Tóc mọc có liên quan với tình trạng sức khoẻ, lứa tuổi và thời tiết. Sức khoẻ tốt tóc mọc nhanh, mọc được nhiều. Một người mạnh khoẻ tóc thường dày, đen nhánh. Người sức khoẻ yếu tóc thường thưa, thậm chí bị rụng từng đám, hơn nữa tóc có màu vàng thường không bóng. Người trẻ tuổi tóc mọc nhanh, tuổi già tóc mọc chậm. Mùa hè tốc độ hấp thu và đào thải của cơ thể nhanh cho nên tóc mọc cũng nhanh hơn, sang mùa đông thì chậm lại.
Chúng ta hàng ngày khi chải tóc, trên lược thường thấy có mấy sợi tóc rụng. Những sợi tóc này dài ngắn khác nhau, nếu nhìn thấy tóc dài nhiều hơn tóc ngắn thì đó là hiện tượng bình thường, nếu tóc ngắn nhiều hơn tóc dài thì không còn bình thường nữa.
Như ta đã biết, mỗi sợi tóc có thời gian tồn tại nhất định. Thông thường từ 2-6 năm lại thay tóc một lần. Tóc dài rụng là sự thay đổi bình thường, sau khi sợi tóc đó rụng thì ngay chỗ gốc đó lại dần dần mọc lên một sợi tóc mới. Nếu rụng tóc ngắn tức là chưa đến thời gian thay tóc mà tóc đã rụng. Điều đó có thể là do đầu chân sữa của tóc bị một tác động bất lợi nào đó. Nếu có thể loại bỏ được nguyên nhân này thì tóc sẽ lại phục hồi bình thường. Bình thường tóc rụng là do chân tóc bị sừng hoá phát triển dần xuống đến đầu chân sữa của tóc, khi đầu chân tóc bong khỏi đầu chân sữa thì tóc rụng, sau đó lại có một sợi tóc mới mọc ra đúng tại đó. Qua vòng tuần hoàn như thế cho nên mặc dù hằng ngày tóc rụng nhưng tổng số lượng sợi tóc trên đầu vẫn không giảm.
Nếu tóc bị một yếu tố bên ngoài nào đó kích thích có thể gây nên rụng tóc và tạm thời không mọc lại được. Ví dụ trẻ em suốt ngày nằm gối đầu lên gối, do đầu ma sát với gối, thời gian lâu làm cho đám tóc chỗ ma sát đó rụng đi. Ngoài ra, khi bị sốt cao hoặc sau một cơn bệnh nặng cũng gây cho tóc rụng rất nhiều, có lúc thậm chí dùng tay vuốt đã có thể làm rụng hàng túm tóc. Đó là sự rụng tóc có tính tạm thời. Sau một thời gian vẫn có thể được phục hồi trở lại.
Nếu da đầu bị tổn thương, bị bỏng hoặc bị mụn nhọt khiến da bị phá hoại, sau khi thành sẹo sẽ làm cho tóc mất đi, không còn hi vọng tóc mọc lại được.
Từ khoá: Đầu sữa chân tóc, Tóc rụng.
32. Vì sao đầu của một số người có nhiều gầu?
Khi chải đầu thường rơi một ít gầu. Gầu tóc là sản phẩm đào thải của da đầu, ai cũng có.
Gầu thông thường không gây cho người ta cảm giác gì đặc biệt. Nhưng nếu quá nhiều sẽ gây ngứa và ảnh hưởng đến mĩ quan.
Gầu được sinh ra như thế nào? Nguyên nhân là sự sinh trưởng và diễn biến của da người được bắt nguồn từ những tế bào gốc ở tầng thấp nhất của lớp biểu bì. Cùng với sự hấp thu và đào thải, những tế bào gốc này sẽ phát triển lên trên, cuối cùng trở thành tế bào sừng mà rụng đi. Quá trình này diễn ra trong khoảng 310 - 430 giờ. Tế bào sừng của một người từng giờ từng phút rơi rụng, chẳng qua là vì kích thước mỗi tế bào chỉ khoảng mấy micromét cho nên ta không cảm nhận được mà thôi. Thực chất gầu là tế bào bị sừng hoá rơi rụng mà thành.
Vì sao có một số người gầu đặc biệt nhiều? Các bác sĩ phát hiện những người này phần nhiều ở lứa tuổi thanh niên. Do hoocmôn giới tính mất cân bằng, đặc biệt là mức độ hoocmôn giống đực tăng cao, khiến cho da tiết ra nhiều chất dầu. Khi dầu trên da đầu nhiều thì những tế bào sừng đã rụng ra sẽ dính lại với nhau hình thành những đám gầu mà mắt thường có thể trông thấy được.
Ngoài ra, có một số người thích dùng dầu gội có tính kiềm cao để gội đầu, hoặc dùng những dược phẩm có tính kích thích cũng sẽ dẫn đến hiện tượng gầu nhiều. Để tránh gầu nhiều, trước hết cần phải sống nền nếp, giữ cho tinh thần thoải mái, ít ăn chất mỡ hoặc những thực phẩm nhiều đường, ăn nhiều rau và hoa quả cũng như những thức ăn chứa nhiều vitamin nhóm B. Đối với những người mồ hôi dầu nên tăng thêm số lần gội, dùng dầu gội trung tính hoặc dầu gội lưu huỳnh, mỗi tuần gội 2 lần có thể khống chế dầu tiết ra giữ cho da đầu được sạch sẽ.
Khoa học hiện đại nghiên cứu và phát hiện thấy gầu nhiều có liên quan với sự cảm nhiễm các khuẩn bào tử bám trên da, vì vậy cũng có thể dùng thuốc kháng khuẩn để chữa.
Từ khoá: Gầu; Tế bào gốc; Tế bào sừng.
33. Cách nói "người khoẻ mọc tóc, người yếu mọc móng tay" có cơ sở khoa học không?
Người ta thường nói: "người khoẻ mọc tóc, người yếu mọc móng tay". Cách nói này có phù hợp với khoa học không?
Chỉ cần phân tích là ta có thể thấy rõ cách nói này không có cơ sở khoa học. Vì một người cho dù khoẻ hay yếu, thì tóc và móng tay vẫn không ngừng sinh trưởng, chứ không phải do khoẻ thì mọc tóc không mọc móng tay, cũng không phải yếu thì chỉ mọc móng tay mà ít mọc tóc.
Dưới đây chúng ta xem xét tình hình sinh trưởng của tóc và móng tay. Tóc từ lúc mọc đến lúc rụng, tuổi thọ khoảng 2 - 6 năm, lâu nhất có thể đạt 25 năm. Thông thường mỗi ngày tóc có thể mọc 0,2 - 0,4 mm, một tháng dài 1 cm. Tốc độ mọc của tóc sẽ thay đổi tuỳ theo tình hình tuổi tác và sức khoẻ. Người già, thể lực yếu, người ốm và phụ nữ mang thai tóc mọc tương đối chậm. Người khoẻ ở lứa tuổi từ 16 - 24 tóc mọc nhanh hơn, chất lượng cũng tốt hơn.
Móng tay mỗi ngày mọc khoảng 0,1 mm. Ngón tay càng dài thì tốc độ mọc của móng tay càng nhanh; ngón tay càng ngắn tốc độ mọc của móng tay càng chậm. Trên cùng một bàn tay, móng tay ngón giữa mọc nhanh nhất, móng tay ngón út và ngón cái mọc chậm hơn. Tốc độ mọc của móng tay có liên quan với nhiệt độ. Mùa hè móng tay mọc nhanh hơn mùa đông, ban ngày mọc nhanh hơn ban đêm, người ở phương Nam móng tay mọc nhanh hơn người ở phương Bắc. Móng tay trẻ em mới sinh mọc tương đối chậm, tuổi thanh niên mọc nhanh hơn, về già lại mọc chậm lại. Thông thường người có sức khoẻ tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tốc độ móng tay mọc nhanh hơn so với những người thể lực yếu hoặc nhiều bệnh. Người quen dùng tay phải thì móng tay phải cũng mọc nhanh hơn móng tay trái.
Do đó có thể thấy tốc độ mọc của tóc nhanh hơn rất nhiều so với móng tay; thời trẻ tóc mọc nhanh, móng tay cũng mọc nhanh; về già hoặc người thể lực yếu tóc mọc chậm, móng tay cũng mọc chậm.
Từ khoá: Tóc; Móng tay.
34. Vì sao không nên cắt móng tay quá sâu?
Móng tay của con người giống như lớp vảy trên thân con rắn, đó là những sản phẩm phụ của da, tác dụng chủ yếu là bảo vệ ngón tay. Nhưng nếu móng tay mọc quá dài cũng không thuận tiện, vì móng tay dài dễ chứa nhiều vi khuẩn. Các nhà khoa học đã từng điều tra và phát hiện, trong một gam chất bẩn của móng tay có khoảng 4 tỉ vi khuẩn, một số lượng nhiều không tưởng tượng được.
Khi bạn gãi không cẩn thận làm rách da, thì những vi khuẩn có hại ở móng tay có thể gây nên viêm da. Khi bạn cầm vật gì ăn, vi khuẩn ở móng tay cũng có thể xâm nhập vào cơ thể. Cho nên để giữ gìn sức khoẻ, ta nên có thói quen chăm cắt móng tay.
Cắt móng tay là việc đơn giản, nhưng rất nhiều người thích cắt móng tay thật ngắn và họ cho rằng, móng tay càng ngắn càng tốt. Thực ra làm như thế không tốt. Vì móng tay cắt quá ngắn sẽ làm giảm tác dụng bảo vệ đầu ngón tay. Điều đáng chú ý là không nên cắt hai bên móng tay quá sâu, nếu không, chỗ móng tay mới mọc ra sẽ đâm vào thịt dễ gây viêm nhiễm. Tóm lại, móng tay nên được cắt vừa phải, không nên cắt quá sâu vì như thế mất tác dụng bảo vệ của móng. Cắt móng tay tránh được nhiều cáu bẩn.
Từ khoá: Móng tay.
35. Vì sao nhiều trẻ em thích cắn móng tay?
Nếu bạn chú ý quan sát chung quanh sẽ phát hiện nhiều người có thói quen xấu: thích cắn móng tay, đặc biệt là trẻ em từ 5 - 10 tuổi.
Vì sao trẻ em thích cắn móng tay? Hiện tượng này có thể có liên quan nhất định tới di truyền. Khi phần đông trẻ em có thói quen cắn móng tay không hề liên quan gì tới di truyền mà phần nhiều là do tâm lí bị căng thẳng hoặc không được giáo dục thích đáng mà gây nên.
Một số nhà khoa học chỉ rõ nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trẻ em thích cắn móng tay gồm có: ví dụ gia đình không hoà thuận, hoặc bố mẹ đề ra những yêu cầu học tập quá cao, hoặc bị thầy giáo phê bình, quở trách, làm cho trẻ em luôn ở trạng thái tinh thần quá căng thẳng.
Khi trẻ em cắn móng tay, thậm chí có em cắn cả phần da quanh móng tay chảy máu gây nên viêm nhiễm, bố mẹ thường dùng biện pháp xử phạt, như đánh, mắng để ngăn ngừa, nhưng vẫn không mang lại kết quả.
Muốn trẻ em khắc phục thói quen xấu này, cần phải tìm ra nguyên nhân cơ bản, phân tích môi trường xung quanh để có phương pháp uốn nắn đúng đắn. Mỗi khi nhìn thấy chúng vô tình hay hữu ý cắn móng tay thì nên để cho các em làm những công việc nào đó mà chúng thích, như cắt hình, cắt giấy vv.. để phân tán sự chú ý của chúng đối với móng tay.
Ngoài ra, còn có thể đưa các em đến bác sĩ để xin những lời khuyên, làm các em được thư giãn, tăng cường năng lực tự khống chế và động viên kịp thời mỗi khi chúng có tiến bộ. Tất cả những việc này đều rất bổ ích cho việc khắc phục thói quen xấu hay cắn móng tay.
Từ khoá: Cắn móng tay.
36. Có phải máu chỉ là chất lỏng màu đỏ không?
Máu trong cơ thể màu đỏ tươi, mới xem giống như là chất lỏng được nhuộm màu đỏ. Thực ra không phải như thế. Nếu đặt một giọt máu dưới kính hiển vi quan sát, ta sẽ phát hiện thấy trong máu có tế bào hồng cầu, tế bào bạch cầu, tiểu cầu và một số thành phần khác.
Tế bào hồng cầu giống như cái đĩa nhỏ màu hồng ở giữa hơi lõm, chuyên đảm nhiệm việc vận chuyển khí oxi và khí CO2. Khi máu qua phổi, tế bào hồng cầu sẽ mang theo khí oxi mới thở vào cùng với máu đi ra khắp toàn thân. Trên đường quay trở về nó lại mang khí thải CO2 của cơ thể đến phổi để bài tiết ra ngoài.
Bạch cầu là loại tế bào có nhân, không màu, khi nằm im có hình tròn. Trong trạng thái hoạt động, tế bào bạch cầu có thể biến hình xuyên qua vách các mạch máu nhỏ li ti, đi vào các tổ chức xung quanh. Trong tế bào bạch cầu có vô số hạt đặc biệt, có thể chia tế bào bạch cầu thành tế bào dạng hạt và tế bào dạng không hạt. Trong tế bào dạng hạt, căn cứ tính chất háo màu của các dạng hạt khác nhau lại được phân thành tế bào dạng hạt trung tính, tế bào dạng hạt háo axit và tế bào dạng hạt háo kiềm.
Tế bào dạng hạt trung tính có khả năng biến hình rất mạnh và có năng lực "ăn" những vật khác, nó có thể trực tiếp giết chết vi khuẩn, có tác dụng bảo vệ quan trọng trong cơ thể. Trong tế bào dạng hạt háo axit chứa các chất men amoni, men thuỷ giải vv.. có thể làm giảm phản ứng dị ứng và có bản lĩnh giết hoặc làm tổn thương kí sinh trùng. Tế bào dạng hạt háo kiềm chứa chất gan và các chất phản ứng chậm. Trong tế bào dạng không hạt, phần lớn là các tế bào lympho, chức năng của chúng có liên quan với chức năng miễn dịch. Một loạt tế bào dạng không hạt khác gọi là tế bào đơn hạnh, nó có khả năng vận động biến hình mạnh và có chức năng "ăn" những vật khác, khi nó đi vào tổ chức kết đế có thể phân hoá thành tế bào to (đại thực bào) để nuốt các chất khác.
Hình dạng tiểu cầu rất không quy chuẩn, nó có chức năng làm đông máu. Khi cơ thể bị thương chảy máu thì tiểu cầu tràn ra bao bọc lấy miệng vết thương, tiết ra chất đặc biệt để gây đông máu khiến cho máu trên miệng vết thương đông lại, tránh tiếp tục bị chảy máu. Có một số người vì trong máu thiếu chất này nên miệng vết thương rất khó bị cầm máu.
Trong máu trừ tế bào hồng cầu, tế bào bạch cầu và tiểu cầu là 3 "thành phần hữu hình" ra, còn có một số huyết tương là "thành phần vô định hình" cấu tạo nên. Huyết tương bao gồm các chất khoáng, đường, mỡ, protêin, chất kích thích, men và vitamin vv...
Từ khoá: Máu; Tế bào hồng cầu; Tế bào bạch cầu; Tiểu cầu; Huyết tương.
37. Vì sao khác nhóm máu thì không thể tiếp máu?
Trước kia căn bản người ta không biết được có nhóm máu khác nhau. Khi bệnh nhân cần tiếp máu, bất cứ người khoẻ mạnh nào đều có thể cho máu. Nhưng rất nhiều bệnh nhân vì được tiếp máu mà bệnh tình xấu đi, thậm chí bị chết một cách âm thầm. Hiện tượng này gây cho các nhà khoa học chú ý. Dần dần họ nhận thức được trong máu nhất định chứa một chất gì đó mà con người chưa biết được, đó là nguồn gốc dẫn đến sự cố tiếp máu bị chết.
Qua vô số lần thí nghiệm, mãi đến năm 1902, nhà bệnh lí học người áo là Hal Landstriner cuối cùng làm sáng tỏ bí mật về máu và đưa ra khái niệm nhóm máu. Ông phân máu người thành 4 nhóm lớn: nhóm máu O, nhóm máu A, nhóm máu B và nhóm máu AB.
Ngày nay ta đã biết được những người có nhóm máu không hợp nhau, nếu tiếp máu cho nhau sẽ dẫn đến phản ứng đông máu, gây ra tế bào hồng cầu bị biến dạng gập lại, dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng. Đó là vì trong huyết tương chứa chất đông kết có tác dụng làm dính kết, còn trong hồng cầu chứa chất gốc đông kết có thể bị dính kết. Gốc đông kết (kháng nguyên) có hai loại: A (
) và B (
), ngưng kết tố (kháng thể) cũng có hai loại: (
) và (
), A và (), B và () đều là hai cặp oan gia, nếu chúng gặp nhau sẽ là nổi loạn, quấn vào nhau gây hiện tượng đông máu.
Khi tiếp máu, huyết tương của máu truyền vào có chứa chất đông kết sẽ bị lượng huyết tương lớn trong cơ thể bệnh nhân làm cho loãng ra và rất nhanh chóng bị phá hoại, không thể tác oai, tác quái được, duy chỉ có chất gốc đông kết trong tế bào hồng cầu của máu tiếp sau khi đi vào cơ thể bệnh nhân sẽ đến khắp cơ thể, gặp được oan gia sẽ gây loạn, cho nên chất đông kết (kháng nguyên) trong tế bào hồng cầu là căn cứ chủ yếu để quyết định nhóm máu.
Máu người được chia thành 4 nhóm: nhóm A, nhóm B, nhóm A-B và nhóm O. Khi trong tế bào hồng cầu có chứa gốc đông kết A (), trong huyết tương có chứa chất đông kết (kháng thể B) thì đó là nhóm máu A. Khi trong tế bào hồng cầu chứa gốc đông kết B (), trong huyết tương chứa chất đông kết (kháng thể A) thì đó là nhóm máu B. Khi trong tế bào hồng cầu vừa chứa gốc đông kết A, lại vừa chứa gốc đông kết B (kháng nguyên AB
, còn trong huyết tương không chứa một chất đông kết (kháng thể) nào thì đó là nhóm máu A-B. Khi trong tế bào hồng cầu không chứa gốc đông kết nào, trong huyết tương có chứa chất đông kết (kháng thể B) và (kháng thể A) thì đó là nhóm máu O.
Qua đó có thể thấy: trong máu của một người, hai cặp oan gia A () và (), B () và () không có cơ hội gặp nhau. Nhóm máu A không thể tiếp cho bệnh nhân nhóm máu B, vì lúc đó trong tế bào hồng cầu của máu tiếp có chứa gốc đông kết A sẽ gặp chất đông kết () nằm trong huyết tương của bệnh nhân nhóm máu B. Tương tự nhóm máu B cũng không thể tiếp cho bệnh nhân có nhóm máu A, vì tế bào hồng cầu của nhóm máu B có chứa gốc đông kết (), gặp được chất đông kết () nằm trong huyết tương của bệnh nhân có nhóm máu A sẽ gây loạn, phát sinh phản ứng đông kết máu.
Trong tế bào hồng cầu của nhóm máu O, vì không chứa gốc đông kết nào, cho nên sẽ không bị chất đông kết của huyết tương nhóm máu nào, do đó có thể dùng để tiếp cho bất cứ bệnh nhân có nhóm máu nào. Nhóm máu O được gọi là nhóm máu bản năng (nhóm máu hào hiệp).
Các nhóm máu và khả năng cho, nhận của chúng
Trong huyết tương của nhóm máu A-B, không chứa một loại chất đông kết nào, cho nên không làm đông tế bào hồng cầu của bất cứ nhóm máu nào, vì vậy nó có thể tiếp thu bất cứ nhóm máu nào. Theo lí mà xét nhóm máu A-B được gọi là "nhóm máu thích ứng với A và B", còn gọi là nhóm máu ích kỉ, chỉ nhận mà không cho ai được.
Căn cứ lí luận trên đây, nhóm máu A có thể tiếp cho bệnh nhân có nhóm máu A và nhóm máu A-B, nhóm máu B có thể tiếp cho bệnh nhân nhóm máu B và nhóm máu A-B. Nhóm máu A-B chỉ có thể tiếp cho các bệnh nhân có cùng dạng nhóm máu, nhóm máu O có thể tiếp cho bệnh nhân có bất cứ nhóm máu nào. Nhưng trên thực tế tiếp máu, tốt nhất là tiến hành giữa những người có cùng nhóm máu.
Từ khoá: Nhóm máu; Chất đông kết; Gốc đông kết.
38. Máu chảy trong cơ thể như thế nào?
Máu là nguồn sống của cơ thể, nó chảy tuần hoàn trong cơ thể, thậm chí lúc ngủ cũng không ngừng chảy. Vậy quy luật lưu động của máu như thế nào? Như ta đã biết, máu là chất lỏng giống như nước. Nước máy chảy trong đường ống đến khắp mọi nhà. Máu cũng phải chảy trong đường ống cố định, đường ống đó gọi là mạch máu.
Mao mạch đầu và chi trên
Mạch máu bắt đầu từ tim, từ to đến nhỏ, từ dài đến ngắn, dần dần biến thành những mạch máu nhỏ li ti mắt không nhìn thấy được, dày đặc như mạng nhện, phân bố khắp trong cơ thể. Có người đã từng đo, nếu cộng các mạch máu lớn và các mạch máu li ti trong toàn cơ thể thì tổng chiều dài đến 10 vạn km, đủ để quấn quanh Trái Đất 3 vòng rưỡi. Mạch máu mới nhìn qua thì giống nhau, nhưng thực ra được chia làm hai loại lớn là động mạch và tĩnh mạch. Sự khác nhau giữa chúng là máu chảy trong động mạch là "máu sạch", còn máu chảy trong tĩnh mạch là "máu bẩn".
Khi tim ta dùng lực co bóp thì giống như một cái bơm, ép máu từ trong tim chảy ra, khi đó trong máu chứa oxi và các chất dinh dưỡng gọi là "máu sạch". Thông qua động mạch nó chảy vào các mạch máu li ti phân bố khắp trong cơ thể, đưa oxi và các chất dinh dưỡng đến cung cấp cho các tế bào, tức là để cho tế bào "thở" và "ăn uống", đồng thời các tế bào lại thải ra khí CO2 và các chất thải đưa vào trong mạch máu, đến đây "máu sạch" biến thành "máu bẩn", chảy về tĩnh mạch, thông qua phổi, thận và da thải các chất độc ra ngoài, khiến cho máu lại trở thành máu sạch quay về tim. Cứ như thế, máu chảy tuần hoàn không ngừng trong động mạch và tĩnh mạch.
Từ khoá: Máu; Mạch máu; Động mạch; Tĩnh mạch; Mạch máu mao quản.
39. Có phải nhóm máu một người suốt đời không thay đổi?
Các nhà khoa học phát hiện máu của người có thể phân thành các nhóm khác nhau, gọi là nhóm máu.
Tế bào hồng cầu có nhóm máu A, nhóm máu B, nhóm máu AB và nhóm máu O. Chúng ta đều biết, phải xét nghiệm nhóm máu. Thí nghiệm chứng tỏ: nhóm máu A không thể tiếp cho người có nhóm máu B và nhóm máu O, nhóm máu B không thể tiếp cho người có nhóm máu A và nhóm máu O. Nhóm máu O có thể tiếp cho người bất kì có nhóm máu nào. Người có nhóm máu AB có thể tiếp nhận bất kì nhóm máu nào.
Trước đây, người ta luôn cho rằng, nhóm máu của một người suốt đời không thay đổi. Có người còn gọi nhóm máu là "hộ khẩu đỏ" suốt đời không thay đổi.
Với đa số mọi người thì nhóm máu quả thực suốt đời không thay đổi. Nhưng điều đó không phải là tuyệt đối. Có một phụ nữ tuổi trung niên qua giám định thuộc nhóm máu AB. Bà đã được tiếp nhóm máu AB 4 lần an toàn vô sự, nhưng lần tiếp máu thứ năm lại xảy ra phản ứng không tốt. Qua kiểm tra mới phát hiện nhóm máu của bà đã biến thành nhóm máu A.
Ngày nay, người ta đã phát hiện, có lúc bệnh tật cũng sẽ khiến cho nhóm máu thay đổi. Ví dụ bệnh máu trắng có thể làm mất nhóm máu; bệnh khối u đường ruột có thể khiến cho bệnh nhân từ nhóm máu A biến thành nhóm máu B. Song điều làm cho người ta khó hiểu là, trên thế giới lại có một người đồng thời tồn tại hai nhóm máu. Năm 1953 ở Anh đã phát hiện một phụ nữ kì quái: bà vừa có nhóm máu A lại vừa có nhóm máu O. Vì sao lại có hiện tượng này, cho đến nay các nhà khoa học vẫn đang tìm hiểu mà chưa làm sáng tỏ được.
Từ khoá: Nhóm máu.
40. Dùng máu nhân tạo để tiếp máu có ưu việt gì?
Khi bệnh nhân mất nhiều máu, hoặc khi đại phẫu thuật thì tiếp máu là khâu quan trọng không thể thiếu được. Nhưng có lúc vì sự khó khăn về nhóm máu, hoặc nguồn máu dự trữ thiếu, nếu chỉ dựa vào số máu của những người mạnh khoẻ hiến thì không thể nào thoả mãn được nhu cầu điều trị.
Vì vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra một loại sản phẩm thay thế cho máu người, đó là máu nhân tạo. Tháng 7 năm 1980, một giáo sư khoa y Trường đại học Hiroshima của Nhật Bản tuyên bố: ông ta dùng máu nhân tạo tiếp cho 100 bệnh nhân để mổ và đã thu được thành công tốt đẹp. Tháng 6 năm 1980, bệnh viện Trung Sơn, Trung Hải cũng đã tiếp máu nhân tạo cho một bệnh nhân bị suy chức năng thận, kết quả rất tốt.
Thực chất máu nhân tạo là gì? Nó có giống với máu tươi trong cơ thể không? Dùng máu nhân tạo để tiếp máu có ưu việt không?
Các nhà khoa học cho chúng ta biết, nên gọi máu nhân tạo là máu nhân tạo fluocacbon. Nó có tính hoà tan chất khí rất cao, trong mạch máu nó có thể thực hiện phân áp đối với khí oxi và CO2 để thực hiện sự khuếch tán khí, nhờ đó mà có thể đưa khí oxi đến khắp cơ thể và bài tiết khí CO2 ra ngoài. Máu nhân tạo so với máu người có mấy đặc điểm sau: một là nó không bị nhóm máu hạn chế, có thể dùng cho bệnh nhân có bất cứ nhóm máu nào. Sau khi tiếp máu sẽ không xảy ra phản ứng trộn máu nghiêm trọng, đặc biệt là trong trường hợp cấp cứu, khi mà thời gian là sự sống còn thì không cần phải kiểm tra nhóm máu, không cần phải làm thí nghiệm phối máu giao tạp mà có thể sử dụng ngay. Đối với trường hợp cấp cứu với quy mô lớn lại càng đơn giản, nhanh chóng. Hai là bảo quản dễ dàng, không cần phải cất giữ trong tủ lạnh từ 4 – 60C như máu tươi mà vẫn có thể giữ được hàng năm. Ba là sẽ không phát sinh sự lây truyền giao tạp. Thường thường khi tiếp máu, nếu không kiểm tra nghiêm ngặt sẽ dễ xảy ra tình trạng những vi khuẩn và virut bệnh trong cơ thể người cho máu truyền sang cơ thể bệnh nhân nhận máu. Còn máu nhân tạo được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp nên không bị nhiễm vi khuẩn hoặc có virut.
Ngoài dùng để cấp cứu, máu nhân tạo còn có thể dùng để bổ sung máu cho tim và phổi khi có nhu cầu, cũng có thể dùng để bảo quản các cơ quan để cấy hoặc thay thế. Cho nên dùng máu nhân tạo thay thế máu phổ thông để tiếp máu khi cấp cứu bệnh nhân sẽ rất thích hợp.
Từ khoá: Máu nhân tạo.