181. Vì sao mật có sỏi?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
189. Thế Nào Là Trạng Thái Thứ Ba Của Cơ Thể? - 190. "Sống Thực Vật" Là Thế Nào?

❊ ❊ ❊

Ở bên phải bụng trên của cơ thể có một hệ thống đường mật gồm túi mật và ống mật, trong đó có dịch mật, đầu nguồn của nó là gan, mỗi ngày sản sinh ra từ 50 - 100 ml dịch mật, qua hệ thống đường mật chảy vào đường ruột để giúp tiêu hoá thức ăn. Vậy thì tại sao trong mật lại có sỏi?

Nói chung người ta cho rằng, sự hình thành sỏi mật có ba điều kiện: thứ nhất do tính chất dịch mật thay đổi, thành phần cholesteron hoặc sắc tố mật trong dịch mật tăng lên hình thành sỏi cholesteron - sỏi sắc tố mật, hoặc cả hai thành phần đều là những chất liệu hình thành sỏi một cách hỗn hợp. Thứ hai là, trong hệ thống đường mật bị viêm hoặc có giun đũa làm tắc, khiến cho dịch mật không lưu thông, tích lại, rất dễ được phân li ra và trầm tích lại. Thứ ba là, những hạt của cholesterol hoặc sắc tố mật, vi khuẩn, trứng hoặc xác của giun đũa tích lại làm thành nhân hạt sỏi, từ đó cholesteron hoặc sắc tố mật dần dần bám vào và dần dần hình thành sỏi.

Sỏi mật là bệnh thường gặp. Khi ăn thức ăn nhiều mỡ hoặc lượng vận động giảm đi, cơ thể sẽ béo, trực tiếp ảnh hưởng đến thành phần dịch mật, khiến cho hàm lượng cholesteron, sắc tố mật trong dịch mật tăng lên. Ngoài ra, hệ thống đường mật có rất nhiều cơ hội để viêm, đặc biệt là ở nông thôn tỉ lệ người có bệnh giun đũa rất cao, rất dễ mắc bệnh giun chui ống mật, điều đó làm cho dịch mật tích lại để hình thành sỏi. Một khi sỏi mật đã hình thành,thời gian lâu nó sẽ càng ngày càng to.

Để ngăn ngừa bệnh sỏi mật, ta nên khống chế chế độ ăn uống. Tránh ăn thức ăn nhiều mỡ, như vậy sẽ giảm bớt chất mỡ trong cơ thể, không làm cho sự hấp thu và đào thải mỡ rối loạn, đồng thời giảm bớt lượng cholesteron và sắc tố mật. Ngoài ra, ăn rau tươi và hoa quả để tăng thêm vitamin cũng là một biện pháp có hiệu quả để ngăn ngừa sỏi mật.

Tích cực vận động, tăng thêm chức năng của các nội tạng không những đề phòng được sỏi mật mà còn giảm béo, tăng thêm sức đề kháng cho cơ thể để tránh viêm hệ thống đường mật. Kịp thời chữa bệnh giun đũa hoặc bệnh viêm đường mật cũng là những biện pháp quan trọng để đề phòng sỏi mật.

Từ khoá: Sỏi mật; Kết sỏi. Cholesteron; Sắc tố mật.

182. Trẻ em hiếu động có phải là chứng hành động lung tung không?

Có những trẻ em rất hiếu động, từ sáng đến tối ngoài ngủ ra là hoạt động không ngừng. Do đó nhiều bậc bố mẹ cảm thấy lo lắng, cho rằng con mình mắc háu động. Thực ra trẻ em hiếu động là bẩm tính. Hiếu động không phải là chứng háu động. Hai trường hợp cần được phân biệt rõ ra để tránh ảnh hưởng đến sự lành mạnh của con cái.

Y học cho rằng trẻ háu động, sức chú ý bị phân tán, kèm đồng thời tính cách và hành vi luôn thay đổi. Theo kết quả điều tra học sinh mấy trường tiểu học ở Thượng Hải, tỉ lệ phát sinh chứng háu động ở trẻ em chiếm khoảng 5 - 13% so với số trẻ em cùng lứa tuổi. Nguyên nhân chứng bệnh này có thể do di truyền, não bị chấn thương, hoặc môi trường gây nên. Những biểu hiện chủ yếu của chứng này gồm có: không tập trung được sự chú ý, động tác lặt vặt nhiều, có một số lại ít hoạt động, thường ngồi yên một chỗ trong lớp, nhưng ý nghĩ lại "mông lung không cố định". Loại trẻ em này hành động nhiều, nội dung hoạt động không rõ rệt, trong phòng học có thể tự ngồi gọt bút chì, cắn móng tay, nghịch sách vở làm ảnh hưởng đến các bạn xung quanh, thậm chí bất giác đánh nhau. Sau giờ học về nhà không đúng giờ, lang thang trên đường, phần nhiều học tập khó khăn, thậm chí lưu ban. Để bố mẹ dễ phân biệt trẻ em có mắc chứng háu động hay không, các bác sĩ đã đưa ra mấy tiêu chuẩn sau để phán đoán.

1. Sức chú ý không tập trung, khi có 3 trong 5 biểu hiện sau: 1) Làm việc qua loa, không hoàn thành công việc theo từng bước. 2) Khi lên lớp không chú ý nghe giảng. 3) Sức chú ý dễ phân tán. 4) Không thể tập trung chú ý một thời gian dài để làm xong bài hoặc những việc khác. 5) Khi tham gia trò chơi cũng khó làm đầy đủ từ đầu đến cuối.

2. Dễ bị xung động, khi có 3 trong 5 biểu hiện sau: 1) Làm việc thiếu suy nghĩ. 2) Nhiều lần bỏ dở việc này để chạy theo việc khác. 3) Không thể làm việc một cách có thứ tự (không phải do năng lực nhận thức gây nên). 4) Thường gọi to vô cớ trong lớp học. 5) Khi chơi tập thể không chờ được đến phiên mình.

3. Hoạt động quá mức khi có 2 mục trong 5 biểu hiện sau: 1) Hay chạy nhảy hoặc leo trèo. 2) Ngồi không yên hoặc đứng ngồi không ổn định. 3) Không thể ngồi yên ở chỗ của mình, luôn nhấp nha nhấp nhổm. 4) Khi ngủ thường hay trở mình. 5) Hoạt động suốt từ sáng đến tối, không hề nghỉ ngơi.

4. Bị một bệnh nào đó trước 7 tuổi, bệnh kéo dài trên 6 tháng.

5. Có biểu hiện phát triển trí tuệ rất chậm chạp, loại trừ tất cả những nguyên nhân khác, do giáo dục gia đình không thích đáng, hoặc có những hành vi giáo dục không thích hợp, vv..

Một khi đã chẩn đoán chính xác trẻ em có chứng ham nghịch ngợm thì nên cải thiện môi trường, thay đổi phương pháp giáo dục kết hợp với uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ để chữa trị một cách tổng hợp. Chỉ cần trẻ em, bố mẹ, thầy giáo và bác sĩ tích cực phối hợp với nhau thì hiệu quả chữa trị nói chung là tốt, thậm chí có thể chữa khỏi hoàn toàn.

Từ khoá: Chứng ham nghịch ngợm.

183. Vì sao có người "ngã nước"?

Trong cuộc sống thường ngày ta thường gặp trường hợp: người chuyển đến một vùng mới, môi trường địa lí đột nhiên thay đổi mà cảm thấy do thổ ngơi không hợp mà sinh ra mất ngủ, choáng đầu, uể oải, thậm chí người gầy đi, ỉa chảy, ngứa, vv.. Những hiện tượng này không phải do bệnh tật gây nên mà là do đột nhiên thay đổi môi trường sống dân gian thường gọi là "ngã nước".

Vì sao một người đang bình thường lại "ngã nước"? Nguyên nhân chủ yếu là cơ thể có phản ứng không thích nghi được với khí hậu, địa hình, nước uống, thức ăn và các điều kiện phong tục tập quán ở chỗ mới, đặc biệt là hệ thần kinh trung khu vừa là bộ tư lệnh tối cao của cơ thể, vừa có vai trò chỉ huy và điều hoà mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Khi thay đổi môi trường sống, mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường bị nhiễu loạn, từ đó làm đảo lộn mối quan hệ cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hoạt động thần kinh, dẫn đến xuất hiện một loạt các chứng "ngã nước".

Nhưng con người có bản năng thích ứng với môi trường và chiến thắng tự nhiên. Sau khi xuất hiện hiện tượng "ngã nước" thì chức năng sinh lí của cơ thể sẽ tiến hành một loạt điều chỉnh khiến cho nó dần dần thích nghi với môi trường mới.

Đặc biệt là thanh, thiếu niên, sự thay đổi về sinh lí để thích nghi với môi trường rất mạnh, họ luôn luôn dễ khắc phục hiện tượng "ngã nước" so với người lớn tuổi.

Từ khoá: Ngã nước.

184. Vì sao xuất hiện "phản ứng chênh lệch giờ"?

Những người đi xa để tham gia thi đấu, biểu diễn hoặc du lịch, thường đi máy bay đường dài, cơ thể hay xảy ra một vấn đề khiến người ta đau đầu, đó là "phản ứng chênh lệch giờ". Sau khi đến chỗ mới, thường ban ngày họ cảm thấy mệt mỏi, lơ mơ buồn ngủ, ăn không ngon, buổi tối lại hưng phấn khác thường, khó ngủ.

Chênh lệch giờ là do phản ứng của cơ thể không quen với sự chênh lệch của thời gian mà gây ra. Mọi người đều biết: Trái Đất tự quay từ tây sang đông, cứ 24 giờ quay được 360 độ, tức một giờ quay được 15 kinh độ. Múi giờ ở các kinh độ khác nhau có khác nhau. Người ta quy định cách 15 kinh độ là một múi giờ. Toàn cầu được chia thành 24 múi giờ theo kinh độ. Cùng một múi giờ thì dùng giờ như nhau, giữa hai múi giờ chênh nhau một giờ, phía đông sớm, phía tây muộn. ánh sáng Mặt Trời di chuyển trên mặt đất 15o thì chuyển qua múi giờ khác. Giờ ánh sáng Mặt Trời đến sớm hay muộn quy định sự biến đổi giờ tiêu chuẩn ở chỗ đó. Máy bay bay từ đông sang tây, phù hợp với sự chuyển dời của ánh sáng Mặt Trời, cho nên thời gian "co ngắn" lại. Ví dụ 9 giờ sáng ngày 1 tháng 6 ở Thượng Hải bay đi Wasington phải qua 12 giờ, vượt qua 13 múi giờ, vì vậy thời gian đến là 8 giờ sáng ngày 1 tháng 6 ở nơi đó, là 9 giờ tối của Bắc Kinh. Ngược lại máy bay bay về phía tây thì thời gian sẽ "dài ra".

Giống như quy luật chuyển động hàng ngày của Trái Đất, cơ thể cũng có quy luật hoạt động 24 giờ trong một ngày của nó. Người ta có thói quen ban ngày làm việc, ban đêm nghỉ ngơi. Nhiệt độ bình thường của người buổi sáng thấp nhất, buổi chiều gần chập tối cao nhất. Nhịp tim, nhịp thở ban ngày nhanh, ban đêm chậm. Số lượng hồng cầu và bạch cầu trong máu buổi sáng thấp nhất, buổi tối tăng nhiều. Các chất hoocmôn hằng ngày cũng có tăng giảm. Ví dụ hoocmôn của vỏ thượng thận ban đêm ít, ban ngày nhiều, hoocmôn sinh trưởng ban ngày ít, ban đêm nhiều. Những điều này đều thể hiện quy luật biến đổi chu kì ngày đêm của sinh lí của cơ thể liên quan mật thiết với sự biến đổi của thời gian chiếu sáng của Mặt Trời, nhiệt độ, áp suất không khí, độ ẩm của môi trường trong thời gian lâu dài.

Khi máy bay bay về phía đông hoặc phía tây trong một thời gian ngắn xuyên qua nhiều múi giờ, do múi giờ thay đổi nên thời gian ngày đêm cũng thay đổi. Cơ thể con người với việc ngủ, thức, nhiệt độ, huyết áp, tiết ra các chất kích thích tố, vv.. theo nhịp điệu sinh lí bình thường sẽ bị đảo lộn, thậm chí đảo ngược. Từ Bắc Kinh đi Washington là 9 giờ tối (giờ Bắc Kinh), tức là lúc chuẩn bị nghỉ ngơi thì đó là 8 giờ sáng ở Washington, do đó 8 giờ sáng người ta vẫn lơ mơ buồn ngủ, mệt mỏi, sức chú ý và hiệu quả làm việc rất thấp. Nhưng qua mấy ngày hoặc mấy tuần sau, nhịp điệu tâm lí và sinh lí của cơ thể tự động điều tiết thay đổi thích nghi với môi trường, sự phản ứng về chênh lệch giờ sẽ mất dần đi.

Từ khoá: Phản ứng chênh lệch giờ.

185. Vì sao ngày nắng to có người say nắng?

Mùa hè dưới ánh nắng chói chang, khi bạn không được che mát, đi bộ, vận động hoặc làm việc một thời gian dài ngoài trời rất dễ đột nhiên bị ngã lăn ra, gọi là say nắng.

Vì sao lại say nắng? Vì cơ thể con người từng giờ, từng phút đều sinh ra nhiệt, khi vận động, nhiệt sinh ra càng nhiều. Trong cơ thể người không thể tích luỹ được nhiều nhiệt như thế mà luôn luôn nhiệt phải được phát tán ra. Vì hoạt động tán nhiệt chủ yếu do trung khu thần kinh điều tiết, nếu bộ phận này gặp trắc trở thì nhiệt độ trong cơ thể không xuất ra được, tích luỹ ngày càng nhiều dẫn đến say nắng.

Say nắng có thể chia thành mấy loại sau: khi lao động trong môi trường nắng và oi bức (độ ẩm lớn), nhiệt trong cơ thể khó khuếch tán ra nên tích luỹ ngày càng nhiều. Do đó thân nhiệt tăng cao, từ 370C có thể lên cao hơn 400C. Lúc đó trung khu điều tiết của thân nhiệt nhiễu loạn, mất điều hoà không thể chỉ huy bình thường, thậm chí ngừng ra mồ hôi, đóng kín con đường khuếch tán nhiệt chủ yếu của cơ thể, kết quả khiến cho da trở nên khô và nóng. Lúc đó, con người sẽ cảm thấy đau đầu, buồn nôn, thậm chí hôn mê, có lúc còn nói sảng. Loại say nắng này gọi là "chứng quá nhiệt". Khi làm việc ngoài đồng, đầu không đội nón, ánh sáng Mặt Trời chiếu thẳng xuống đầu, nhiệt độ phần đầu tăng lên mấy độ cũng khiến cho ta cảm thấy đau đầu, phiền não, thậm chí hôn mê, nói sảng. Loại say nắng này gọi là "chứng Mặt Trời chiếu".

Trong môi trường nóng gắt, da và các mạch máu ở cơ bắp giãn ra. Nếu giãn quá mức thì một lượng lớn máu sẽ phân bố trên da và trong cơ bắp, máu trở về tim ít, huyết áp giảm xuống, mạch đập yếu, thở nông, toàn thân ra mồ hôi lạnh, người cảm thấy hồi hộp, uể oải, thậm chí không tỉnh táo. Loại này gọi là "nhiệt suy kiệt".

Còn có một loại say nắng do làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, mồ hôi quá nhiều mà gây nên. Làm việc trời nóng ra mồ hôi nhiều, muối trong mồ hôi bị mất nhiều nên cơ thể thiếu muối. Nếu thiếu muối quá mức sẽ gây ra cơ bắp bị rút gân, đặc biệt là cơ bắp chân dễ bị chuột rút, có lúc cơ bụng, cơ tay và cơ thân đều bị đau rất khó chịu. Vì vậy, chứng bệnh này gọi là "nhiệt co rút".

Có người sẽ hỏi trời nắng không riêng cho ai, vậy vì sao có người say nắng, có người không? Một trong những nguyên nhân say nắng rất quan trọng là: có liên quan đến thể lực khoẻ hay yếu của từng người. Người béo, người yếu, đặc biệt là người có bệnh tim dễ bị say nắng; thiếu ngủ, dạ dày không tốt, ăn uống không bình thường cũng dễ bị say nắng. Cho nên làm việc trong những ngày nóng bức nên nghỉ ngơi thích đáng, người cơ thể yếu càng phải chú ý đề phòng say nắng.

Khi phát hiện có người say nắng thì không được hoang mang. Trước hết phải đưa họ vào chỗ râm mát hoặc chỗ thoáng gió, mở quần áo để tản nhiệt được tốt, đồng thời nhanh chóng đưa tới bệnh viện gần nhất để cấp cứu.

Từ khoá: Say nắng.

186. Sốt cao có phải là xấu không?

Nhiệt độ cơ thể căn bản là cố định, thường ở mức 370C. Một khi nhiệt độ cơ thể vượt quá phạm vi bình thường thì gọi là "sốt". Trước kia nhiều người cho rằng sốt là không tốt. Vì khi lên cơn sốt, người cảm thấy khó chịu, còn thường kèm theo tim đập nhanh, thở dốc, ăn ít và đau đầu.

Những năm gần đây các nhà y học cho rằng lên cơn sốt không phải là không tốt. Trước hết cơn sốt là tín hiệu của bệnh, có lợi cho bác sĩ chẩn đoán. Ngày nay có một số người cứ hễ lên cơn sốt, chưa làm rõ nguyên nhân đã dùng thuốc hạ sốt, như vậy tuy chứng bệnh tạm thời được thuyên giảm, nhưng luôn che lấp bộ mặt thật của bệnh, kết quả gây khó khăn cho việc điều trị.

Ngoài ra, cơn sốt là phản ứng phòng vệ có tính sinh lí để cơ thể chống lại vi khuẩn xâm nhập, nó còn có tác dụng bảo vệ cơ thể. Khi nhiệt độ cơ thể tăng cao thì năng lực hoạt động của các loại men trong cơ thể tăng lên, sự hấp thu, đào thải trở nên mạnh mẽ, chức năng giải độc của gan mạnh lên rất nhiều. Đồng thời bạch cầu - phòng tuyến bảo vệ tự nhiên trong máu cũng sẽ tăng lên rất nhiều. Chúng sẽ bao vây từng đám vi khuẩn bệnh, khiến cho vi khuẩn bị tiêu diệt. Lúc đó nhiệt độ cơ thể sẽ dần dần trở về bình thường, sức khoẻ cũng được khôi phục.

Cơn sốt còn làm cho hệ thống miễn dịch trong cơ thể trỗi dậy, khiến cho cơ thể sinh ra sức đề kháng đối với bệnh tật. Có lúc người ta phát hiện thấy đối với bệnh nhân ung thư sau khi nhiễm vi khuẩn bệnh, chờ đến lúc loại bệnh đó khỏi hoàn toàn thì khối u cũ được làm chậm lại ở một mức độ nhất định. Đó là kết quả cơn sốt đã kích thích hệ thống miễn dịch đưa lại.

Đương nhiên, sốt cao quá và sốt kéo dài sẽ không có lợi cho cơ thể. Bởi vì như thế sẽ làm nhiễu loạn các chức năng sinh lí trong cơ thể, do đó phải xử lí hạ sốt.

Từ khoá: Cơn sốt; Hệ thống miễn dịch.

187. 37°C có phải là thân nhiệt bình thường của con người không?

Nói đến thân nhiệt bình thường, hầu như ai cũng biết đó là 370C. Nhưng câu trả lời đó chưa toàn diện. Trên thực tế, thân nhiệt bình thường của con người không phải là tuyệt đối mà dao động trong khoảng 35 - 370C. Vì sao lại thế? Đó là vì có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thân nhiệt của con người. Ví dụ một ngày 24 giờ thân nhiệt sẽ thay đổi theo chu kì. Sáng sớm thấp nhất, sau đó tăng dần lên, đến chập tối cao nhất, sau đó lại dần dần hạ xuống. Thân nhiệt của nam nữ cũng khác nhau, thông thường nam cao hơn nữ khoảng 0,30C. Hơn nữa, sau khi vận động và ăn cơm, thân nhiệt cũng hơi tăng lên.

Ngoài ra, cũng một người, cùng một thời điểm nhiệt độ ở các bộ phận trên cơ thể có sự khác biệt. Bình thường nói tiêu chuẩn thân nhiệt là 370C, đó chỉ là nhiệt độ trong miệng, tức là để cho thuận tiện mà quy định như thế mà thôi. Nếu đo nhiệt độ ở nách thì sẽ thấp hơn một ít, đo nhiệt độ ở hậu môn sẽ cao hơn một ít.

Nếu dùng loại nhiệt kế có thể đo các bộ phận bên trong cơ thể ta sẽ thấy sự chênh lệch càng lớn hơn. Ví dụ nhiệt độ trong bụng cao hơn nhiệt độ trong ngực, nhiệt độ ở gan còn cao hơn nữa, hầu như đạt đến 390C. Nhiệt độ ở đầu và thân cao hơn tứ chi, nhiệt độ ở da đầu ngón tay chỉ khoảng 300C, đầu ngón chân chỉ khoảng 250C.

Mặc dù sự thay đổi nhiệt độ của con người rất lớn nhưng dùng 370C làm tiêu chuẩn nhiệt độ bình thường của cơ thể là rất cần thiết. Bởi vì 370C so với sự thay đổi nhiệt độ ở những thời gian và các bộ phận khác nhau không có mâu thuẫn gì, hơn nữa khi kiểm tra bệnh lại có một con số làm căn cứ nhất định, nên rất thuận tiện.

Từ khoá: Thân nhiệt.

188. Vì sao tiếng ồn có hại cho sức khoẻ?

Cùng với sự phát triển nhanh của công nghiệp và giao thông hiện đại, cũng như dân số đô thị tăng nhanh thì tiếng ồn ở thành phố mạnh lên với tốc độ ngày càng tăng, trở thành công hại lớn thứ ba của thành phố sau khí thải và ô nhiễm nước.

Đại lượng vật lí biểu thị cường độ âm thanh là dB (đềxiBen). Có một số âm thanh tự nhiên, như tiếng xào xạc của lá cây, tiếng mưa rơi rả rích, tiếng sóng biển vỗ vào bờ nói chung đều không vượt quá 40 dB. Loại âm thanh này nghe không nhức tai, đưa lại cho ta cảm giác yên bình, khiến cho tâm thái được thư giãn. Theo tiêu chuẩn quốc tế quy định: ở thành phố cấp độ âm thanh trong phòng cho phép là 42 dB, còn những dụng cụ điện gia đình thường dùng đều ở cấp độ cao hơn. Ví dụ quạt điện là 40 - 50 dB; tủ lạnh là 34 - 52 dB; máy giặt là 60 - 80 dB; máy vô tuyến là 50 - 80 dB; rađiô, máy ghi âm là 70 - 90 dB. Còn tiếng động của tàu điện, ô tô, tàu hoả, xe máy, máy in, máy tiện, nhà máy gang thép phát ra đều đạt hoặc vượt 100 dB.

Các nhà khoa học nghiên cứu phát hiện thấy, nói chung con người sống trong môi trường tiếng động vượt quá 40 dB thì ngủ bị ảnh hưởng; 50 dB đã khó ngủ, vượt quá 60 dB sẽ ảnh hưởng đến làm việc, nói chuyện và vui chơi. Khi tiếng ồn vượt quá 85 dB sẽ cảm thấy ồn ào, gây tổn thương cho tế bào thính giác, nghiêm trọng hơn có thể làm cho tai điếc, không hồi phục được. Khi tiếng ồn vượt quá 115 dB, như tiếng còi ô tô, tiếng máy đập đá, tiếng pháo nổ sau khi nghe thấy đều có thể gây điếc.

Sống lâu dài trong môi trường tiếng ồn ào từ 70 - 80 dB sẽ khiến cho các mạch máu nhỏ co lại, dẫn đến cung cấp máu không đủ, làm cho đầu các chi bị trở ngại về cung cấp dinh dưỡng, dẫn đến bệnh động mạch vành, huyết áp tăng cao và không ổn định, loạn nhịp tim và tim hồi hộp, vv.. Tiếng ồn còn có thể gây nên nhiễu loạn chức năng của thần kinh, sự hưng phấn và ức chế của vỏ não mất cân bằng. Sống trong tiếng ồn lâu dài có người sẽ bị trở ngại về tinh thần, có các triệu chứng như lo sợ, hoảng loạn, dễ giận dữ, tính tình thất thường, cảm thấy bất an, tức giận hoặc trầm cảm, nghiêm trọng hơn là hay lo lắng vô cớ, thác loạn, thậm chí dẫn đến bệnh thần kinh.

Có một ví dụ như sau: trước 2 ngày lễ Noel năm 1985, ở bang Nêvađa, Mĩ có hai thanh niên mở những bài nhạc như say, như điên. Họ mở âm lượng to nhất, tiếng ồn đã khiến cho hai thanh niên này mất bình thường, họ đập phá tất cả những thiết bị trong nhà, sau đó dùng súng bắn vào người khác, cuối cùng cả hai đều tự sát, trở thành một tin làm chấn động cả xã hội xung quanh. Tiếng ồn còn khiến cho nội tiết tố của phụ nữ mất điều hoà, làm cho kinh nguyệt bị xáo trộn, gây sảy thai hoặc đẻ non, nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng đến thai nhi và sự phát triển của các em bé, làm tổn thương chức năng thần kinh thính giác, gây trở ngại cho chức năng hệ tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, tiêu hoá không tốt, khiến cho tỉ lệ mắc bệnh loét đường ruột tăng cao.

Từ khoá: Tiếng ồn; đềxiBen.

189. Thế nào là trạng thái thứ ba của cơ thể?

Mấy năm gần đây trên các tạp chí, người ta thường đọc thấy nhà khoa học nổi tiếng nào đó qua đời, có rất nhiều người tuổi còn chưa đến 50. Điều kiện chữa trị của họ rất tốt, tình trạng sức khoẻ cũng không có gì đặc biệt, nhưng tại sao họ lại chết sớm? Điều này có liên quan với một khái niệm mới trong y học, đó là trạng thái thứ ba của cơ thể.

Sức khoẻ, tình yêu và cuộc sống lành mạnh là ba vấn đề lớn của cuộc đời, trong đó sức khoẻ nên là cái gốc. Từ xưa đến nay tiêu chuẩn phán đoán sức khoẻ thường lấy có bệnh hoặc không có bệnh làm căn cứ, do đó đối tượng nghiên cứu của y học cũng chỉ là bệnh và bệnh nhân. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của y học, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khái niệm mới về sức khoẻ rất nổi tiếng, đó là: "Sức khoẻ không những là không ốm, mà là một trạng thái tốt đẹp của cơ thể, tâm lí và sự thích ứng với xã hội".

Vậy thế nào là trạng thái thứ ba của cơ thể? Trên thực tế trạng thái thứ ba là chỉ trạng thái nằm giữa người khoẻ và người ốm, tức là vừa không khoẻ thực sự, vừa chưa thể hiện là có bệnh. Đó là một trạng thái đặc biệt. Người rơi vào trạng thái này xem ra cơ thể vẫn còn khoẻ, nhưng trạng thái tâm lí không tốt, hoặc là không thích ứng được với công việc, môi trường hay xã hội, hoặc các tổ chức trong cơ thể đã có mầm bệnh, chẳng qua chưa xuất hiện những chứng bệnh tương ứng mà thôi. Điều đáng sợ hơn là, người ở trạng thái thứ ba không hề hay biết gì về tình trạng sức khoẻ của mình. Do đó họ không hề có những biện pháp cần thiết để giữ gìn và điều chỉnh hoặc đề phòng.

Vì nhịp điệu cuộc sống hiện đại ngày càng nhanh, không ít nhà khoa học cho rằng, hiện nay trên thế giới có đến một nửa số người rơi vào trạng thái thứ ba. Do đó mỗi chúng ta nên nâng cao nhận thức đối với trạng thái thứ ba, phải coi trọng bảo vệ sức khoẻ, bình thường nên tham gia luyện tập, ăn uống đúng mức và giữ vệ sinh, định kì đi khám sức khoẻ, khiến cho mình có một tâm lí lành mạnh và một thể phách sảng khoái vui tươi.

Từ khoá: Trạng thái thứ ba.

190. "Sống thực vật" là thế nào?

Trong bệnh viện, có lúc ta bắt gặp những bệnh nhân rất đặc biệt. Tuy họ mở to mắt, lúc nhìn lên tường, lúc nhìn trần nhà, có lúc nhìn người đi lại gần mình nhưng khi người khác gọi tên, thì họ không có phản ứng gì. Khi ta đưa các vật nào đó đặt trước mặt họ, hai mắt bệnh nhân vẫn không hề chớp, miệng không hề nói, không ăn, không uống, không thể khống chế đại, tiểu tiện. Những hiện tượng này chứng tỏ chức năng đại não của bệnh nhân đã mất, hoàn toàn không còn tri giác nhưng quái lạ là bệnh nhân vẫn thở, tim vẫn đập, ho, hắt hơi và vẫn nuốt được tức là vẫn tồn tại những phản ứng bản năng bẩm sinh. Bệnh nhân phải dựa vào bơm sữa và các chất lỏng để duy trì sự sống. Những bệnh nhân như thế giống như thực vật chỉ biết hấp thu dinh dưỡng để duy trì sự sống, cho nên gọi là "sống thực vật".

Có rất nhiều nguyên nhân để trở thành người thực vật. Ví dụ não bị chấn thương nặng, ngộ độc khí ga hoặc ngạt thở, hoặc tắc động mạch vành cấp tính gây nên ngừng thở và tim ngừng đập đột ngột. Vì sau khi bệnh nhân ngừng thở và tim ngừng đập, sự cung cấp oxi của máu cho não cũng ngừng, thời gian dài tổ chức não bị tổn thương nghiêm trọng, đồng thời còn sản sinh ra các tình huống hấp thu, đào thải bị trở ngại và tế bào não ngộ độc axit, vv.. Sự tổn thương này thường bắt đầu từ vỏ đại não, dần dần mở rộng ra tuỷ sống. Cho nên khi não thiếu máu, hoặc thiếu oxi kéo dài thì làm cho tổn thương não càng nặng. Y học cho rằng, dưới nhiệt độ và áp suất bình thường, thời gian não có thể chịu đựng thiếu oxi không vượt quá 3 - 4 phút. Nói chung não thiếu oxi 15 giây thì đã tạo nên sự hôn mê mấy phút, thiếu 3 phút trở lên đã có thể sản sinh hôn mê mấy ngày, thời gian tim ngừng đập đến 5 phút thì sẽ tử vong. Cho nên có một số bệnh nhân tuy đã được ra sức cấp cứu, phục hồi được hô hấp và tim đập lại, nhưng "bộ tư lệnh" cao cấp của cơ thể - sự chỉ huy của trung khu thần kinh đã mất đi thì bệnh nhân sẽ trở thành "sống thực vật".

Từ đó có thể thấy, phàm những bệnh có thể tạo nên sự tổn hại nghiêm trọng cho não đều có thể khiến cho bệnh nhân trở thành "sống thực vật". Sau khi trở nên "sống thực vật", muốn khôi phục trở lại bình thường là vô cùng khó. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ, ví dụ, ngày 17-2-1991, báo "Tân dân buổi chiều" đưa tin ở thành phố Huyền Châu có một người “sống thực vật", sau khi hôn mê 14 tháng thì cuối cùng đã nói được. Điều đó chứng tỏ làm thế nào để cứu sống người “sống thực vật" còn là một vấn đề đáng được đi sâu để nghiên cứu.

Từ khoá: Sống thực vật.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.