“Em tự hỏi sống trong một thế giới lúc nào cũng là tháng Sáu thì sẽ thế nào nhỉ,” Anne vừa nói vừa bước qua khu vườn táo thoang thoảng hương thơm và ngập tràn hoa lá trong ánh chạng vạng để đến bậc thềm cửa trước, nơi Marilla và bà Rachel đang ngồi bàn về đám tang của bà Samson Coates mà họ vừa dự hôm đó. Dora ngồi giữa hai người, chăm chú ôn bài; còn Davy thì ngồi khoanh chân trên bãi cỏ, với vẻ mặt ủ dột và buồn bã hết mức mà cái má lúm đồng tiền duy nhất trên mặt cậu cho phép.
Marilla thở dài nói: “Rồi cháu sẽ thấy chán ngấy cho mà xem.”
“Chắc là thế; nhưng lúc này em cảm thấy mình sẽ mất rất nhiều thời gian mới thấy chán được, nếu mọi thứ đều đáng yêu như ngày hôm nay. Mọi vật đều yêu tháng Sáu. Davy-boy, sao lại mang cái vẻ mặt tháng Mười Một sầu thảm ấy giữa mùa hoa nở thế này?”
Cậu nhóc mang tâm lý bi quan đáp: “Cháu chán ngấy cuộc đời này lắm rồi.”
“Mới mười tuổi mà thế á? Trời đất, đáng buồn thật đấy!”
Davy ra điều ra vẻ nghiêm túc: “Cháu không đùa đâu. Cháu đang chư—chư—chán nản”—cố gắng hết sức mới thốt ra được từ to tát đó.
Anne ngồi xuống cạnh cậu và hỏi: “Tại sao và vì thế nào?”
“Tại vì cái cô giáo mới đến hồi thầy Holmes ốm bắt cháu phải làm mười bài toán cho ngày thứ Hai. Cháu sẽ phải mất toi cả ngày mai để làm chúng. Thật chẳng công bằng chút nào khi phải làm việc vào ngày thứ Bảy. Milty Boulter bảo nó sẽ không làm, nhưng Marilla bảo cháu phải làm. Cháu chẳng thích cô Carson tí nào cả.”
Bà Rachel nghiêm khắc quở trách: “Đừng có nói về giáo viên của cháu như thế, Davy Keith. Cô Carson là một cô gái rất tốt. Con bé chẳng có chút tào lao nào cả.”
Anne bật cười: “Nghe chẳng hấp dẫn cho lắm nhỉ. Em lại thích những người có chút gì đó tếu táo cơ. Nhưng em có thiện cảm với cô Carson hơn chị đấy. Tối qua em thấy cô ấy ở buổi họp cầu nguyện, và cô ấy có đôi mắt trông không phải lúc nào cũng nghiêm nghị đâu. Nào, Davy-boy, hãy can đảm lên. ‘Ngày mai lại là một ngày mới’ và chị sẽ giúp em giải toán hết sức có thể. Đừng có lãng phí khoảnh khắc tuyệt vời giữa chập tối và đêm đen này chỉ vì lo lắng chuyện toán học.”
Davy tươi tỉnh lại, nói: “Vâng, cháu không lo nữa. Nếu chị giúp cháu làm toán thì cháu sẽ làm xong kịp giờ để đi câu với Milty. Cháu ước đám tang của bà cô Atossa diễn ra vào ngày mai thay vì hôm nay. Cháu muốn đi dự vì Milty bảo mẹ nó nói bà Atossa chắc chắn sẽ chồm dậy trong quan tài và nói những lời cay độc với những ai đến dự lễ chôn cất bà. Nhưng Marilla bảo là bà ấy không làm thế đâu.”
Bà Lynde trầm ngâm nói: “Con tội nghiệp Atossa nằm trong quan tài trông yên bình lắm chứ. Chưa bao giờ tôi thấy con bé trông dễ chịu đến thế, thế đấy. Chà, chẳng có mấy giọt nước mắt nào rơi vì bà ta đâu, linh hồn tội nghiệp ạ. Gia đình Elisha Wright mừng vì tống khứ được bà ta, và tôi phải nói rằng tôi chẳng trách họ một chút nào.”
Anne rùng mình bảo: “Em thấy thật là một điều kinh khủng khi giã từ cõi đời mà không để lại được một người nào đằng sau cảm thấy tiếc thương vì sự ra đi của mình.”
Bà Lynde quả quyết: “Chắc chắn là chẳng ai ngoài cha mẹ yêu thương con bé Atossa tội nghiệp đó, thậm chí cả chồng nó cũng không. Bà ấy là người vợ thứ tư của ông ta. Ông ta gần như đã thành thói quen lấy vợ. Ông ta chỉ sống thêm vài năm sau khi cưới bà ta. Bác sĩ bảo ông ta chết vì chứng khó tiêu, nhưng tôi thì luôn đinh ninh rằng ông ta chết vì cái lưỡi của con mụ Atossa, là thế đấy. Tội nghiệp, bà ta luôn biết mọi chuyện về hàng xóm láng giềng, nhưng lại chẳng bao giờ hiểu rõ về chính mình. Chà, đằng nào thì bà ta cũng đi rồi; và tôi đoán niềm vui tiếp theo sẽ là đám cưới của Diana.”
Anne ôm đầu gối thở dài, nhìn qua khoảng trống ở Rừng Ma Ánh sáng đang lấp lánh trong phòng Diana: “Nghĩ đến chuyện Diana sắp lấy chồng vừa buồn cười vừa đáng sợ làm sao.”
Bà Lynde quả quyết nói: “Tôi chẳng thấy có gì đáng sợ trong chuyện đó cả, khi con bé có một nơi chốn nương tựa quá tốt. Fred Wright có một trang trại tuyệt đẹp và nó là một thanh niên mẫu mực.”
Anne mỉm cười: “Anh ấy chắc chắn không phải là một thanh niên phóng khoáng, bạt mạng, ngổ ngáo mà Diana từng muốn kết hôn thuở nào. Fred cực kỳ tốt tính.”
“Đó mới chính là những gì nó nên có. Chẳng lẽ cô lại muốn Diana lấy một kẻ hư hỏng à? Hoặc tự mình đi lấy một kẻ như thế nhé?”
“Ồ, không ạ. Em không muốn lấy bất kỳ ai hư hỏng cả, nhưng em nghĩ em sẽ thích hơn nếu anh ấy có khả năng hư hỏng mà lại không làm thế. Đáng tiếc là Fred lại tốt một cách vô vọng.”
Marilla nói: “Hy vọng là rồi cháu sẽ khôn ngoan hơn.”
Marilla nói có phần cay đắng. Bà vô cùng thất vọng. Bà biết Anne đã từ chối Gilbert Blythe. Những lời bàn tán ở Avonlea xôn xao về sự thật đã bị lộ ra ngoài ấy, chẳng ai biết bằng cách nào. Có lẽ Charlie Sloane đã đoán mò rồi phao những phỏng đoán của mình thành sự thật. Có lẽ Diana đã lỡ miệng với Fred và Fred đã không kín miệng. Dù sao thì chuyện đó ai cũng biết; bà Blythe không còn hỏi Anne, dù trước mặt hay sau lưng, rằng liệu dạo này cô có nghe tin gì từ Gilbert không, mà lạnh lùng phớt lờ cô mỗi khi chạm mặt. Anne, vốn luôn quý mến người mẹ vui tính và trẻ trung của Gilbert, cảm thấy thầm đau lòng vì chuyện này. Marilla không nói gì; nhưng bà Lynde lại hay đả kích Anne về chuyện đó bằng những lời chua chát, cho đến khi một lời đồn đại mới lọt vào tai người phụ nữ đáng kính ấy — qua trung gian là mẹ của Moody Spurgeon MacPherson — rằng Anne lại có một “anh chàng theo đuổi” ở đại học, vừa giàu có, vừa đẹp trai lại vừa tốt tính. Kể từ đó bà Rachel ngậm miệng lại, dù trong thâm tâm bà vẫn ước gì Anne đã nhận lời Gilbert. Giàu có thì cũng tốt thật; nhưng ngay cả bà Rachel, dẫu là một người thực tế, cũng không coi đó là điều kiện tiên quyết duy nhất. Nếu Anne “thích” Chàng Trai Bí Lẩn Đẹp Trai kia hơn Gilbert thì chẳng còn gì để nói nữa; nhưng bà Rachel vô cùng sợ rằng Anne sẽ mắc sai lầm là kết hôn vì tiền. Marilla quá hiểu Anne nên không sợ điều này; nhưng cô cảm thấy có cái gì đó trong tạo hóa muôn loài đã trật đi một cách đáng buồn.
Bà Rachel ủ rũ nói: “Chuyện gì đến sẽ phải đến, và chuyện gì không nên đến đôi khi vẫn cứ xảy ra. Tôi không tài nào ngừng tin rằng chuyện đó sẽ xảy ra với trường hợp của Anne, nếu ơn trên không nhúng tay vào, thế đấy.” Bà Rachel thở dài. Bà sợ ơn trên sẽ không nhúng tay vào; và bà thì chẳng dám.
Anne đã đi lang thang xuống chỗ Suối Tiên và cuộn tròn mình giữa những đám dương xỉ dưới gốc cây bạch dương trắng lớn, nơi cô và Gilbert đã từng ngồi rất nhiều lần vào những mùa hè năm xưa. Anh đã quay lại làm việc ở tòa soạn báo khi kỳ nghỉ học kỳ kết thúc, và Avonlea có vẻ thật tẻ nhạt khi vắng bóng anh. Anh chưa từng viết thư cho cô, và Anne nhớ những bức thư không bao giờ đến đó. Tất nhiên, Roy vẫn viết thư tuần hai lần; những bức thư của anh là những áng văn chương tuyệt mỹ có thể đọc lên đầy hay ho trong một cuốn hồi ký hay tiểu thuyết tiểu sử. Anne cảm thấy mình càng yêu anh sâu sắc hơn khi đọc chúng; nhưng trái tim cô chưa bao giờ có nhịp đập kỳ lạ, dồn dập và nhói đau khi nhìn thấy thư của anh như cái ngày mà bà Hiram Sloane đưa cho cô một phong bì đề địa chỉ bằng nét chữ đứng màu đen của Gilbert. Anne đã vội vã chạy về căn phòng gác mái hướng đông và hào hứng mở ra — để rồi nhận ra đó chỉ là một bản sao đánh máy của một báo cáo hội sinh viên nào đó — “chỉ có thế mà thôi.” Anne ném tờ giấy vô hại ấy qua một bên phòng và ngồi xuống viết cho Roy một bức thư đặc biệt hay ho.
Chỉ còn năm ngày nữa là đến lễ cưới của Diana. Ngôi nhà xám ở Orchard Slope đang tất bật với chuyện nướng bánh, nấu nướng và hầm ninh, bởi vì đây sẽ là một đám cưới lớn mang phong cách truyền thống. Tất nhiên Anne sẽ làm phù dâu, như đã sắp đặt từ hồi họ mười hai tuổi, và Gilbert sẽ từ Kingsport đến để làm phù rôm. Anne đang tận hưởng sự hào hứng của các khâu chuẩn bị khác nhau, nhưng ẩn sâu dưới lớp vỏ bọc đó là một nỗi đau thắt trong lòng. Theo một nghĩa nào đó, cô đang mất đi người bạn thân thiết cũ của mình; ngôi nhà mới của Diana sẽ cách Green Gables hai dặm, và sự gắn bó keo sơn thuở nào sẽ không bao giờ còn thuộc về họ được nữa. Anne ngước nhìn ánh đèn phòng Diana và nghĩ về việc nó đã từng vẫy gọi cô suốt bao nhiêu năm trời; nhưng chẳng bao lâu nữa nó sẽ không còn tỏa sáng qua những buổi chạng vạng mùa hè này nữa. Hai giọt nước mắt lớn, nhói đau ứa ra trong đôi mắt xám của cô.
Cô thầm nghĩ: “Ôi, thật kinh khủng làm sao khi con người ta cứ phải lớn lên — rồi kết hôn — rồi thay đổi!”