Trong số những bệnh nguy hại nhất phải kể đến bệnh ung thư. Con người lo sợ bệnh này đến mức hễ nói đến ung thư là mặt biến sắc. Ung thư đã cướp đi sự sống của vô số người, nhưng thực chất đó là bệnh gì? Ung thư là một loại bệnh thường gặp thuộc về khối u ác tính. Cho nên người ta thường dùng khối u để chỉ u ác tính. Có người nói ung thư là bệnh do xã hội hiện đại gây ra. Thực ra không phải thế. Lịch sử loài người nhận thức về bệnh khối u đã có rất lâu đời. ở Trung Quốc trong các giáp cốt đời nhà Ân đã dùng đến chữ "diêm". Tiếng cổ chữ "diêm" có nghĩa là khối u, tức là khối u cứng như đá. Khối u chữ Anh lấy từ chữ Latin, có nghĩa là con cua, do người ta hình dung khối u như có tám càng phát triển ra bốn phía.
Ngày nay y học hiện đại đã có một định nghĩa chặt chẽ hơn về khối u. Nói một cách khái quát thì khối u là dưới tác dụng của các nhân tố gây khối u trong cơ thể, do tổ chức cục bộ phát triển khác thường mà hình thành một vật mới, tế bào khối u chính là tế bào phát triển khác thường đó.
Như ta đã biết, tế bào của cơ thể có một quá trình ra đời, phát triển, lão hoá và chết. Sau khi tế bào già chết đi thì có tế bào mới thay thế để duy trì chức năng bình thường của các tổ chức và cơ quan trong cơ thể. Cho nên đại bộ phận tế bào của cơ thể đều có thể phát triển, đó là hiện tượng bình thường. Nhưng khi sự tăng trưởng khác thường không được khống chế thì sẽ hình thành khối u.
Tế bào khối u khác với tế bào bình thường. Tế bào bình thường sau khi phát triển có một quá trình phân hoá thành thục, sau đó phát triển thành các tế bào của các tổ chức. Còn đại đa số tế bào khối u mức độ phân hoá rất thấp, không thể hình thành tế bào bình thường để phát huy chức năng vốn có của nó mà ngược lại, nó tiêu hao một lượng lớn chất dinh dưỡng trong cơ thể, khiến cho sự ra đời và phát triển của các tế bào bình thường khác bị ảnh hưởng. Điều đáng sợ hơn là sau khi hình thành khối u, thông qua máu, lympho, vv.. khối u còn chuyển dịch, di dời đến phá hoại những tổ chức của các cơ quan khác.
Đương nhiên khối u không phải là không thể chữa khỏi, chỉ cần phát hiện sớm, cắt bỏ nó trước khi tế bào khối u di căn là có thể chữa khỏi triệt để. Ngược lại, nếu khối u đã di căn muốn chữa trị triệt để là rất khó. Cho nên hiện nay, biện pháp tốt nhất để đối phó khối u là phát hiện bệnh sớm và chữa kịp thời.
Từ khoá: Khối u; U ác tính; Tế bào tăng trưởng; Di căn.
192. Vì sao người ta gọi AIDS là "đại dịch của thế kỉ XX"?
Cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX ở các nước Âu Mĩ bắt đầu lưu hành một căn bệnh kì quái. Bệnh nhân phần lớn đều có triệu chứng giống như viêm phổi, sốt kéo dài, ho, có một số bệnh nhân biểu hiện thành chứng ỉa chảy mãn tính, trọng lượng giảm dần. Về sau xuất hiện cảm nhiễm các men khuẩn. Nhưng điều kì lạ là đối với các chứng bệnh xem ra rất phổ thông này sử dụng bất cứ loại thuốc gì cũng không có hiệu quả. Khoảng 4 - 5 năm sau, những bệnh nhân này đều chết. Để bóc trần bí mật của căn bệnh đáng sợ này, các nhà khoa học đã điều tra nghiên cứu một lượng lớn các bệnh án. Đến cuối năm 1981, người ta đã phát hiện nguyên nhân của bệnh là một loại virut chưa hề gặp. Virut loại bệnh này giống như virut bệnh truyền nhiễm, phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế giới. Vì loại bệnh này khiến cho chức năng miễn dịch của cơ thể mất hết tác dụng, cho nên được gọi là chứng "suy giảm hệ thống miễn dịch ", chữ Anh viết tắt là AIDS.
Bệnh AIDS trong thời gian ngắn, chỉ mấy năm đã lan tràn khắp thế giới. Hầu như không có nước nào tránh khỏi. Bệnh AIDS trở thành sự uy hiếp nghiêm trọng nhất mà loài người phải đối mặt.
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để chữa bệnh AIDS. Có một số thuốc tuy có cải thiện được tình trạng bệnh và kéo dài thêm một ít tuổi thọ, nhưng lại có phản ứng phụ. Vì bệnh AIDS chưa có văcxin phòng ngừa, sau khi phát bệnh lại không có thuốc đặc trị, cho nên tỉ lệ tử vong rất cao, vì vậy mà người ta gọi là "đại dịch của thế kỉ XX". Các kết quả nghiên cứu chứng tỏ, môi giới chủ yếu truyền nhiễm bệnh AIDS là máu, tinh dịch và các dịch thể khác bao gồm nước bọt, sữa. Con đường truyền nhiễm chủ yếu là đồng tính luyến ái, quan hệ tình dục bừa bãi, tiếp máu, tiêm, sinh đẻ và bú sữa. Nó không truyền nhiễm qua không khí, cũng không truyền nhiễm qua muỗi cắn, càng không truyền nhiễm qua đường ăn uống, lao động, bơi lội, bắt tay và dùng chung hố xí, cho nên chỉ cần gìn giữ bản thân sạch sẽ, không có những hành vi quan hệ tình dục không an toàn, không nghiện hút, cẩn thận khi truyền máu, như vậy sẽ hạn chế được nhiễm bệnh AIDS.
Từ khoá: Bệnh AIDS.
193. Virut bệnh AIDS huỷ hoại hệ thống miễn dịch của cơ thể như thế nào?
Hung thủ gây nên bệnh AIDS là virut của bệnh AIDS (Human Immunodeficiency Virus, gọi tắt là HIV). Virut bệnh này vô cùng nhỏ, đầu mũi kim có thể chứa được 16 nghìn virut bệnh. Mặc dù nhỏ như thế nhưng nó lại có lực sát thương rất mạnh đối với hệ thống miễn dịch của con người và cuối cùng phá tan hệ thống miễn dịch. Quá trình này được diễn ra như thế nào?
Virut bệnh AIDS thông qua quan hệ tình dục bừa bãi, hoặc thông qua kim tiêm bị nhiễm virút bệnh mà đi vào tĩnh mạch, thâm nhập vào cơ thể. Mục tiêu đầu tiên mà nó công kích là tế bào lympho T có tính bổ trợ (T-helper cell).
Tế bào lympho T có tính bổ trợ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nó là chất làm hài hoà, có thể thông qua việc truyền tín hiệu hoá học để kích thích cơ thể sinh ra kháng thể chuyên dụng kháng lại vi khuẩn xâm nhập, nó còn có thể khống chế sự phát triển của một số loại tế bào khác trong hệ thống miễn dịch.
Những virut bệnh AIDS sau khi xâm nhập vào cơ thể, cùng hợp với nucleotit và axit nucleic hợp thành ARN. Trên ARN mang đầy đủ thông tin di truyền của virut bệnh vì trên bề mặt tế bào lympho T có tính bổ trợ tồn tại thụ thể có khả năng phân biệt được độc tố bệnh AIDS. Sự kết hợp này có tính chuyên nhất rất mạnh, giống như một chìa khoá chỉ có thể mở được một ổ khoá, phối hợp rất chặt chẽ với nhau. Một khi virut kết hợp với thụ thể thì điều đáng sợ sẽ phát sinh ra. Virut bệnh cho ARN xâm nhập vào trong tế bào lympho T có tính bổ trợ, thông qua một loại enzim gọi là enzim phản chuyển phiên mã ngược ARN thành ADN, hợp lại vào trong ADN của tế bào lympho T. Virut bệnh ADN sau khi đi vào tế bào lympho T sẽ nằm im ở đó trong một thời gian dài. Nhưng vào một dịp nào đó, sau khi hệ thống miễn dịch của cơ thể được kích hoạt để chống lại một loại vi khuẩn nào đó, mới xâm nhập, tế bào lympho T đã bị cảm nhiễm bèn sinh sôi nảy nở, từ đó mà sinh ra vô số virut bệnh AIDS. Những virut này sẽ được giải phóng ra khỏi các tế bào lympho T, một mặt chúng giết chết một lượng lớn tế bào T làm cho phòng tuyến thứ nhất của hệ thống miễn dịch tan rã, mặt khác nó tiếp tục công kích các loại tế bào khác của hệ thống miễn dịch, cuối cùng phá huỷ triệt để toàn bộ hệ thống miễn dịch, khiến cho cơ thế mất đi khả năng miễn dịch.
Trong thực tế bệnh AIDS có tên gọi chính thức là "chứng suy giảm miễn dịch". Chính vì nó có thể phá huỷ hệ thống miễn dịch của cơ thể cho nên mới có tên gọi như thế.
Từ khoá: Virut AIDS; Hệ thống miễn dịch. Tế bào lympho T có tính bổ trợ.
194. Vì sao hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể tiêu diệt được vi khuẩn?
Trong cơ thể người bình thường, hệ thống miễn dịch rất hoàn chỉnh. Khi cơ thể bị vi khuẩn bệnh tấn công, hệ thống miễn dịch sẽ được kích hoạt và phản kích lại vi khuẩn bệnh đã xâm nhập vào.
Hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công khuẩn bệnh như thế nào?
Đây là một quá trình vô cùng phức tạp. Sau khi vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, trước hết đại thực bào trong hệ thống miễn dịch sẽ phát động công kích. Nó "nuốt" vi khuẩn vào trong bụng của mình, sau đó thông qua tác dụng của men, nó sẽ phân giải các vi khuẩn trong bụng thành từng mảnh vụn. Những mảnh vụn này của vi khuẩn hiện trên bề mặt của đại thực bào, trở thành kháng nguyên, chúng giống như những nhãn hiệu biểu thị mình là đại thực bào đã nuốt các vi khuẩn xâm nhập, đồng thời báo cho tế bào T trong hệ thống miễn dịch biết.
Tế bào T cùng với những mảnh vụn trên bề mặt đại thực bào, hay nói cách khác là kháng nguyên vi sinh hai bên gặp nhau giống như một chìa khoá đối với một ổ khoá, lập tức kết hợp với nhau sinh ra phản ứng. Khi đó đại thực bào sẽ sản sinh ra một chất gọi là nhân lympho. Những nhân lympho này có tác dụng gì? Tác dụng lớn nhất của nó là kích hoạt tế bào T. Sau khi tế bào T "tỉnh dậy" lập tức sẽ phát lệnh "cảnh báo" đối với hệ thống miễn dịch, báo tin đã có một lượng lớn "kẻ địch" xâm nhập vào. Lúc đó hệ thống miễn dịch sẽ đưa ra một loạt tế bào lympho T có tính sát thương và nó còn dẫn xuất ra loại tế bào lympho B có công dụng đặc biệt. Cuối cùng tế bào lympho B sẽ sản sinh ra chất kháng thể chuyên dụng để tiêu diệt khuẩn bệnh.
Tế bào lympho T có tính sát thương rất có ý nghĩa, nó có thể truy tìm những tế bào trong cơ thể đã bị cảm nhiễm khuẩn bệnh, sau khi tìm ra thì giống như những sát thủ, nó sẽ tiêu huỷ những tế bào bị cảm nhiễm này, ngăn ngừa khuẩn bệnh tiếp tục phát triển.
Đồng thời với việc phá huỷ tế bào bị nhiễm bệnh, tế bào lympho B còn sản sinh ra kháng thể, kết hợp với vi khuẩn trong tế bào, khiến cho vi khuẩn mất đi tác dụng gây bệnh. Chính nhờ thông qua một loạt quá trình phức tạp như thế mà hệ thống miễn dịch có thể khống chế có hiệu quả những vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể.
Sau khi sự nhiễm bệnh lần thứ nhất được khống chế, hệ thống miễn dịch sẽ ghi lại toàn bộ quá trình đối kháng của nó đối với khuẩn bệnh và bảo tồn lâu dài.
Nếu cơ thể lại bị loài khuẩn bệnh này xâm nhập lần thứ hai thì hệ thống miễn dịch sẽ biết rõ cần phải làm thế nào để đối phó lại chúng. Nó sẽ có những phản ứng dễ dàng. chính xác, nhanh chóng để tiêu diệt vi khuẩn đã xâm nhập.
Từ khoá: Hệ thống miễn dịch; Đại thực bào; Tế bào T; Tế bào lympho T có tính sát thương. Tế bào lympho B; Kháng thể.
195. Vì sao đông y khi khám bệnh phải xem lưỡi?
Đến khám bệnh ở Đông y, thầy thuốc thường nói "thè lưỡi ra xem". Như thế là vì sao? Nguyên nhân là lưỡi có thể phản ánh một cách khách quan tình hình các bộ phận trong cơ thể. Một khi cơ thể mắc bệnh, lưỡi thường có sự biến đổi. Thầy thuốc có thể căn cứ vào các vết tích "như mạng nhện" trên lưỡi để chẩn đoán bệnh giống như bắt mạch, đó là những căn cứ quan trọng trong chẩn đoán bệnh và kê đơn thuốc của Đông y.
Cách xem lưỡi như thế nào? Thầy thuốc chủ yếu quan sát gai vị giác và chất lưỡi. Gai vị giác là những núm mỏng nằm trên mặt lưỡi. Người bình thường núm lưỡi mỏng, màu trắng, gọi là núm trắng mỏng. Chất lưỡi là màu sắc của lưỡi, người bình thường nói chung lưỡi có màu hồng nhạt.
Khi mắc bệnh, trước hết có thể thấy núm lưỡi bị thay đổi, tiến thêm một bước có thể phát hiện chất lưỡi cũng thay đổi. Nếu gai vị giác từ mỏng biến thành dày, từ màu trắng biến thành màu vàng cháy thậm chí là màu đen thì chứng tỏ bệnh từ nhẹ biến thành nặng. Tương tự, khi chất lưỡi từ màu hồng nhạt biến thành màu đỏ, màu đỏ sẫm, thậm chí là màu tím hoặc những vết tím xanh thì chứng tỏ bệnh đã nặng lên nhiều. Điều cần chú ý là ở người già vì mạch máu xơ cứng, tổ chức lão hoá, chất lưỡi cũng có thể xuất hiện những vết tím xanh, cho nên cần phải phân biệt với khi bị bệnh. Ngoài ra, trong quá trình bị bệnh, gai vị giác thường bong, bề mặt lưỡi rất trơn, giống như mặt gương, lúc đó chứng tỏ bệnh rất nặng.
Những vị trí khác nhau trên bề mặt lưỡi cũng có thể làm căn cứ bổ trợ để chẩn đoán bệnh. Đầu lưỡi thường phản ánh sự biến đổi của tim và phổi, giữa lưỡi phản ánh lá lách và dạ dày, hai bên mép lưỡi phản ánh gan và mật, còn cuống lưỡi phản ánh thận.
Ngoài ra, khi gai vị giác biến thành dày là có quan hệ với tinh thần bị căng thẳng, thở bằng miệng, hút thuốc, xoang miệng vệ sinh không tốt hoặc xoang miệng bị cảm nhiễm.
Ngoài ra, còn có những người tuy sức khoẻ bình thường nhưng lưỡi hơi khác thường, có thể lúc đó trong cơ thể đã tiềm tàng một sự biến đổi về bệnh lí, nhưng tạm thời chưa có biện pháp để chẩn đoán ra, vì vậy cần phải nâng cao cảnh giác, định kì kiểm tra để sớm phát hiện bệnh tình trong cơ thể.
Từ khoá: Lưỡi; Gai vị giác; Chất lưỡi.
196. Vì sao "siêu âm B" cũng có thể chẩn đoán được bệnh?
Cùng với sự phát triển của y học, những thiết bị chẩn đoán bệnh tiên tiến không ngừng ra đời. Chẩn đoán siêu âm B chính là trên cơ sở sự phát triển của điện tử hiện đại, kết hợp nguyên lí ra đa với âm thanh học để làm thành phương pháp chẩn đoán mới. Chẩn đoán siêu âm B có các ưu điểm là tính chuẩn xác cao, không gây tổn thương, không gây đau, không gây phóng xạ, không cần thuốc tạo ảnh độc hại và tốn kém, vv.. Siêu âm B thông thường có thể kiểm tra các bệnh của nội tạng gan, thận, lá lách, tuỵ và tử cung mà còn có thể dùng nó để tìm hiểu tình trạng phát triển của thai nhi trong tử cung.
Siêu âm B có các tính chất vật lí giống như âm thanh bình thường, nó dùng phương thức sóng dọc và với tốc độ nhất định truyền trong môi trường không khí, nước và chất rắn. Khi gặp vật trở ngại, nó sẽ phản xạ hồi âm và có thể bị môi chất hấp thu làm yếu đi. Đồng thời siêu âm còn có một số đặc điểm vật lí quan trọng khác, ví dụ cùng với hướng của ánh sáng, nó có thể tạo thành chùm tia, những tia thẳng.
Kiểm tra siêu âm B tức là dùng những đặc điểm này của siêu âm, bác sĩ dùng máy chẩn đoán siêu âm để thực hiện. Máy siêu âm vừa có tác dụng phát ra siêu âm, vừa có tác dụng thu tín hiệu phản xạ. Khi máy siêu âm làm việc nó tạo ra những sóng cơ học cao tần, tức là siêu âm. Bác sĩ cầm đầu dò đặt vào những vị trí cần kiểm tra của bệnh nhân để thăm dò. Vì các tổ chức trong cơ thể dày đặc, nên hệ số trở kháng và hệ số hấp thu siêu âm rất khác nhau, đặc biệt là khi những tổ chức trong cơ thể bị viêm tích nước, sưng to, canxi hoá và có bóng khí thì hồi âm từ trong các cơ quan của cơ thể phản xạ lại sẽ rất khác nhau. Lúc đó đầu dò có thể chuyển tín hiệu siêu âm phản hồi thành tín hiệu điện, thông qua một loạt xử lí phức tạp và tinh tế của máy siêu âm nó sẽ chuyển thành ảnh mặt cắt của các cơ quan và hiện lên màn hình. Bác sĩ căn cứ các ảnh mặt cắt khác nhau này để phân tích tổng hợp, từ đó xác định được tính chất và vị trí mắc bệnh.
Từ khoá: Siêu âm B; Siêu âm; ảnh siêu âm.
197. Kĩ thuật CT chẩn đoán bệnh như thế nào?
Từ sau khi nhà vật lí Rơnghen phát hiện tia X, nó đã phát huy tác dụng to lớn trong y học, đặc biệt là từ khi xuất hiện kĩ thuật CT thì hiệu lực chẩn đoán của nó trở nên vượt trội như "hổ được thêm cánh".
Thế nào là kĩ thuật CT? Tên gọi đầy đủ của nó là kĩ thuật quét lớp tia X của máy tính điện tử. Kĩ thuật này ra đời năm 1972, đến nay đã thay đổi 4 đời máy. Sự ứng dụng kĩ thuật CT đã làm cho phương pháp chẩn đoán bằng tia X chuyển lên một bước nhảy vọt. Trước kia người ta chưa thể dùng kĩ thuật X quang để kiểm tra những vị trí nằm sâu trong các nội tạng. Ngày nay dùng kĩ thuật CT đã có thể tiến hành kiểm tra được bệnh tình ở những vị trí bị che khuất đó. Cho nên người ta gọi sự phát minh kĩ thuật CT là sự tiến bộ lớn nhất của lĩnh vực y học phóng xạ kể từ ngày phát hiện tia X quang đến nay.
Kĩ thuật CT được ứng dụng sớm nhất là dùng để chẩn đoán các bệnh về não, đặc biệt tỉ lệ chẩn đoán chính xác đối với các khối u não đạt từ 95% trở lên. Nó chẩn đoán rất chính xác đối với phù não, viêm não. Kĩ thuật CT phân biệt rất có hiệu quả về bệnh tai biến não do xuất huyết não và bệnh tai biến não do não thiếu máu, bởi vì ảnh CT não xuất huyết có mật độ thay đổi rất cao, còn ảnh CT não thiếu máu thì mật độ rất thấp, hai trường hợp hoàn toàn khác nhau.
Cùng với sự cải tiến và không ngừng hoàn thiện của thiết bị chụp CT, thiết bị này còn được dùng rộng rãi trong việc chẩn đoán các bệnh ở lồng ngực, bụng, xoang chậu, cột sống và tứ chi. Ví dụ dùng kĩ thuật CT kiểm tra phần ngực có thể phát hiện bệnh lao phổi, phổi phù nước, phổi bị khối u và màng ngực, các bệnh ở hoành cách mô, nó còn có thể giúp ta tìm hiểu các thời kì và hướng phát triển của khối u. Điều đó đối với phương án điều trị chính xác rất có giá trị.
Gan là một cơ quan đặc và lớn. Nói chung chụp ảnh X quang rất khó chẩn đoán bệnh, còn dùng kĩ thuật CT thì sẽ phát hiện các khối u, các túi viêm, túi mủ trong gan rất rõ ràng.
Dùng kĩ thuật CT để chẩn đoán bệnh ở tuyến tuỵ có giá trị thực dụng rất lớn, vì tuyến tuỵ nằm sâu trong khoang bụng, nói chung chiếu X quang hoặc dùng kĩ thuật siêu âm rất khó hiện rõ, còn kĩ thuật CT có thể phát hiện được rất sớm những khối u trong tuyến tuỵ, viêm cấp tính cũng như những bệnh khác đối với tuyến tuỵ.
Ngoài ra, dùng kĩ thuật CT để kiểm tra xoang chậu cũng có thể chẩn đoán buồng trứng có khối u, khối u tử cung và các bệnh ở bàng quang cũng như tiền liệt tuyến. Kĩ thuật CT kiểm tra bệnh cột sống và tứ chi có thể thể hiện rất rõ các tổ chức phần mềm như cơ thăn và những cơ khác xung quanh cột sống, từ đó mà có được những tư liệu chẩn đoán có giá trị.
Kĩ thuật CT ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Chúng ta tin chắc rằng cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, công dụng của kĩ thuật CT sẽ ngày càng đi sâu vào các lĩnh vực chẩn đoán của y học hiện đại.
Từ khoá: Kĩ thuật CT; X quang.
198. Chiếu X quang có hại cho sức khoẻ không?
Xquang trong y học gọi là chiếu X quang, là một biện pháp được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị. Khi kiểm tra sức khoẻ thường dùng X quang để chiếu phần ngực. Khi hệ thống tiêu hoá, hệ thống tim mạch và hệ thống xương có bệnh cũng thường dùng X quang kiểm tra. Có một số người khi kiểm tra X quang thường lo lắng sức khoẻ có bị tổn hại không? Vì tia X quang có tác dụng sát thương nhất định đối với tế bào sinh vật, cho nên cơ thể sau khi chiếu X quang cũng sẽ sinh ra những phản ứng sinh lí nhất định.
Chiếu X quang quá mạnh sẽ gây tổn hại đối với các tổ chức, ảnh hưởng đến chức năng sinh lí, thậm chí gây nguy hiểm cho tính mạng. Nhưng chiếu X quang đúng mức thì sẽ không ảnh hưởng đến sức khoẻ, vì khi chiếu X quang lượng chiếu rất nhỏ, chỉ hạn chế trong phạm vi an toàn. Nếu bác sĩ cần phải chụp ảnh hoặc chiếu lại cũng sẽ xét đến thời gian phân cách giữa hai lần, đặc biệt là khi ngẫu nhiên chiếu phần ngực hoặc kiểm tra dạ dày, đường ruột, chụp ảnh phim về xương hoặc mạch máu thì không gây ra nguy hại gì. Đồng thời dù chiếu kiểm tra hay chữa trị, ở những bộ phận không cần thiết phải chiếu, đặc biệt là ở những tổ chức nhạy cảm, bác sĩ đều dùng tấm chì hoặc tấm cao su chứa chì che chắn để bảo vệ và cố gắng để thời gian chiếu ngắn nhất. Cho nên khi chiếu X quang bạn không cần phải lo lắng.
Từ khoá: X quang.
199. Vì sao máy tính có thể chẩn đoán được một số bệnh?
Ngày nay trong lĩnh vực kĩ thuật cao, máy tính không những dùng để tính toán mà nó đã có một vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực, thậm chí người ta còn dùng máy tính để chẩn đoán bệnh. Điều này có thể có người sẽ nghi ngờ, vì họ cho rằng máy tính có thể khám bệnh, vậy thì cần gì đến bác sĩ nữa? Thực ra máy tính chỉ là một loại máy móc, cần có con người điều khiển, hơn nữa trình tự chẩn đoán của nó cũng là do bác sĩ thiết kế nên. Tóm lại, mặc dù máy móc tiên tiến đến bao nhiêu thì điều quyết định vẫn là con người, máy tính khám bệnh cũng không ngoài nguyên lí đó.
Vì sao máy tính có thể chẩn đoán được một số bệnh? Điều này phải bắt đầu nói về nguyên lí làm việc của máy tính. Trước hết người ta phải xây dựng cho máy tính một kho bệnh án, tức là trước hết bác sĩ phải lập các dạng triệu chứng bệnh, các kết quả thí nghiệm và đưa ra những phương án chữa trị tương ứng rồi đưa trình tự đó vào máy tính. Khi bệnh nhân đến khám chỉ cần cho vào máy tính những dữ liệu như triệu chứng bệnh, thể chứng và kết quả thí nghiệm, máy tính sẽ căn cứ những chỉ tiêu này, tự động tìm kiếm trong kho bệnh án để tìm ra bệnh tương ứng. Một khi đã tìm được thì nó sẽ đưa ra kết quả báo cho người thao tác biết bệnh nhân mắc bệnh gì, nên điều trị như thế nào. Ví dụ một người đến khám bệnh sắc mặt tái xám, thường cảm thấy đau đầu, hoa mắt, sức chú ý không tập trung và có chứng gan, lá lách sưng to. Kết quả xét nghiệm hồng cầu và bạch cầu đều thấp. Đưa những thông tin về bệnh án này vào máy tính, qua xử lí sẽ phát hiện được nó ăn khớp với các chỉ tiêu bệnh máu thiếu sắt trong kho bệnh án, do đó máy tính sẽ đưa ra kết luận chẩn đoán bệnh nhân thiếu máu, thiếu sắt.
Qua đó có thể thấy máy tính khám bệnh thực chất là do bác sĩ đã dùng các tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh sắp xếp theo một thứ tự nhất định đưa vào trong máy tính. Khi bệnh nhân đến khám chỉ cần đưa các thông tin về chứng bệnh, kết quả xét nghiệm vào để đối chiếu, nếu chỉ tiêu hai bên ăn khớp với nhau thì có thể đưa ra kết quả chẩn đoán. Cho nên then chốt của việc chẩn đoán bệnh, trên thực tế là do bác sĩ quyết định.
Từ khoá: Máy tính; Tiêu chuẩn chẩn đoán.
200. Vì sao nên dùng nước ấm để uống thuốc?
Khi ốm cần uống thuốc, xem ra đó là điều đơn giản nhất. Nhưng phương pháp uống thuốc cũng rất cần đúng cách. Nói chung dùng nước ấm uống thuốc là tốt nhất. Nhưng có một số người khi uống thuốc viên tỏ ra dũng cảm, có bản lĩnh, cho viên thuốc vào miệng và nuốt vào không cần dùng nước. Thực tế cách uống thuốc như vậy rất không khoa học, thậm chí còn có hại cho sức khoẻ.
Các nhà y học cho biết uống thuốc nuốt khô, viên thuốc rất dễ ngừng lại trong thực quản, cảm thấy rất khó chịu. Hơn nữa, vì đa số thuốc viên đều có tính kích thích nhất định đối với niêm mạc thực quản. Ví dụ, các viên kháng sinh, sunfat ferrous vv.. có tính kích thích mạnh, hoà tan chậm trong thực quản nên nó sẽ kích thích niêm mạc ứ huyết. Do đó để phát huy đầy đủ công hiệu của thuốc, ngăn ngừa tác dụng phụ không nên uống thuốc khô.
Phương pháp uống thuốc viên tốt nhất là dùng nước ấm để uống, nên uống nước hơi nhiều, như vậy có thể khiến cho những thuốc có tính kích thích rất nhanh đi vào dạ dày để tránh ngừng lại trong thực quản, làm hại niêm mạc thực quản.
Từ khoá: Uống thuốc; Niêm mạc thực quản.