241. Vì sao có một số người thấp nhỏ?

10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Cơ Thể Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
249. Con Người Vì Sao Không Sống Hết Tuổi Thọ Tự Nhiên? - 250. Năm Mươi Vạn Năm Sau, Loài Người Sẽ Trở Thành Thế Nào?

❊ ❊ ❊

Xung quanh chúng ta, có lúc có thể thấy những người khuôn mặt của họ rõ ràng là đã trưởng thành nhưng thân thể lại rất thấp bé, giống như một thiếu niên chưa đến tuổi thành niên.

Sự phát triển của cơ thể chịu sự khống chế của hoocmôn sinh trưởng do thuỳ não tiết ra. Nếu hoocmôn này tiết ra quá nhiều thì bị chứng người to tồ, nhưng nếu trước thời kì phát dục hoocmôn không đủ thì sẽ trở thành chứng thấp bé. Vì thiếu hoocmôn sinh trưởng, nên chiều cao loại người này, nam giới chỉ ở mức trên dưới 1,32 m, nữ giới 1,23 m. Vì phần đầu vẫn như người lớn bình thường cho nên hình thành dạng người đặc biệt không cân xứng, rất nổi rõ trong đám người bình thường. Trí lực của người thấp bé tuy không bị ảnh hưởng nhiều nhưng tầm vóc như thế đưa lại nhiều trở ngại trong sinh hoạt, đồng thời cũng sinh ra một áp lực tâm lí to lớn với bản

thân.

Loại người mắc chứng bệnh thấp bé do thuỳ thể não này, vì sao não lại không tiết ra đủ hoocmôn, cho đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân, có thể là do bẩm sinh phát dục không đầy đủ gây nên, nhưng cũng có một số nhà khoa học cho rằng, nó có liên quan với dây nhiễm bệnh sốt cao của tinh tinh, hoặc do bị trùng hút máu gây nên. Có một số người mắc bệnh nhỏ bé là vì não bị một khối u bên cạnh chèn ép mà gây nên.

Người bị hoocmôn sinh trưởng gây nên cơ thể thấp bé có thể thông qua tiêm hoocmôn sinh trưởng để điều trị. Nếu vì bị khối u gây nên thì trước hết cần tìm cách chữa trị khối u.

Từ khoá: Vóc thấp bé; Tế bào xương sụn.

242. Các nhà khoa học vì sao phải khám phá bí mật gien di truyền của con người?

Ngày nay, nhiều nhà khoa học kiệt xuất đang nghiên cứu đề tài gọi là khám phá bí mật gien di truyền của con người nhằm vẽ ra bản đồ chính xác về gien di truyền. Nhưng không ít người sẽ hỏi, mặc dù chúng ta công phá được cửa ải này nhưng nó sẽ đem lại ý nghĩa thực tế gì cho cuộc sống của nhân loại?

Di truyền học hiện đại mách bảo chúng ta rằng, gien là cơ sở của di truyền, do ADN tổ chức thành. Nó quyết định các loại tính trạng của cơ thể. Ví dụ người Châu á mắt đen, người Châu Âu mắt xanh. Màu sắc của nhãn cầu là do gien chi phối.

Không những thế, có nhiều bệnh con người mắc phải là gien di truyền. Gien di truyền và bệnh tật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể nói bệnh gien di truyền đơn là do một gien nào đó biến đổi về kết cấu mà gây nên. Ví dụ điển hình nhất là bệnh thiếu máu dạng tế bào lưỡi liềm. Còn bệnh do nhiều gien di truyền là do kết cấu nhiều gien di truyền biến đổi gây nên. Ví dụ như bệnh khối u, bệnh cao huyết áp, vv..

Chính vì vậy, nếu nắm vững kết cấu về gien di truyền trong cơ thể và tính trạng hoặc bệnh tật tương ứng với nó thì cho dù con người mắc bệnh gì, chỉ cần khắc phục được gien di truyền tương ứng với loại bệnh đó, là sẽ tìm được phương pháp bí mật để chữa bệnh. Cho nên các nhà khoa học khao khát dịch được bí mật gien di truyền và đó cũng là ý nghĩa quan trọng của vấn đề.

Từ khoá: Bản đồ gien di truyền của người. Bệnh gien di truyền.

243. Bệnh gien di truyền phát sinh như thế nào?

Bệnh gien di truyền tức là bệnh di truyền, hay nói cách khác, do sự thay đổi của chất di truyền mà gây nên bệnh tật. Nhưng người xưa quan niệm rằng, bệnh di truyền có liên quan với cơ quan sinh dục, tức là loại bệnh từ cha mẹ di truyền mà sinh ra. Cùng với sự phát triển của sinh vật học phân tử hiện đại, loài người đã có nhận thức sâu sắc hơn đối với bệnh di truyền. Ngày nay người ta cho rằng bệnh di truyền có thể do cha mẹ truyền lại. Ví dụ chứng bẩm sinh ngu đần vừa thuộc về bệnh do gien di truyền, lại cũng thuộc về bệnh di truyền, tức là từ cha mẹ di truyền lại. Nhưng bệnh ung thư mà mọi người đều sợ lại chỉ là bệnh do gien di truyền, chứ không phải do bố mẹ di truyền lại mà là do trong cuộc sống lây nhiễm virut hoặc do nguyên nhân khác gây nên sự biến đổi gien di truyền mà phát sinh. Trên ý nghĩa này mà nói, dùng từ bệnh do gien di truyền để thay thế bệnh di truyền có thể càng dễ hiểu hơn.

Bệnh do gien di truyền có thể chia làm 3 loại lớn: 1) Bệnh đơn gien di truyền; 2) Bệnh nhiễm sắc thể; 3) Bệnh đa gien di truyền.

Bệnh đơn gien di truyền là do một gien di truyền nào đó trong cơ thể phát sinh biến đổi mà gây nên, thường dẫn đến sự hấp thu đào thải hoặc sự phát triển của cơ thể không bình thường. Bố mẹ của bệnh nhân xem ra rất bình thường, nhưng trên thực tế cả bố và mẹ đều mang những gien di truyền gây bệnh, chẳng qua ở dạng tiềm ẩn không bộc lộ mà thôi. Lúc đó gọi "Di truyền có tính tiềm ẩn". Nhưng trong bố mẹ bệnh nhân mắc bệnh đơn gien di truyền cũng có người phát bệnh, vì vậy gọi là "di truyền hiện rõ". Bệnh đơn gien di truyền có rất nhiều loại. Ví dụ bệnh thiếu máu dạng lưỡi liềm, bệnh máu nhóm A, bệnh mù màu đỏ, vv..

Bệnh nhiễm sắc thể khác với bệnh đơn gien di truyền, nó không phải là một gien di truyền nào đó có vấn đề mà là bệnh gien thừa hoặc thiếu nhiễm sắc thể, mặc dù dây nhiễm sắc thể này đều có các gien bình thường, nhưng vẫn xuất hiện chứng tổng hợp Đao (cũng gọi là bệnh bẩm sinh ngu đần do có 3 nhiễm sắc thể thứ 21). Rất nhiều ví dụ như thế, như chứng tổng hợp nhiễm sắc thể XXX, và XYY.

Bệnh đa gien di truyền cũng gọi là bệnh di truyền đa gien. Loại bệnh này khá phức tạp, do nhiều gien di truyền gây nên. Có lúc tất cả các gien di truyền đều bình thường nhưng tổng hợp các gien di truyền này trên một cơ thể nào đó sẽ xuất hiện bệnh chứng nghiêm trọng. Ví dụ như các bệnh thường gặp, bệnh tim, bệnh khối u, bệnh động mạch vành, vv.. Bệnh đa gien di truyền còn chịu ảnh hưởng của môi trường, phương thức sinh hoạt cá nhân và điều kiện ngoại giới chi phối, thường là loại bệnh phát sinh theo gia tộc, nhưng không có những đặc trưng như bệnh đơn gien di truyền.

Bệnh gien di truyền làm tổn hại nghiêm trọng đến loài người, đặc biệt là gia đình của bệnh nhân. Theo thống kê, trong số bệnh nhân trẻ em do khoa nhi tiếp thu có đến 1/3 liên quan đến bệnh di truyền. Trong tỉ lệ tử vong loại trẻ em từ 15 tuổi trở xuống, bệnh gien di truyền chiếm phần lớn. Đó là một gánh nặng và thách thức nghiêm trọng đối với xã hội. Ngày nay loài người vẫn chưa có biện pháp chữa trị hiệu quả đối với loại bệnh này, do đó chẩn đoán và dự phòng sớm là vô cùng quan trọng. Ví dụ cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống gần, trước khi kết hôn và trước khi sinh đẻ phải kiểm tra và hỏi han về di truyền để đạt được sinh con tốt, đối với những thành viên trong gia đình dễ mắc bệnh thì cần tư vấn sớm để đề phòng, vv.. Nhờ sự phát triển của y học hiện đại, tế bào học và sinh vật học phân tử mà con người ngày càng hiểu biết sâu hơn những nguyên nhân gây bệnh của các loại bệnh này. Những thành quả nghiên cứu khoa học về mặt này đã đưa lại những biện pháp có hiệu quả để chẩn đoán và dự phòng đối với bệnh di truyền. Sự phân tích toàn bộ trật tự ADN của các gien di truyền con người đã được hoàn thành vào đầu thế kỉ XXI, đồng thời chữa bệnh bằng gien di truyền cũng là phương hướng chủ yếu của y học và sinh vật học hiện đại. Hi vọng rằng trong tương lai không xa, con người sẽ có thể dựa vào bản đồ gien di truyền để chữa trị được tận gốc bệnh di truyền và các loại bệnh khác.

Từ khoá: Bệnh do gien di truyền; Bệnh đơn gien di truyền; Bệnh nhiễm sắc thể; Bệnh đa gien di truyền.

244. Thế nào là vân tay gien di truyền?

Mọi người đều biết vân tay là chỉ các hoa văn trên da đầu ngón tay. Có vẻ chúng khác nhau không nhiều, nhưng trên thực tế là thiên biến vạn hoá. Mãi đến ngày nay vẫn chưa phát hiện được trên thế giới này có hai người vân tay hoàn toàn giống nhau. Chính nhờ đặc điểm đó mà cảnh sát có thể thông qua giám định vân tay để lại trên hiện trường mà tìm ra tội phạm, xác nhận phạm nhân là ai.

Vân tay rất dễ hiện, nhưng vân tay do gien di truyền là thế nào? Đó là một khái niệm của di truyền học. Như ta đã biết giữa những người khác nhau, gien di truyền trong cơ thể tuy căn bản giống nhau nhưng vẫn có sự khác biệt nhiều hay ít. Có thể nói giống như vân tay, trên thế giới này không tồn tại hai người có gien di truyền hoàn toàn giống nhau, ngay với người sinh đôi cũng có sự khác biệt nho nhỏ. Các nhà khoa học có thể căn cứ mật mã gien di truyền, qua xử lí đặc biệt sẽ nhận biết hình vẽ nào đó, nhìn vào đó giống như những hình mật mã đen trắng đan xen vào nhau, đó chính là gien di truyền vân tay.

Gien di truyền vân tay giống như vân tay, sẽ giúp đỡ cảnh sát phá án rất tốt. Trình độ kĩ thuật ngày nay có thể từ một giọt máu, từ một sợi tóc, một chút nước bọt tìm ra được gien di truyền vân tay. Ví dụ khi tội phạm vật lộn với người bị hại, rất có thể bị trầy sớt da, thậm chí để lại vết máu ở hiện trường. Đó chính là đầu mối quan trọng để cảnh sát từ đó tìm ra gien di truyền vân tay, sau đó tiến hành kiểm tra máu đối với những người bị nghi ngờ. Một khi phát hiện được gien di truyền giống hệt nhau là có thể xác định được ai là tội phạm.

Từ khoá: Hình gien di truyền.

245. Trẻ em sinh trong ống nghiệm có phải lớn lên trong đó không?

Nói đến trẻ em sinh trong ống nghiệm hầu như ai cũng nghe thấy, nhưng không phải ai cũng biết rõ trẻ em được sinh trong ống nghiệm như thế nào. Rất nhiều người cho rằng trẻ em có thể được nuôi lớn trong ống nghiệm. Thực tế đó là cách hiểu rất sai. Vậy trẻ em sinh trong ống nghiệm thực chất là như thế nào?

Các nhà khoa học cho biết, kĩ thuật trẻ em sinh trong ống nghiệm bao gồm hai bộ phận chủ yếu, đó là thụ tinh bên ngoài cơ thể và dời cấy phôi thai. Phần đầu tiến hành trong ống nghiệm, phần sau là dời phôi thai cấy vào trong tử cung người mẹ để phát triển dần lên.

Sự ra đời "trẻ em ống nghiệm" đại để cần phải trải qua mấy quá trình sau. Trước hết bác sĩ dùng thuốc để khiến người mẹ rụng trứng, khiến cho người phụ nữ rụng trứng đúng thời gian yêu cầu, sau đó dùng một khí cụ đặc biệt cho vào bụng người mẹ để lấy trứng ra. Tiếp theo bác sĩ cho trứng vào dung dịch nuôi trứng, chờ cho sau khi trứng hoàn toàn thành thục, mới cho tinh trùng đã qua xử lí vào, để cho tinh trùng và trứng thụ tinh trong ống nghiệm chứ không phải trong cơ thể người mẹ mà hình thành trứng thụ tinh.

Lúc này trứng thụ tinh được ngâm trong dung dịch nuôi dưỡng và bắt đầu sản sinh phân chia tế bào. Một trứng thụ tinh phân chia thành hai, hai thành bốn, bốn thành tám... dần dần phát triển thành phôi thai nhỏ nhoi. Đến giai đoạn này bác sĩ đưa phôi thai dời vào tử cung người mẹ. Thai lớn dần đến lúc trở thành hài nhi.

Kĩ thuật sinh trong ống nghiệm chủ yếu thực hiện đối với những người phụ nữ ống trứng bị tắc và những người chồng chất và lượng tinh trùng có vấn đề nên không thể tự nhiên có thai được. Sự ra đời của kĩ thuật này đã đem lại hi vọng và hạnh phúc to lớn cho những cặp vợ chồng bị bệnh không mang thai.

Từ khoá: Sinh con ống nghiệm; Thụ tinh ngoài cơ thể; Cấy phôi thai.

246. Con người có thể tự nhân bản mình không?

Con người phục chế mình, sinh ra một người nhân bản giống như mình. Cách nghĩ này cùng với sự ra đời của cừu Đôli có lẽ rất nhanh sẽ trở thành hiện thực.

Đó là vì từ lí luận mà xét, cừu Đôli có thể nhân bản được thì trâu bò, con người cũng có thể nhân bản được. Cừu và con người đều thuộc loài động vật có vú. Kĩ thuật nhân bản vô tính cừu Đôli cũng có thể dùng được cho con người. Nhưng đối với vấn đề nhân bản con người, hiện nay giới khoa học đang còn tranh luận. Những người tán thành nhân bản cho rằng, nhân bản cơ thể đối với những những cặp vợ chồng vô sinh là một may mắn to lớn, khiến cho họ có thể nâng cao tỉ lệ mang thai. Đối với việc cấy các cơ quan của cơ thể cũng có nhiều điều tốt, giống như mở ra một bầu trời rộng lớn về nguồn cung cấp các cơ quan thay thế. Mỗi người khi sinh ra đã có những điều kiện giữ lại để sau này phục hồi thành những chế phẩm khi một bộ phận nào đó trong cơ thể bị hư hỏng thì đã có phôi thai trở thành nguồn dự bị để thay thế.

Kĩ thuật nhân bản phôi thai cơ thể cũng đã đem lại những hi vọng to lớn cho các bậc cha mẹ muốn con thành tài. Ví dụ họ tìm được tế bào phôi thai của một thương nhân tài giỏi thì có thể nuôi thành đứa con của mình.

Thực nghiệm kĩ thuật nhân bản vô tính còn có thể thực hiện ước mơ "trường sinh bất lão" của một số người. Khi cuộc đời của một người đi đến tận cùng, thì người đó có thể nhờ các nhà khoa học lấy ra phôi thai nhân bản vô tính của họ. Họ sẽ truyền cho đời sau của mình những kinh nghiệm và bài học, những thể nghiệm ngọt bùi cay đắng của cuộc đời cũng như dùng máy tính để tính toán kiểm tra lại. Như vậy, người đó có phải là đã sống lâu ngang trời rồi không?

Những người phản đối nhân bản vô tính có đủ các loại lí do. Ngài Ian Wilmut đã nhân bản thành công cừu Đôli từng nói: "Trong quá trình sản sinh ra cừu Đôli đã dùng đến ba người mẹ giả, tổng cộng dùng 277 trứng, trong đó chỉ có 29 trứng phát triển được đến giai đoạn có thể cấy, qua nhiều xử lí của kĩ thuật mà cuối cùng chỉ có được một con cừu. Nếu làm thí nghiệm như thế trên con người thì sẽ gặp rất nhiều vấn đề và phiền phức chưa thể lường hết được. Chỉ riêng về trứng mà nói, một người phụ nữ trong thời kì sinh đẻ mỗi tháng chỉ rụng một trứng, hơn nữa cơ hội để nhân bản vô tính trứng này thành công là rất ít, cho nên có thể thấy cần bao nhiêu người phụ nữ tham gia thí nghiệm mới thành công được.

Các nhà khoa học cho rằng, dùng phương pháp cấy vô tính để sản sinh ra con người sẽ khiến cho loài người mất đi tính đa dạng của gien di truyền, từ đó mà làm mất đi tác dụng sinh tồn của loài người. Nhân bản vô tính người là sự xâm phạm "quyền lợi dạng gien di truyền độc lập" của cá thể sinh mệnh đó. Con người nên yêu mến hình thức sinh mệnh độc đáo của mình, cũng nên tiếp thu sự tử vong tự nhiên của cá thể. Đó là bảo vệ đặc trưng cá tính và tôn trọng nhân cách của mình.

Ngoài ra các nhà xã hội học còn cho rằng, nhân bản vô tính người là một sự xung đột mạnh mẽ đối với luân lí, kết cấu gia đình và trật tự xã hội hiện có, đánh mất đi tinh thần truyền thống, trách nhiệm gia đình và nghĩa vụ xã hội... tất cả những điều này đưa lại tác hại khôn lường.

Trong cuộc tranh luận rầm rộ này, tiếng nói của những người phản đối, chiếm địa vị chủ đạo. Ngày 11 - 11- 1997, Tổ chức khoa học giáo dục của Liên hợp quốc đã tiến hành Đại hội ở Pari (Pháp) thông qua văn kiện về chuẩn mực đạo đức về chỉ đạo nghiên cứu di truyền- "Tuyên ngôn di truyền Nhân loại" yêu cầu cấm nhân bản vô tính người và những hành vi nghiên cứu khoa học khác làm tổn hại đến quyền lợi và sự tôn nghiêm của con người.

Từ khoá: Nhân bản vô tính.

247. Con người vì sao biết xấu hổ?

Có một số người khi giao tiếp với người khác, đặc biệt là với người lạ, thầy giáo hoặc trước mặt người lớn tuổi thường cảm thấy xấu hổ và sợ hãi. Nếu phải nói chuyện thì cảm thấy rất mắc cỡ. Họ thường lắp bắp, nói nhỏ, thậm chí có lúc nói không ra lời.

Con người vì sao lại xấu hổ?

Trước hết đó là vì nguyên nhân tâm lí. Người hay xấu hổ thường cảm thấy mình yếu đuối, vô cùng tự ti. Trong đó có người thiếu lòng tự tin, quá lo lắng, để lại ấn tượng không tốt cho người khác, luôn lo sợ người khác khinh mình. Có người trong hội trường đông người phát biểu rất lạnh nhạt, hoặc trong giao tiếp gặp phải trắc trở từ đó thiếu mạnh dạn.

Thứ hai là nguyên nhân về sinh lí. Phản ứng sinh lí khi xấu hổ hoàn toàn giống như trạng thái căng thẳng, tim đập nhanh, cơ bắp căng thẳng, hoocmôn vỏ thượng thận trong máu hàm lượng tăng cao, chất tuyến thượng thận trong não và mức độ... cũng tăng cao. Lúc đó nhịp tim rối loạn, mặt đỏ, tay run, thậm chí toát mồ hôi.

Thứ ba là nguyên nhân về xã hội. Khi Lâm Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng vừa đến Giả Phủ, thẹn thò nhìn thấy nhiều chị em. Hình tượng dễ gây xấu hổ này của nữ giới được sự đồng cảm của xã hội. Một độc giả Nhật Bản đã từng điều tra, đa số người được hỏi đều cho rằng phẩm chất nên có của nam giới là tính cương nghị, phẩm chất nên có của phụ nữ là tính dịu dàng và xấu hổ là một loại biểu hiện đức tính ôn dịu của nữ tính.

Làm thế nào để khắc phục tâm lí xấu hổ? Thứ nhất phải tăng cường lòng tự tin, khẳng định đầy đủ chỗ mạnh của mình, khuếch trương chỗ mạnh, tránh chỗ yếu. Thứ hai là có thể tranh thủ cơ hội tranh luận trước dễ sau khó để rèn luyện. Ví dụ chủ động phát biểu trước nhiều người quen biết, sau đó mở rộng phạm vi và tăng thêm độ khó, cuối cùng là phải tiếp xúc nhiều với những người có tính cách cởi mở, lạc quan, nhiệt tình để có lợi cho khắc phục tâm lí xấu hổ.

Từ khoá: Xấu hổ.

248. Cơ thể có khả năng tái sinh không?

Năng lực tái sinh của thuỷ tức nổi tiếng trong thế giới động vật. Thuỷ tức là loài động vật không có xương sống, hình ống tròn dài. Bạn chặt đứt đầu của nó, nó lại tái sinh đầu khác, thậm chí cắt nó thành mấy đoạn thì mỗi đoạn lại trở thành một con thuỷ tức hoàn chỉnh.

Vậy cơ thể người có khả năng tái sinh không? Rất nhiều người có thể nghiệm sau: ngón tay sau khi bị thương, qua mấy ngày miệng vết thương sẽ tự động kết lại; cho dù móng chân hoặc móng tay bị mất cũng sẽ dần dần mọc mới. Do đó có thể thấy cơ thể có khả năng tái sinh.

Bên trong cơ thể người cũng có năng lực tái sinh, rõ nhất là gan. Vì một bệnh nào đó, sau khi gan bị cắt đi một phần, phần còn lại sẽ thông qua tăng sinh để bù đắp chức năng bộ phận đã bị cắt bỏ.

Đại não cũng có năng lực tái sinh nhất định. Ngày nay đã biết được năng lực cảm thụ âm nhạc và hội hoạ là chức năng của bán cầu não phải. Nhưng các nhà khoa học bất ngờ phát hiện, một cô gái vì đại não bị bệnh cắt bỏ bán cầu não phải nhưng vẫn có thể hát được, vẽ được. Như thế là thế nào? Nguyên là bán cầu não trái của cô ấy rất to, kéo dài mãi đến vị trí bán cầu não phải ban đầu.

Trong giới tự nhiên, khi một cơ quan không có cách nào tránh khỏi bị tổn thương thì tái sinh là biện pháp bù đắp rất quan trọng. Đương nhiên, so với thuỷ tức, năng lực tái sinh của cơ thể người kém rất xa.

Tái sinh có mặt lợi, mặt hại. Về mặt này con người giống như đa số động vật, đã chọn phương án chiết trung: giới hạn năng lực tái sinh ở một số bộ phận đặc biệt.

Từ khoá: Năng lực tái sinh; Thuỷ tức.

249. Con người vì sao không sống hết tuổi thọ tự nhiên?

Sinh ra, phát triển, già yếu, tử vong là quá trình tất yếu của cuộc đời con người. "Trường sinh bất lão" chỉ là mơ ước thần thoại trong những câu chuyện cổ tích. Về mặt lí luận thì con người nên sống lâu như tuổi thọ tự nhiên, nhưng trong thực tế cuộc sống, rất ít người sống được đến như thế. Đó là vì cuộc sống dài hay ngắn có liên quan với các yếu tố như môi trường tự nhiên, bệnh tật vv..

Tuổi thọ tự nhiên của con người nên là bao nhiêu? Rất nhiều nhà khoa học cho rằng: tuổi thọ loài động vật có vú = thời gian giới tính thành thục x (8-10). Thời gian giới tính thành thục của người khoảng 14 năm, do đó tuổi thọ tự nhiên của con người là 14 x (8 - 10) = 112 - 140 năm. Vậy những nhân tố nào đã rút ngắn tuổi thọ của con người.

Xã hội cổ đại có các nhân tố như thiên tai, mãnh thú, đói ăn, ốm đau không có thuốc thang vv.. làm ảnh hưởng, cho nên tuổi thọ bình quân ngắn hơn hiện nay rất nhiều. Trên thế giới, quốc gia có những ghi chép đầu tiên về tuổi thọ con người là Hi Lạp. Hồi đó bình quân tuổi thọ là 19 tuổi; thế kỉ XVI tuổi thọ bình quân người Châu Âu là 21 tuổi; đến thế kỉ XVII tăng lên 26 tuổi, thế kỉ XVIII là 34 tuổi. Đầu thế kỉ XX đạt được 50 tuổi. Bước vào thập kỉ 70 của thế kỉ XX, tuổi thọ bình quân cụ ông ở Nhật Bản đã đạt đến 71,16 tuổi, các cụ bà là 78,31 tuổi, đó là kết quả của sự phát triển tiến bộ văn minh của xã hội.

Mặc dù tuổi thọ của người hiện đại đã được nâng cao rất nhiều, nhưng số người sống trên 100 tuổi vẫn còn rất ít. Đó là vì bệnh tật, tai nạn và nhiều tai hoạ bất ngờ khác đã sớm cướp đi sinh mệnh của họ. Sau khi bước vào tuổi già, con người phải đối mặt với đủ loại bệnh người già. Trong đó có những loại bệnh đã có mầm mống từ thời còn trẻ, chẳng qua dạng nhẹ mà thôi, đến tuổi già mới bộc lộ ra rõ rệt, hoặc thời trẻ chữa không triệt để nên tiếp tục kéo dài, đương nhiên cũng có nhiều bệnh đến tuổi già mới xuất hiện.

Vì vậy, con người muốn sống hết tuổi thọ tự nhiên thì phòng ngừa bệnh tật là vấn đề then chốt nhất. Rất nhiều người cho rằng ngăn ngừa lão hoá, kéo dài tuổi thọ là việc của người già, còn người già vì cho rằng những năm tháng cuối cùng không nhiều nữa, cho nên đặc biệt coi trọng và chăm chút kéo dài tuổi thọ, đó là điều có thể thông cảm được. Vấn đề là ở chỗ chỉ khi nào đến tuổi già mới bắt đầu tìm biện pháp kéo dài tuổi thọ thì đã muộn. Không ít các cụ già sống lâu cho rằng, muốn tuổi thọ đạt mức lí tưởng thì ngay từ bé, thời kì thanh niên đã phải bắt đầu chú ý về mặt ăn uống, rèn luyện thân thể và phòng ngừa bệnh tật. Bởi vì cuộc sống kéo dài trên một mức độ rất lớn là phải dựa vào các biện pháp giữ gìn sức khỏe của các giai đoạn trong cuộc sống tích luỹ được. Ngoài ra, còn phải dùng các biện pháp tổng hợp về các mặt trường thọ học thì cuộc sống của con người mới có thể kéo dài nhiều hơn nữa.

Từ khoá: Tuổi thọ.

250. Năm mươi vạn năm sau, loài người sẽ trở thành thế nào?

Loài người xuất hiện trên Trái Đất ước khoảng 1 triệu năm về trước. Trong những năm tháng dài dằng dặc đó, hình thể và hành vi loài người đã có những thay đổi nhất định, đặc biệt là môi trường sống xung quanh đã biến đổi to lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển của loài người.

Nếu tính từ bây giờ, qua 50 vạn năm nữa, loài người sẽ biến đổi ra sao? Đó là một câu hỏi được nhiều người quan tâm hứng thú. Khi các nhà khoa học dự đoán về tương lai loài người đã đưa ra ba loại quan điểm.

Nhà cổ sinh vật học nổi tiếng người Anh, Tycơlin căn cứ lí luận tiến hoá của loài người đã đưa ra dự đoán độc đáo của mình, đó là luận điểm mang đầy bi quan: 50 vạn năm sau con người sẽ suy vong.

Ông cho rằng lịch sử tiến hóa của sinh vật tuân theo quy luật sau: Trình độ tiến hoá của sinh vật càng cao thì sự suy vong cũng càng nhanh. Ví dụ một số động vật như loài ốc hạ đẳng có thể tồn tại 60 triệu năm, còn động thực vật ăn thịt cao cấp chỉ có thể tồn tại 6 triệu năm. Loài người đã trải qua lịch trình tiến hoá hơn 1 triệu năm và trở thành kẻ thống trị Trái Đất ngày nay, nếu theo quy luật cực thịnh tất suy thì bắt đầu từ nay loài người sẽ dần dần xuống dốc, đi dần đến suy vong.

Vì sao loài người lại đi vào suy vong?

Giải thích của Tycơlin rất bất ngờ. Ông nói nguyên nhân then chốt là sự phát triển của khoa học chữa bệnh. Điều này quả thực có một chút rất đáng nghi ngờ, nhưng nói cho đến cùng thì rất đơn giản. Ví dụ hơn 100 năm trước, y học còn lạc hậu, phàm những người bị bệnh hen, bệnh thận, lao phổi, đái đường vv.. thường chưa đến tuổi kết hôn đã bị chết, càng không nói đến những người mắc bệnh nghiêm trọng hơn. Sự chết đó như một sự sàng lọc làm cho những người có bệnh hoặc người yếu bị chết non, chưa kết hôn nên cũng chưa sinh ra những thế hệ yếu đuối, giống như hạt giống chất lượng thấp bị thiên nhiên đào thải, còn người khoẻ như hạt giống tốt được giữ lại.

Từ quan điểm sinh vật học mà xét, cái chết tự nhiên là chất thanh trừ vô tình, đã vứt bỏ những gien di truyền xấu gây bệnh trong kho di truyền của nhân loại. Nhưng ngày nay vì y học phát triển rất nhiều, người có bệnh đều được chữa khỏi, có thể sinh con, tức là để lại cho thế hệ sau những gien di truyền mang bệnh, đồng thời lại còn có những gien di truyền gây bệnh mới phát sinh, kết quả số gien di truyền xấu của loài người ngày càng nhiều thêm làm cho thể chất ngày càng kém đi, ngược lại loài người ngày càng ỷ lại sự phát triển của kĩ thuật điều trị. Đó là tính tuần hoàn xấu rất đáng bi quan. Thời gian kéo dài loài người rất có thể sẽ bị tự nhiên đào thải.

Lí luận Tycơlin là thuyết tiến hoá luận bi quan. Ông dự đoán loài người tất đi vào suy thoái. Nhưng nhiều nhà khoa học rất hoài nghi và phản đối dự đoán đó.

Hai nhà nhân loại học... của Canađa lại đề xướng lí luận tiến hoá đường thẳng. Thế nào là lí luận tiến hoá đường thẳng? Nói một cách đơn giản, đó là loài người ngày càng mạnh mẽ hơn, ngược hẳn với quan điểm của Tycơli, căn cứ lí luận dự đoán này, 50 vạn năm sau loài người sẽ biến thành "siêu nhân" mạnh mẽ.

Cách nói này có căn cứ nhất định.

Từ sau khi loài vượn cổ đứng thẳng xuất hiện trên thảo nguyên miền Đông Châu Phi, nhân loại bắt đầu trải qua một tiến trình dài dằng dặc. Não của chúng ngày càng to, ngày càng thông minh hơn. Thể tích não người hiện đại hầu như gấp ba lần loài vượn cổ. Hơn nữa, hai chân con người bắt đầu thích nghi chạy nhanh và đứng thẳng, hai tay được giải phóng trở nên vô cùng khéo léo. Cộng thêm loài người có thể sáng tạo và sử dụng công cụ phức tạp, phát triển ngôn ngữ, khiến con người có thể học tập và lợi dụng thành quả sáng tạo của người khác. Năm này qua năm khác, đời này qua đời khác, loài người ngày càng dựa vào đầu óc nhiều hơn thể lực. Căn cứ phương thức tiến hoá này có thể dự đoán 50 vạn năm sau thể tích đại não của người tương lai sẽ lớn hơn chúng ta ngày nay nhiều, còn tứ chi dần dần thoái hoá, cuối cùng biến thành đại não to, thân thể không thay đổi.

Về vấn đề 50 vạn năm sau loài người sẽ ra sao, còn có một loại quan điểm được đa số các nhà khoa học tiếp thu, đó là lí luận tiến hoá ổn định. Lí luận này cho rằng sự tiến hoá của loài người giống như sự tiến hóa của các loài động vật khác, không phải là tiến hoá theo đường thẳng. Sự thay đổi đơn thuần về thể hình hoặc phát triển của đại não không thể là tiêu chí chủ yếu của sự tiến hóa nhân loại. Ví dụ trong 50 vạn năm gần đây, sự biến đổi thể hình của con người và sự tăng thêm thể tích của đại não rất có hạn, nhưng tài trí thông minh của con người và sự tiến bộ của xã hội phát triển rất cao. Cho nên nói con người tương lai, tỉ lệ kết cấu của thân thể sẽ không khác biệt mấy so với người ngày nay.

Vậy có lẽ có người sẽ hỏi: trí tuệ của loài người phát triển ngày càng mới còn thể chất cơ bản giữ mãi ở trạng thái cân bằng ổn định, đó có phải là mâu thuẫn không? Thực ra không mâu thuẫn vì rất nhiều sinh vật trong những năm tháng biến đổi lâu dài đều có thời kì phát triển tương đối ổn định như vậy. Điều đó rất có lợi cho bảo tồn chủng loại sinh vật. Tương tự loài người về hình thái thể hình không phát sinh biến đổi lớn, tối thiểu với hiện nay mà nói là có lợi. Còn đối với tương lai thì sao? Để chúng ta hãy nhìn lại lịch sử sau khi loài người ra đời. Trong giai đoạn hơn 1 triệu năm, đã từng có mấy nhánh động vật khác nhau cùng cạnh tranh trong quá trình tiến hóa, đều muốn trở thành chúa tể của Trái Đất. Nhưng cuối cùng loài người chiếm được ưu thế không những tiếp tục tồn tại mà còn trở thành nhánh thành công nhất trong sự tiến hoá của các sinh vật trên Trái Đất. Lịch sử giai đoạn này chứng tỏ loài người có nhiều tính ưu việt, để cho những tính ưu việt này tiếp tục được giữ lại đương nhiên là rất có lợi cho sự tồn tại và phát triển của loài người.

Từ khoá: Tiến hoá của nhân loại; Gien di truyền gây bệnh; Lí luận tiến hoá đường thẳng; Lí luận tiến hoá ổn định.

vạn câu hỏi vì sao Cơ thể người (bộ mới) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.