề câu chuyện được nhiều người quan tâm mà còn cuốn hút cả sự chú ý của các nhà khoa học. Qua nhiều lần thực nghiệm, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều lí luận và biện pháp giảm béo, nhưng đáng tiếc là hiệu quả đều chưa mấy khả quan. Vì sao giảm béo lại khó khăn đến thế.

Để giảm béo có hiệu quả, trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân khiến cho cơ thể béo là gì. Cách giải thích thông thường nhất là nhiệt lượng đưa vào cơ thể nhiều quá, làm cho cơ thể không ngừng tích luỹ mỡ, như vậy hình thành bệnh béo.

Căn cứ lí luận này thì ăn ít, ăn kiêng đã rất nhanh trở thành phương pháp giảm béo thịnh hành nhất. Nhiều người để đạt được mục đích giảm béo đã nhịn đói, nhịn khát, khống chế ăn uống, hằng ngày chỉ ăn không quá 3700 Jun. Nhưng dùng phương pháp này để giảm béo thì có lúc còn gay go hơn ban đầu. Một số người tuy trọng lượng có giảm, nhưng một số người khác đồng thời mắc phải các chứng chán ăn, thân thể trở nên yếu đuối vô cùng.

Để khiến cho ăn kiêng càng có hiệu quả hơn, nhà khoa học Uâyxơ ở Trường đại học Alabama cho rằng: tổng nhiệt lượng do thức ăn cung cấp bao nhiêu không quan trọng mà điều cốt yếu là ăn những thức ăn mật độ năng lượng của đơn vị thấp. Tức là cần phải chọn những thức ăn khối lượng lớn nhưng nhiệt năng thấp, như vậy thì cho dù ăn nhiều cũng không hề gì. Ông cho rằng những thức ăn được kể dưới đây là tương đối lí tưởng. Ví dụ: ăn rau xanh không chứa bột (đậu xanh, rau sống, cà rốt, dưa chuột, rau thơm, vv..), ăn hoa quả tươi và những thực phẩm được nấu chín chưa qua tinh chế (khoai lang, ngô, đậu, vv..), nhưng dùng phương pháp này cũng có nhược điểm, đặc biệt là khi bạn cho rằng ăn kiêng đã thành công, đạt được mục tiêu giảm béo như đã định, nếu muốn thay thức ăn để thay đổi khẩu vị thì thể trọng rất nhanh trở về như cũ, thậm chí còn béo hơn trước.

Về sau, nhà khoa học Mĩ, tiến sĩ Japosther Laifuli đã đưa ra một cách nhìn nhận mới. Ông cho rằng cơ thể vốn có bản năng tự nhiên để đề kháng tăng trọng lượng, vì vậy cho dù ăn nhiều hay ăn ít thân thể đều duy trì trọng lượng trong một phạm vi nhất định. Phương pháp giảm béo an toàn và tin cậy nhất là hằng ngày phải vận động thích đáng. Ông nói: "Vận động có thể tiêu hoá năng lượng trong thức ăn, ví dụ mỗi ngày đi bộ hoặc chạy chậm 3 km, mỗi tuần sẽ tiêu hao thêm 6000 Jun nhiệt lượng, như vậy qua hai tuần thể trọng sẽ giảm được 500 g. Nói một cách khác, vận động có thể làm tiêu hao mỡ làm tăng cơ bắp. Khi duy trì thân thể ở trạng thái bình thường thì cơ bắp đòi hỏi nhiệt lượng nhiều hơn so với mỡ, cho nên hoạt động cơ bắp càng nhiều thì tiêu hao nhiệt lượng càng nhiều. Điều chủ yếu hơn là vận động không những ngay lúc đó mà mấy giờ sau đó luôn tăng tốc hấp thu và đào thải của cơ thể, như vậy sẽ làm cho sự tiêu hao nhiệt lượng trong thức ăn tăng lên".

Luận điểm của ông có chứng cứ đầy đủ. Phương pháp giảm béo mà ông đưa ra là có ích, không có hại cho cơ thể. Thông qua rèn luyện khiến cho thể trọng không tăng lên, hoặc duy trì không thay đổi. Nhưng nếu chỉ cần giảm béo 1 - 2 kg thì vận động thường xuyên sẽ đạt được mục đích, còn muốn giảm béo từ 2,5 kg trở lên thì phương pháp này không thể đạt được. Vậy có phải là còn có những phương pháp giảm béo khác tốt hơn không? Nguyên nhân cuối cùng khiến cho cơ thể béo là gì? Ông Laifuli vẫn chưa đưa ra được lời giải đáp sát thực nhất.

Mãi đến gần đây, ba nhà khoa học ở Cục nghiên cứu đại học Rockefeller, New York là: Sưxi, Phostơ và Libec đã nghiên cứu và phát hiện: dù là người hay động vật, sự ổn định thể trọng đều liên quan đến các tế bào mỡ trong cơ thể. Họ cho rằng, số lượng tế bào mỡ trong cơ thể không cố định, nhưng một khi đã sản sinh ra tế bào mỡ thì không thể xoá bỏ đi được.

Sự phát hiện mới về tế bào mỡ đã dẫn đến con đường mới đúng đắn, triệt để để giảm béo có hiệu quả, đó là bắt đầu từ khống chế sản sinh tế bào mỡ. Nói chung, ở những người bình thường, mỡ được giữ ở một thể tích nhất định, vì những tế bào mỡ này bị bộ phận quản lí ăn uống của thần kinh đại não khống chế, còn tế bào mỡ của những người béo về mặt thể tích vượt quá hai lần, thậm chí nhiều lần so với người bình thường. Vậy những người béo phì này dùng biện pháp khống chế ăn uống sẽ xuất hiện tình trạng gì? Tình hình không lí tưởng lắm, có một số người vốn rất béo, sau khi ăn kiêng thể trọng giảm nhiều, nhưng đồng thời cũng khiến cho chức năng hoá học trong cơ thể của họ bị nhiễu loạn rất nhiều. Tế bào mỡ của những người này rất nhỏ, gần như bằng với người bị chứng kén ăn do thần kinh, hơn nữa mạch và huyết áp của họ rất thấp, nếu họ là phụ nữ thì kinh nguyệt thường kém, họ luôn cảm thấy lạnh và thèm ăn. Họ cho rằng dùng phương pháp này để giảm béo quả thực là một hình phạt.

Ông Libec qua điều tra còn phát hiện một hiện tượng rất kì lạ. Có một phụ nữ sau khi giảm béo được 9 kg thì thân hình trở nên rất quái dị, vì bắp đùi và phần mỡ ở mông hầu như không giảm sút. Đó là duyên cớ gì?

Sau khi nghiên cứu cẩn thận, ông Libec phát hiện thấy tế bào mỡ có hai loại thụ thể. Một loại gọi là thụ thể alfa có thể thúc đẩy tích tụ mỡ; còn một loại thụ thể gọi là thụ thể bêta, có thể thúc đẩy phân giải mỡ. Người phụ nữ nói trên đây chính là vì trong tế bào mỡ ở bắp đùi và mông phần nhiều đều thuộc loại thụ thể alfa, cho nên số tế bào mỡ được phân giải và phóng thích ra rất ít.

Phát hiện này khiến cho các nhà khoa học đã có hướng nghiên cứu mới. Họ hi vọng có thể tìm ra một loại " thuốc giảm béo", cưỡng bức những tế bào mỡ không chịu "hợp tác" kia cũng có thể phân giải mỡ. Nhưng đa số các nhà khoa học cho rằng muốn đạt được kết quả nghiên cứu này còn phải cần một thời gian tương đối lâu nữa.

Tóm lại, hiện nay các phương pháp giảm béo đều phải trả giá bằng sự nỗ lực rất gian khổ, phải kiên trì phấn đấu lâu dài không mệt mỏi, cho nên người bình thường chắc khó mà thực hiện được. Còn các loại thuốc giảm béo hiện đang lưu hành trên thị trường đều không đạt được hiệu quả mong muốn, hơn nữa dùng thuốc lâu còn có thể phát sinh những phản ứng phụ không có lợi, do đó chỉ có thể là biện pháp bất đắc dĩ mà thôi.

Chính vì vậy, giảm béo đã trở thành một vấn đề khó khăn biết bao.

Từ khoá: Giảm béo; Chán ăn do thần kinh; Tế bào mỡ.

126. Vì sao có bàn chân bẹt (bằng)?

Khi đi đường bằng chân trần, mỗi người sẽ để lại dấu chân. ở giữa dấu chân bao giờ cũng có hình khuyết mặt trăng. Hình khuyết này là đường cong lòng bàn chân của mỗi người. Con người sở dĩ có thể đi trên đường gồ ghề được chính là nhờ tác dụng của hình cong này. Lòng bàn chân không có hình cong trong y học gọi là chứng "bàn chân bẹt (chân bằng)". Người bị chứng chân bẹt khi đi đường thần kinh mạch máu ở lòng bàn chân bị dồn ép, có thể gây ra bàn chân bị tê, đau và bàn chân lạnh. Vì chân bẹt khi đi các cơ lòng bàn chân không có lực đàn hồi, nên không thể đi xa, không thể đứng lâu, càng không có sức bật và không thể mang vác nặng. Vì sao lại sản sinh ta tật chân bẹt?

Các nhà khoa học giải thích rằng: hình cung của lòng bàn chân là do xương gót, xương đốt bàn chân, xương mu bàn chân, xương đốt chân, xương chêm 1 - 3, xương mép ngoài bàn chân 1 - 5, dây chằng và các cơ tổ chức nên. Khi xương chân, dây chằng và các cơ bị khác thường thì sẽ dẫn đến tật chân bẹt. Ví dụ thanh, thiếu niên đang thời kì phát triển, vì đứng lâu, mang vác nặng lâu ngày, thường phải đi xa, nghỉ ngơi hoặc dinh dưỡng không đầy đủ, khiến cho bàn chân mệt mỏi, dẫn đến tổn thương mãn tính, cơ bắp và dây chằng co lại hình thành tật chân bẹt.

Ngoài ra, khớp xương mu bàn chân phát triển quá dài, xương mép ngoài bàn chân thứ nhất quá ngắn, vv.. thì xương chân sẽ phát triển dị dạng bẩm sinh, nếu phần chân bị giập hoặc gãy, hoặc trẻ em bị bại liệt, viêm khớp dạng phong thấp đều có thể dẫn đến chứng chân bẹt. Bố mẹ là chân bẹt thì con cái cũng thường có chứng chân bẹt.

Tuổi thanh, thiếu niên tham gia thể thao, đi bộ và đi xe đạp nhiều có ích cho đề phòng chứng chân bẹt. Người đã có chứng chân bẹt thì không nên đi dép lê mà nên đi giày có gót, hoặc đi giày hiệu chỉnh, cũng có thể đi chân trần nhưng mũi chân chạm đất, hoặc dùng bàn chân đạp lên bàn lò xo để tăng thêm lực của cơ bắp, đỡ cho cơ của hình cung lòng bàn chân.

Từ khoá: Chứng chân bẹt; Hình cung bàn chân.

127. Vì sao có người chân nhiều mồ hôi?

Có một số người đi đường nhiều hoặc sau khi chạy bộ, mồ hôi chân rất nhiều, mồ hồi ướt đẫm tất và giày, mùi rất khó chịu. Mồ hôi chân nhiều. Có một số nguyên nhân sau: một số người tuyến mồ hôi phần chân tương đối nhiều. Điều này thường liên quan với nhân tố di truyền. Có người do thần kinh chi phối, tuyến mồ hôi chân nhiều và nhạy cảm, thấn kinh chi phối tuyến mồ hôi phân bố cùng với thần kinh giao cảm trên da, mỗi lần đi bộ, chạy, thậm chí thần kinh căng thẳng, tinh thần bị kích động thì thần kinh giao cảm sẽ bị hưng phấn cao độ, tuyến mồ hôi sẽ tiết ra nhiều mồ hôi. Có người vì đi giày không thoáng, mồ hôi tiết ra không được kịp thời bốc hơi. Đi tất sợi bông, đi giày vải hoặc giày da, loại tất và giày này hút nước mạnh nên mồ hôi chân dễ bốc hơi. Không nên đi giày cao su không thoáng, khi cần thiết phải đi thì có thể đệm thêm một lớp lót xốp thấm nước tốt.

Người mồ hôi chân nhiều có thể dùng biện pháp ngăn ngừa mồ hôi cục bộ. Ví dụ dùng dung dịch có 5% phèn chua, dung dịch có 3,5% metanol, hoặc dung dịch có 0,5% dấm để bôi lên chân chỗ nhiều mồ hôi. Hoặc dùng thuốc probanthil, atropin nghiền thành bột bôi lên phần chân có nhiều mồ hôi.

Từ khoá: Mồ hôi chân; Tuyến mồ hôi.

128. Vì sao học sinh cấp I - II không nên đi giày cao gót?

Chân là nền tảng của cơ thể, nó không những phải gánh chịu trọng lượng toàn thân mà còn phải đi và nhảy. Giày là vật bảo vệ cho bàn chân, nó có tác dụng làm cho bước đi ổn định và giữ ấm bàn chân. Giày cao gót là loại giày khi đi vào có thể tăng thêm đường nét thanh mảnh của hình thể và dáng yểu điệu của người phụ nữ. Do đó, để tăng vẻ đẹp, không ít em học sinh cũng muốn đi giày cao gót. Thực ra học sinh cấp I - II cơ thể đang thời kì phát triển, đi giày cao gót sẽ lợi ít hại nhiều, thậm chí rất có hại cho sức khoẻ.

Giày cao gót là chỉ loại giày gót cao hơn 3 cm. Vì gót giày cao và rất nhỏ, nên trọng lượng toàn thân tập trung ở một điểm nhỏ. Học sinh cấp I-II đang ở thời kì cơ thể phát triển, hình cung bàn chân phát triển chưa hoàn thiện, nhưng lại rất hiếu động, nghịch ngợm nên đi giày cao gót sẽ mất tính ổn định, dễ gây tổn thương đến bàn chân và mắt cá cũng như các cơ và dây chằng của bàn chân. Dùng lâu sẽ xuất hiện bàn chân và thắt lưng đau mỏi. Gót giày cao quá còn khiến cho xương gót chân có khuynh hướng chùng xuống, dọc theo chiều hình cung sẽ bị phá hoại, dễ tạo nên chứng chân bẹt. Không những như vậy, giày cao gót còn gây mũi chân bị dồn vào đầu mũi giày nhọn, khiến cho mũi chân bị bóp nghẹt, thời gian lâu sẽ dẫn đến các bệnh về ngón chân và tạo nên các mắt cá trên mu bàn chân. Nghiêm trọng hơn là các cô đi giày cao gót lâu, vì thân thể đổ về phía trước, khiến cho cột sống vùng thắt lưng cong lại một cách không tự nhiên để bảo đảm cho cơ thể được cân bằng, cuối cùng gây nên cơ thắt lưng bị mỏi mệt, đau, thậm chí làm cho xương chậu dị dạng, ảnh hưởng đến sự sinh đẻ sau này.

Qua đó có thể thấy học sinh cấp I - II không nên đi giày cao gót. Nhưng gót giày thấp quá cũng sẽ khiến cho cơ bắp chân căng thẳng, dễ mệt mỏi, đi bộ lâu sẽ cảm thấy cơ bắp chi dưới mỏi, không có lực. Các nhà khoa học cho rằng, gót giày của học sinh cấp I-II không nên cao quá 3 cm là vừa, tạo hình mặt giày nên giống với hình cung của bàn chân, làm cho lòng bàn chân chịu lực đều, khi đi không cảm thấy khó chịu. "Hành trình ngàn dặm bắt đầu từ đôi chân" là nguyên nhân như thế, vì vậy bảo vệ cơ thể cũng nên làm theo nguyên tắc đó.

Từ khoá: Giày cao gót. Cơ thắt lưng bị mỏi mệt.

129. Vì sao chân bại liệt có loại chân cứng và loại chân mềm?

Chân bại liệt có hai loại hoàn toàn khác nhau. Một loại là chân bại liệt cứng, khi thân di động về phía trước, để đề phòng mũi chân đụng xuống đất thì bệnh nhân bắt buột phải nhấc chân bại liệt cao lên và hơi khuỳnh ra phía ngoài, vẽ một vòng cung mới có thể đi dược. Còn một loại bại liệt là chân vừa mềm, vừa co ngắn, so với chân phía bình thường thì ngắn hơn một ít. Do đó hai loại người này, khi đi sẽ có những tư thế khác nhau rõ rệt. Bác sĩ có kinh nghiệm vừa nhìn thấy đã biết ngay đó là bại liệt theo tính chất gì. Thông thường gọi loại bại liệt thứ nhất là bại liệt cứng, loại bại liệt thứ hai là bại liệt mềm.

Vì sao lại phân chia thành bại liệt cứng và bại liệt mềm? Đó là vì sự vận động các chi của người dựa vào sự chi phối của hệ thống thần kinh. Từ não, tuỷ sống đến tứ chi có một mạng lưới thần kinh hoàn chỉnh, giống như lưới điện phân bố khắp toàn thân. Hệ thống thần kinh lại có thể chia thành thần kinh nguyên vận động trên (chủ yếu là đại não và tuỷ sống) và thần kinh nguyên vận động dưới (chủ yếu là thần kinh ngoại vi). Bệnh bại liệt phát sinh do thần kinh nguyên vận động trên sẽ khiến cho lực căng của chi dưới tăng cao, cứng đơ, biểu hiện thành bại liệt cứng. Nguyên nhân bệnh thường gặp nhất là di chứng sau khi bị tai biến, não bị chấn thương, hoặc tuỷ sống bị tổn thương. Còn bệnh bại liệt do dây thần kinh vận động dưới phát sinh thường khiến cho lực căng của chi dưới giảm thấp, mềm nhũn, biến thành bại liệt mềm. Nguyên nhân bệnh thường gặp nhất là di chứng trẻ em bị bại liệt. Cho nên cùng là chi dưới bị bại liệt nhưng có người chi dưới cứng, có người chi dưới mềm.

Từ khoá: Bại liệt; Bại liệt cứng; Bại liệt mềm; Dây thần kinh vận động trên; Dây thần kinh vận động dưới.

130. Vì sao đêm tối đi chỗ trống thường hay vòng quanh như cũ?

Đêm tối mịt, đi bộ chỗ trống thường hay lạc đường. Điều thú vị là phương thức lạc đường của họ tuy tiểu tiết khác nhau nhưng đại thể rất giống nhau: trong phạm vi nhất định, họ thường quay vòng trở về chỗ cũ. Dân gian thường gọi hiện tượng này là "quỷ đưa đường".

Vì sao lại xuất hiện hiện tượng như thế? Từ những năm 50 của thế kỉ XX, nhà sinh vật học Na Uy Jathopoke đã quyết tâm làm sáng tỏ câu hỏi này. Trong hơn 30 năm, ông đã đi khắp các nước Ai Cập, Trung Quốc, ấn Độ, Miến Điện, Châu Âu, Châu Mĩ, phỏng vấn khắp những người đi nhiều, biết rộng và tiến hành thực nghiệm, nghiên cứu. Cuối cùng Jathopoke đã tìm thấy câu trả lời khá có tính khoa học: Nguyên là khi đi bộ ta thường chú ý đến chân của mình, khiến cho thân thể đi theo đường thẳng. ở đây, vai trò quyết định không phải là đôi chân mà là đại não và con mắt. Nhưng đối với đa số người mà nói, mức độ phát triển của bắp chân trái và phải có khác nhau: bắp chân phải thường phát triển hơn bắp chân trái, vì vậy bước đi của chân trái dài hơn chân phải.

Ví dụ nam giới một bước của chân phải dài khoảng 66 cm, thì một bước của chân trái chỉ khoảng 40 – 51 cm, tức là bước đi của chân phải luôn luôn bằng 3/2 bước đi chân trái. Nếu người này đi 10 bước tức là mỗi chân đi 5 bước, thì chân phải đã đi được 3,3 m, còn chân trái chỉ đi được 2,2 m.

Khi đại não và con mắt chỉ huy thì người đi bộ sẽ không biết tự điều chỉnh, ví dụ, thân hướng về bên phải một ít thì mũi chân sẽ lệch về bên phải một ít, hoặc là cố ý ra vẻ chân phải bước dài hơn. Nhưng trong đêm tối, đại não và con mắt không phát huy được tác dụng, cho nên mỗi lần đi một bước thì thân thể lại lệch trái một ít. Cuối cùng, đường đi của người này trở thành hai vòng tròn hoàn chỉnh. Vòng tròn ngoài là quỹ tích chân phải, vòng tròn trong là quỹ tích chân trái. Đó chính là nguyên nhân khi đi bộ ban đêm chỗ trống thường quanh vòng tròn trở về chỗ cũ. Ban đêm bơi thuyền cũng thường quanh về bên trái, nguyên nhân cũng chẳng khác gì trường hợp đi bộ ở trên. Nguyên nhân chính là vì bắp của hai chân phải và trái có mức độ phát triển khác nhau.

Từ khoá: Bắp chân trái, phải.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.