161. Thai nhi trong bụng mẹ làm những gì?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
169. Vì Sao Có Trẻ Em Mùa Hè Dễ Sinh Rôm, Mụn, Nhọt? - 170. Ho Gà Có Phải Là Ho Mãi "Trăm Ngày" Không?

❊ ❊ ❊

Trong bụng mẹ, thai nhi suốt ngày làm gì? Trước đây, người ta không hề biết gì về vấn đề này. Ngày nay, các nhà y học thông qua siêu âm quan sát được thai nhi trong bụng mẹ, trên màn hình nhìn thấy từng động tác của thai nhi rất rõ. Vốn là thai nhi không phải "hai tai không nghe" những việc ngoài tử cung, không phải chỉ biết ngủ suốt ngày.

Thai nhi có thể dùng mắt nhìn đồ vật. Khi nó ngủ hoặc đổi tư thế, mắt sẽ di động. Nếu có một luồng sáng chiếu vào bụng mẹ, thông qua vách tử cung và nước ối nó có thể nhìn thấy ánh sáng lờ mờ giống như ánh sáng đèn pin bị che bởi một lớp giấy. Thai nhi sẽ mở to mắt và quay mặt nhìn về phía ánh sáng.

Thai nhi đã có thính giác. Nó thích nghe âm nhạc có tiết tấu chậm, tốt nhất là 60 nhịp trong một phút vì nó giống với nhịp tim của mẹ. Nếu có âm nhạc nó sẽ quay đầu lại để nghe âm thanh bên ngoài.

Bắt đầu từ tháng thứ tư, lưỡi của thai nhi đã có gai vị giác và bắt đầu phát triển. Nó ghét vị đắng và thích vị ngọt.

Trong cơ thể mẹ, thai nhi cũng đã có phản ứng về xúc giác. Nếu ta đụng vào chân thai nhi nó sẽ mở chân ra hình cái quạt, đụng vào tay nó nó sẽ nắm tay lại.

Thai nhi 8 tháng đã biết làm một số việc. Nó biết ngáp, nắm tay, mút ngón tay, ưỡn vai, uốn lưng và đạp, biết mỉm cười, chau mày, dụi mắt, thậm chí biết làm xấu hổ. Đương nhiên, những hoạt động này đều là vô ý thức.

Thai nhi 3 - 4 tháng đã có chức năng bài tiết nước tiểu. Trong bàng quang nó đã tích chứa nước tiểu. Ngày nay người ta đã biết được thai nhi 7 tháng mỗi giờ bài tiết khoảng 10 ml nước tiểu, trước khi sinh mỗi giờ có thể bài tiết 27 ml. Nước tiểu và những chất thải khác của thai nhi đều thông qua nhau của mẹ bài tiết ra ngoài.

Từ khoá: Thai nhi.

162. Vì sao trẻ em mới sinh ra lại khóc?

Khóc và cười đều là sự biểu lộ tình cảm của con người, nhưng ý nghĩa biểu đạt hoàn toàn ngược nhau. Cười thông thường biểu thị sự vui mừng, khóc thường biểu thị sự đau khổ. Mặc dù khóc như thế nào, khóc ra nước mắt mới là khóc thật, nếu không thì đó là khóc giả.

Đứa trẻ vừa sinh ra đã khóc là khóc giả. Bởi vì tiếng khóc này chỉ có tiếng mà không có nước mắt, hơn nữa vừa sinh ra căn bản đứa trẻ không có gì đau khổ mà phải khóc, hơn nữa nó cũng chưa hiểu được khóc là gì. Đương nhiên, đứa trẻ khóc là khóc giả, đó không phải là biểu hiện vì đau khổ. Vậy vì sao nó lại khóc? Trên thực tế tiếng khóc của đứa trẻ biểu thị sự khởi đầu vận động hô hấp của nó. Sau khi sinh ra nếu đứa trẻ không khóc, tức là không thở, là ngạt thở. Thai nhi bình thường (khi chưa sinh ra) nằm trong bụng mẹ không hô hấp. Oxi và các chất bổ cần thiết đều thông qua dây rốn và nhau trực tiếp lấy từ máu của mẹ. Nhưng sau khi ra đời thì tình hình đã khác. Đứa trẻ vừa rời khỏi bụng mẹ, sống độc lập phải dựa vào hô hấp của mình để hấp thụ oxi và thải ra khí CO2, phải tuần hoàn máu toàn thân, phải tự mình ăn uống để hấp thu dinh dưỡng.

Không khí đi vào phổi và nhờ phổi co và giãn. Sự co giãn của phổi là nhờ lồng ngực mở rộng và co lại. Khi lồng ngực mở ra thì phổi cũng giãn ra, do đó áp lực trong phổi thấp hơn áp lực không khí, không khí bên ngoài nhân đó đi vào phổi. Ngược lại khi lồng ngực thu nhỏ, áp lực trong phổi cao hơn áp lực không khí, khí trong phổi bị dồn ra. Khi thai nhi đang ở trong bụng mẹ thì trong phổi không có không khí. Hai lá phổi lúc đó còn là một tổ chức đặc, nhưng đã đầy trong ngực, vì khi đó lồng ngực đang ở trạng thái co lại cho nên lồng ngực rất nhỏ. Sau khi ra đời vì tư ghế thay đổi, tay chân được duỗi ra làm cho lồng ngực vốn bị co lại, bỗng nhiên giãn ra, lồng ngực nở to, phổi cũng nở to, lúc đó đứa trẻ sẽ hít vào hơi đầu tiên. Sau khi hít vào, không khí từ khí quản đi vào phế nang, các cơ hít lập tức giãn ra, còn các cơ thở thì co lại, lồng ngực tự mở ra lại thu nhỏ về trạng thái cũ, khiến cho không khí trong phổi bị ép ra. Bởi vì không khí bên ngoài có áp lực nhất định, khi chất khí từ trong phế nang đi ra ngoài qua khí quản, sẽ làm cho các cơ của đầu yết hầu co lại, hai dây thanh đới nằm trong yết hầu bị chất khí rung động, nên bật ra tiếng kêu như tiếng khóc. Đứa trẻ lúc vừa ra đời phần nhiều ở trạng thái thiếu oxi, vì khí CO2 trong máu khá nhiều cho nên kích thích và làm hưng phấn trung khu thần kinh hô hấp, do đó phải hít vào từng ngụm không khí. Vì vậy trẻ em sau khi sinh đều khóc một trận, chờ đến lúc hoạt động hô hấp có nhịp bình thường thì sẽ hết khóc.

Từ khoá: Khóc; Hài nhi; Hô hấp.

163. Vì sao con gái thời kì có kinh ban đầu phải chú ý vệ sinh kinh nguyệt?

Nói chung con gái khoảng 14 tuổi, cơ quan giới tính bắt đầu phát triển, đồng thời xuất hiện chu kì kinh nguyệt. Nhưng cũng có em rất sớm từ 9 tuổi, hoặc rất muộn đến 18 tuổi mới có kinh. Điều đó phụ thuộc vào tố chất thân thể, khu vực địa phương, điều kiện khí hậu, vv.. mà sớm muộn khác nhau. Thời kì đầu kinh nguyệt là hiện tượng sinh lí bình thường của con gái. Nhưng vì tuổi trẻ ít hiểu biết, cộng thêm tâm lí xấu hổ, không hiểu vệ sinh kinh nguyệt cho nên dẫn đến bệnh về kinh nguyệt. Cũng có em vì thiếu kiến thức vệ sinh sinh lí, đối với hiện tượng kinh nguyệt ban đầu bị nhiễu loạn mà cảm thấy lo sợ và căng thẳng làm cho bản thân và bố mẹ đều không biết cần xử lí thế nào, do đó phải tìm đến bác sĩ. Vì vậy, việc tìm hiểu hiện tượng sinh lí kinh nguyệt thời kì đầu để kịp thời có sự quan tâm đầy đủ là rất quan trọng, nhằm bảo vệ sức khoẻ và sự phát triển của các em.

Vậy cụ thể nên chú ý những điểm nào?

Thứ nhất, vì tuổi còn nhỏ, chức năng trứng chưa hoàn toàn thành thục, nên kinh nguyệt ở giai đoạn đầu không ổn định, chu kì có thể sớm hoặc muộn, thậm chí một tháng có hai lần hoặc mấy tháng mới có một lần, cũng có trường hợp sau khi có mấy lần lại bị tắc một thời kì, sau đó lại trở về bình thường.

Có người lượng máu nhiều, chảy dầm dề không ngừng, kéo dài 10- 20 ngày, thậm chí suốt cả tháng không sạch. Năm đầu của thời kì kinh nguyệt thường xuất hiện những hiện tượng tương tự. Sau một năm sẽ trở lại bình thường, không nhất thiết phải chữa trị. Trừ phi số lần kinh nguyệt đặc biệt nhiều, hoặc kéo dài không sạch ảnh hưởng đến học tập, hoặc thời kì đầu kéo dài 2 - 3 năm vẫn chưa trở lại bình thường, có lúc gây ra hiện tượng thiếu máu thì nên nhờ bác sĩ phụ khoa kiểm tra. Nếu không phát hiện thấy những bệnh tật có tính khí chất thì đó là sự xuất huyết của tử cung có tính chức năng của thời kì dậy thì, nên được chữa trị.

Thứ hai, thời kì có kinh nên chú ý nghỉ ngơi, không nên tham gia những hoạt động thể dục mạnh. Trong khi có kinh nếu chỉ hơi cảm thấy không thoải mái thì có thể tham gia những hoạt động thể dục nhẹ, nếu số lượng nhiều hoặc xuất huyết kéo dài, hoặc đau kinh thì không nên sợ xấu hổ mà nên trình bày với thầy giáo chú ý chiếu cố thích đáng. Có những em gái vì xấu hổ không dám báo với thầy, vì vậy thầy giáo phải chủ động quan tâm. Vì thời gian hành kinh, khoang chậu ứ huyết, lúc đó cơ thể các em yếu, nếu hoạt động mạnh rất dễ đau lưng hoặc chướng bụng.

Thứ ba, thời kì có kinh không nên ăn thức ăn lạnh, cay, đắng có tính kích thích, không tắm rửa nước lạnh và chú ý không để cơ thể bị lạnh.

Thứ tư, phải chú ý giữ vệ sinh vì trong thời gian đó sức đề kháng yếu, cửa tử cung mở dễ bị nhiễm khuẩn, phải dùng băng vệ sinh có chất lượng và tiêu độc tốt.

Thứ năm, trong thời kì này tính tình nên thoải mái, cởi mở, không nên cáu gắt vì những việc nhỏ nhặt, như vậy sẽ có lợi cho hành kinh được thuận lợi.

Từ khoá: Thời kì đầu kinh nguyệt. Vệ sinh kinh nguyệt.

164. Di tinh có hại cho sức khoẻ không?

Nam giới đến tuổi dậy thì thường chiêm bao di tinh, tức là tinh dịch tiết ra. Đó là vì đến tuổi dậy thì, tinh hoàn không ngừng sản xuất tinh trùng, tinh nang và tiền liệt tuyến không ngừng tiết ra nước tinh dịch nhầy. Khi chúng hỗn hợp lại với nhau sẽ làm thành tinh dịch. Sau khi tích trữ đến một lượng nhất định sẽ sinh ra xung động thần kinh, tạo nên di tinh. Người xưa nói "tinh đầy tự xuất" là ý đó. Di tinh là một tiêu chí biểu hiện giới tính đã thành thục. Di tinh lần đầu là sự thể nghiệm tâm lí mới, cùng với tuổi tác tăng lên thì thanh niên đó bắt đầu cảm thấy sự hấp dẫn của người khác giới, có nhu cầu thể nghiệm. Do đó, khi chiêm bao thường di tinh, còn gọi là mộng tinh. Có những thanh niên khi di tinh thì tỏ ra rất lo lắng, họ nghĩ rằng "một giọt tinh quý bằng mười giọt máu, tinh dịch mất đi là mất đi tinh khí". Thực ra sự lo lắng đó không cần thiết. Bởi vì tinh hoàn không ngừng sản xuất tinh trùng, lâu ngày đầy lên thì sẽ bài tiết ra ngoài. Di tinh là một phương thức chủ yếu để thực hiện sự bài tiết đó. Đương nhiên, số lần di tinh của mỗi người khác nhau, có người mỗi tháng một vài lần, có người vài tháng một lần, đó là bình thường.

Nếu từ thành phần tinh dịch mà xét, trong đó dịch tinh nang chiếm khoảng 60%, dịch tiền liệt tuyến chiếm khoảng 30%, tinh trùng khoảng 5%. Trong tinh dịch ngoài tinh trùng ra, thành phần chủ yếu là nước. Một số ít còn lại là đường gluco, protêin, mỡ, các loại men và các muối vô cơ khác. Những chất dinh dưỡng ít ỏi này đối với cơ thể mà nói thực tế là không đáng kể. Vì vậy có thể thấy, di tinh sẽ không làm tổn hại đến sức khoẻ.

Nếu số lần di tinh quá nhiều, thậm chí 1 - 2 ngày một lần, hoặc cứ hễ bị kích thích, hoặc vừa nghĩ đến là có, sau di tinh người mệt mỏi, uể oải, chóng đầu, đau lưng thì nên đến bác sĩ khám để điều trị.

Di tinh xuất hiện liên tiếp, trước hết phải chú ý xem có phải là bệnh thuộc về cơ quan sinh dục không, ví dụ dương vật bị viêm, tiền liệt tuyến bị viêm, vì chỗ viêm bị kích thích sẽ khiến cho thần kinh trung khu ở trạng thái hưng phấn mà gây ra. Ngoài ra, da bao đầu dương vật cũng là một nhân tố kích thích di tinh. Trong trường hợp này nên tích cực điều trị và thường xuyên tắm rửa, chú ý vệ sinh cá nhân.

Ngoài ra, thanh, thiếu niên nên tham gia các hoạt động tập thể, tham gia các hoạt động văn thể có ích, không nên xem sách vàng hoặc phim ảnh vàng, khi ngủ tốt nhất mặc quần áo rộng, chăn đắp không nên nặng quá, như vậy sẽ giảm được số lần di tinh.

Từ khoá: Di tinh; Tinh dịch; Tinh hoàn.

165. Vì sao thủ dâm có hại cho sức khoẻ?

Thủ dâm là chỉ những hành vi dùng tay, hoặc bằng phương thức tương tự để kích thích, nhằm tự thoả mãn nhu cầu sinh lí. Ban đầu có thể là ngẫu nhiên, trẻ em thường vì tò mò hoặc mặc quần áo lót chật, hoặc cưỡi xe, trèo cây, vv.. do ma sát, khiến cho dương vật bị kích thích, cơ bắp được xoa bóp hoặc vuốt ve sinh ra khoái cảm. Sau tuổi dậy thì, sự phát triển sinh lí của giới tính bước vào giai đoạn mới, sự phát triển của cơ quan giới tính dần dần thành thục, hoocmôn tiết ra nhiều, bắt đầu hình thành ý thức giới tính, do đó sinh ra sự xung động giới tính. Khi bị kích thích rất dễ phát sinh những hành vi thủ dâm vô ý thức.

Hoạt động giới tính có quan hệ mật thiết với sự phát triển lành mạnh của tâm, sinh lí và sự hình thành phẩm chất đạo đức. Thủ dâm với tư cách là một bộ phận hoạt động của giới tính thường thấy trong thanh, thiếu niên. Đa số thanh niên ban đầu là do tò mò, ngẫu nhiên, dần dần thành thói quen nên rất có hại cho sức khoẻ. Nếu thủ dâm thành thói quen và không tự khống chế được thì sẽ rất có hại cho sức khoẻ.

Thanh, thiếu niên đang ở thời kì học tập, ở giai đoạn nâng cao kiến thức và thể chất, sự phát triển sinh lí chưa hoàn toàn thành thục, trạng thái tâm lí cũng chưa ổn định. Người có thói quen thủ dâm thì khi thủ dâm, một mặt cảm thấy tự thoả mãn, mặt khác lại vừa tự trách mình, tự ti và lo sợ. Thủ dâm nhiều sẽ khiến cho bản thân thường ở trạng thái tâm lí căng thẳng, nội tâm mâu thuẫn, gây ảnh hưởng đến sự hình thành lành mạnh về đạo đức và sự phát triển bình thường của tính cách, phẩm chất.

Ở người lún sâu vào thủ dâm đại não luôn lặp đi lặp lại trạng thái hưng phấn, do đó sẽ làm nhiễu sự hoạt động bình thường của hệ thống thần kinh. Khi lên lớp hoặc làm việc, sức chú ý của họ không tập trung, sức hiểu sa sút, trí nhớ giảm thấp. Quá trình hưng phấn và ức chế của đại não mất điều hoà sẽ xuất hiện chóng mặt, ù tai, tim đập nhanh, mất ngủ và suy nhược thần kinh, thậm chí sẽ xuất hiện sự nhiễu loạn chức năng tạm thời hoặc tính tình cáu gắt.

Có một số ít người thủ dâm quá độ sẽ cảm thấy bụng dưới đau âm ỉ, lưng mỏi, chùn gối, đi tiểu nhiều lần và có chứng di tinh. Chúng thường có quan hệ với các bệnh của hệ thống tiết niệu. Thủ dâm quá mức không những xoang chậu bị ứ huyết lâu dài, còn đưa những vi khuẩn bệnh từ trên tay nhiễm vào cơ quan sinh dục, dẫn đến cảm nhiễm đường tiết niệu, hoặc tinh nang bị viêm.

Thủ dâm là sự bắt đầu giới tính có ý thức. Nó làm cho tâm lí bị giày vò và nảy sinh các phản ứng bệnh lí khác nữa. Thanh niên không nên xem sách vở và phim ảnh không lành mạnh, tích cực tham gia hoạt động tập thể, bồi dưỡng những thú vui và sở thích có ý nghĩa, nuôi dưỡng thói quen vệ sinh, vv.. Những điều này đều là phương pháp tốt để khắc phục thủ dâm.

Từ khoá: Thủ dâm.

166. Vì sao bị cúm sẽ sổ mũi, tịt mũi và sốt cao?

Trong những bệnh mà con người hay gặp nhất, có lẽ là cúm. Thậm chí có thể nói, hầu như mỗi người, nhiều ít đều đã bị cúm giày vò.

Tuy cảm cúm không phải là loại bệnh hiểm nghèo, nhưng sau khi bị cúm thì sẽ tịt mũi, khó thở, tiếng nói bị rè, cơ thể rất khó chịu. Trong thời kì bị cúm, nước mũi chảy ra không ngừng, và vì phải thường xuyên dùng giấy hoặc khăn lau mũi nên gây ra nhiều phiền phức trong sinh hoạt. Nếu bạn bị cúm nặng thì còn bị sốt, cơ thể cảm thấy mệt mỏi.

Vì sao khi bị cúm lại xuất hiện những hiện tượng điển hình này? Như ta đã biết, nguyên nhân chính gây ra cúm là virút bệnh. Khi virút bệnh xâm nhập vào cơ thể, để đề kháng những vi khuẩn mà mắt thường không nhìn thấy được, cơ thể sẽ tự động dùng đủ các biện pháp chống lại, do đó xuất hiện tịt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, phát sốt, vv.. Trên thực tế, những hiện tượng này là phản ứng bản năng tự bảo vệ của cơ thể.

Các nhà y học đã giải thích về các chứng này như sau: họ nói mũi tịt có thể ngăn ngừa virut xâm nhập, nước mũi chảy ra liên tục và hắt hơi là để đẩy ra những virut bệnh đã xâm nhập vào; thân thể phát sốt có thể kích thích bạch cầu, thúc đẩy kháng thể hình thành, bạch cầu bao vây, tiêu diệt vi khuẩn, hơn nữa đại bộ phận virut bệnh cúm là sợ nhiệt, thân thể phát nhiệt gây trở ngại cho virut bệnh phát triển.

Từ khoá: Cúm; Virut bệnh cúm.

167. Vì sao điện thoại công cộng dễ truyền bệnh?

Trong cuộc sống hiện đại, điện thoại đã trở thành công cụ giao dịch thông tin rất phổ cập. Từ điện thoại gia đình, văn phòng cơ quan đến điện thoại công cộng ngoài đường phố, vv.. có thể nói, hầu như hằng ngày chúng ta đều tiếp xúc với điện thoại. Chính vì thế, cho nên các bác sĩ khuyên chúng ta phải chú ý vệ sinh máy điện thoại để đề phòng chúng truyền bệnh từ người này sang người khác.

Vì sao máy điện thoại lại có thể truyền bệnh được? Nguyên là một máy điện thoại, nhất là máy điện thoại công cộng, hằng ngày có nhiều người sử dụng, trong số đó có người khoẻ, có người mang vi khuẩn, có người là bệnh nhân. Khi họ gọi, vi khuẩn bệnh trong miệng thông qua nói chuyện bắn theo nước bọt vào ống điện thoại. ở đó khuẩn bệnh nhờ tối và ẩm mà sinh sôi nảy nở. Khi người khác sử dụng, nếu miệng đặt gần ống nói sẽ có khả năng hấp thu khuẩn bệnh vào miệng. Các nhà y học đã kiểm tra kháng nguyên bề mặt bệnh viêm gan B trên điện thoại công cộng và phát hiện thấy tỉ lệ dương tính của điện thoại cao đến 4%, điều đó chứng tỏ tình trạng ống nói của điện thoại ô nhiễm virut bệnh viêm gan B là không thể xem thường. Qua kiểm tra còn phát hiện thấy ngoài độc tố bệnh viêm gan B, số lượng vi khuẩn và độc tố bệnh nằm trong ống nói điện thoại nhiều hơn 480 loại. Nói chung điện thoại có tần suất sử dụng càng cao thì khuẩn bệnh càng nhiều. Do đó có thể thấy máy điện thoại đã trở thành môi giới quan trọng trong truyền bệnh.

Để đề phòng máy điện thoại truyền bệnh, bình thường nên tẩy độc cho máy, khi gọi điện thoại phải chú ý để miệng cách xa ống nói, không nên áp ống nghe điện thoại sát mặt, không nên nói to để đề phòng nước bọt bắn vào máy. Ngoài ra, những người có bệnh đường hô hấp và bệnh truyền nhiễm đường tiêu hoá tốt nhất không nên trực tiếp gọi điện thoại công cộng, còn người khoẻ sau khi gọi điện thoại, nên rửa tay sạch sẽ rồi mới đụng vào thức ăn. Đương nhiên, khi có điều kiện, có thể sử dụng màng tiêu độc cho điện thoại, như vậy có thể loại trừ được mùi hôi và diệt khuẩn có hiệu quả.

Từ khoá: Máy điện thoại; Truyền nhiễm.

168. Vì sao thân thể nổi mề đay?

Có người sau khi ăn đồ biển, bỗng nhiên cảm thấy toàn thân phát ngứa, nổi các nốt đỏ màu hồng hoặc màu trắng sáng, đó là mề đay. Thông thường mề đay có nốt to, nốt nhỏ. Nốt to có thể to hơn cả bàn tay, nốt nhỏ thường bằng hạt gạo. Thời gian nổi mề đay thường không quá 24 giờ, nhưng nếu quá 24 giờ mề đay tiếp tục nổi thì bệnh tình có thể kéo dài hơn.

Mề đay hình thành như thế nào? Các nhà y học giải thích rằng, người hay bị nổi mề đay là những người có cơ thể rất nhạy cảm. Khi một số chất đặc biệt nào đó được đưa vào cơ thể thì trong cơ thể sinh ra một chất để kháng cự lại. Trong quá trình đề kháng, một số tổ chức, tế bào nào đó trong cơ thể xẩy ra biến đổi, nhả ra một số chất đặc biệt, khiến cho mạch máu giãn ra, huyết thanh thẩm thấu vào trong tổ chức da. Trong da, hàm lượng huyết thanh tăng lên, làm cho da phình lên, vì vậy mà xuất hiện mề đay. Khi huyết thanh trong da được hấp thu hết thì mề đay cũng biến mất.

Bình thường ta ăn một số thức ăn biển thì không nổi mề đay. Nếu mệt mỏi quá mức hoặc uống rượu quá nhiều, đồng thời ăn thịt hoặc ăn cá nhiều, lúc đó đường ruột và dạ dày sẽ không tiêu hoá hết hoàn toàn các chất protêin, cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh mề đay.

Khi cơ thể có bệnh mãn tính, như viêm ruột thừa mãn tính, sâu răng, trong đường ruột có kí sinh trùng hoặc cảm nhiễm vi khuẩn đều có thể là nguyên nhân gây ra mề đay. Cá biệt có người vì lạnh hoặc vì quá nóng bức cũng nổi mề đay.

Có người khi uống thuốc hoặc sau khi tiêm cũng nổi mề đay, do dị ứng thuốc gây nên.

Khi phát sinh mề đay nên tìm rõ nguyên nhân, và cần dùng biện pháp chống dị ứng để chữa trị.

Từ khoá: Mề đay; Huyết thanh.

169. Vì sao có trẻ em mùa hè dễ sinh rôm, mụn, nhọt?

Rôm và mụn nhọt đều là những tụ cầu khuẩn xâm nhập vào da gây nên bệnh ngoài da, mùa hè, trẻ em rất dễ phát sinh bệnh này.

Da giống như cái áo ngoài tự nhiên để bảo vệ cơ thể. Trên mặt da tồn tại đủ các loại vi khuẩn, trong đó kể cả tụ cầu khuẩn gây nên rôm hoặc mụn nhọt. Một khi da bị phá hoại (thậm chí sự phá hoại này mắt thường không nhìn thấy được) thì cầu khuẩn sẽ thừa cơ xâm nhập vào tác oai, tác quái. Trước đây có người từng kiểm tra tình trạng vi khuẩn trên da, họ lấy số vi khuẩn ở trong bồn tắm của một người thải ra sau khi tắm để thống kê, phát hiện ra rằng người tương đối sạch có hơn 8,5 triệu con vi khuẩn, còn người tương đối bẩn thì có hơn 1,21 tỉ con, hầu như vượt quá 140 lần so với người sạch. Vì thế thế mà cơ thể thường phát sinh mẩn ngứa.

Mùa hè, khi bạn ra mồ hôi nhiều và không được kịp thời lau sạch thì mồ hôi sẽ phân giải ra những chất trở thành môi trường màu mỡ cho vi khuẩn phát triển. Ngoài ra, bề mặt da vốn tiết ra nhiều chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, nếu các chất mồ hôi này được rửa sạch thì những chất sát khuẩn sẽ mất đi tác dụng. Trên mặt da toàn thân có khoảng hơn 2 triệu tuyến mồ hôi, đối với loại cầu khuẩn thì 2 triệu tuyến mồ hôi giống như 2 triệu cánh cửa mở ra, để vi khuẩn có thể xâm nhập bất cứ khi nào để gây nên rôm hoặc mụn nhọt.

Da của trẻ em đặc biệt non mềm và hồng nhuận, do da trẻ em khá mỏng, các mạch máu dưới da phong phú, chất sừng bảo vệ trên mặt da cũng rất mỏng, cho nên càng dễ bị gây xước, dễ cảm nhiễm vi khuẩn.

Ngoài ra, vì trẻ em không biết nói rõ cảm giác nóng lạnh cho chính xác, quần áo trẻ em mặc là căn cứ vào cảm giác của bố mẹ nên có lúc mặc nhiều quá gây ra mồ hôi, đó là cơ hội làm tăng thêm rôm sảy.

Hơn nữa, da của trẻ em tương đối nhạy cảm, những vết thương nhỏ trên da cũng sẽ phát sinh phản ứng rất rõ. Khi phát sinh những nốt mẩn trên người dễ chuyển thành mụn nhọt.

Trẻ em ra mồ hôi không biết tự lau sạch càng dễ ngứa ngáy và sinh mụn nhọt. Do đó, về mùa hè bố mẹ phải đặc biệt chú ý tắm sạch cho con và phải chú ý ăn mặc phù hợp với thời tiết, chỉ có như thế mới có thể ngăn ngừa tốt để trẻ em không bị rôm sảy và mụn nhọt.

Từ khoá: Rôm; Nhọt; Tụ cầu khuẩn.

170. Ho gà có phải là ho mãi "trăm ngày" không?

Ho gà là do loài khuẩn đũa ho gà gây nên. Đó là loại bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính, trẻ em từ 1 - 6 tuổi rất dễ mắc. Trẻ em mắc bệnh lúc đầu chỉ ho từng tiếng, sau đó chuyển thành ho từng trận liên tục kéo dài mười mấy tiếng đến mấy chục tiếng, thường ho đến mức mặt đỏ tía tai, nước mắt nước mũi dầm dề, cong lưng thót bụng, đến mức không thở được. Trẻ bị ho gà một ngày ho ít thì mười mấy lần, nhiều thì 30 - 40 lần. Vì vậy bố mẹ rất lo lắng và thường hỏi ho gà có phải sẽ kéo dài mãi không?

Ngày nay người ta đã biết được bệnh ho gà là do các nhánh hoặc màng khí quản bị viêm, làm ảnh hưởng đến sự vận động của các lông tơ mà gây ra, khiến cho các chất nội tiết xung quanh niêm mạc khó bài tiết, vì vậy gây nên từng trận ho co thắt. Bệnh ho gà tương đối kéo dài, có lúc đến "trăm ngày". Nhưng thực ra không phải mọi bệnh nhân đều ho lâu đến thế. Bệnh nặng hay nhẹ, lâu hay mau có liên quan đến sức đề kháng của cơ thể người bệnh và sự chữa trị có tích cực và kịp thời không? Thông thường bệnh phát trong vòng vài ba tuần, dùng thuốc kháng sinh là đạt hiệu quả tốt.

Từ khoá: Ho gà; Khí quản nhánh.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.