Cùng buổi trưa hôm đó, tôi nhập bọn cùng những Tiết Độ Sư khác bên bờ hồ và kêu gọi năng lượng của mình cho họ thấy lần đầu tiên. Tôi phát ra một luồng sáng lung linh trên mặt nước và để nó sóng đôi cùng những đợt sóng mà Ivo đã triệu hồi. Tôi vẫn chưa thể kiểm soát các mặt khác được, nhưng tôi vẫn có thể xoay xở. Thực tế là mọi chuyện đều dễ dàng.
Bỗng nhiên mọi thứ đều trở nên dễ dàng. Tôi không còn quá mệt mỏi hay kiệt sức khi leo lên cầu thang. Tôi ngủ ngon không mộng mị mỗi đêm và tỉnh dậy với tinh thần sảng khoái. Thức ăn lại là một khám phá khác: những chén cháo đầy đường và kem, những dĩa cá chiên bơ, những trái mận chín mọng và đào từ nhà kính, hương vị thanh đắng của kvas. Dường như giây phút ấy trong căn nhà của Baghra chính là hơi thở đầu tiên của tôi, và tôi đã tỉnh thức để sống một cuộc đời mới.
Vì không một Grisha nào khác biết rằng tôi đã gặp rắc rối với việc triệu hồi như thế nào nên họ đều có chút thắc mắc trước thay đổi này. Tôi không đưa ra lời giải thích nào cả, và Genya kể với tôi một trong số những tin đồn khá nực cười.
“Marie và Ivo đoán rằng lũ người Fjerda đã tiêm vào người cô một loại mầm bệnh gì đó.”
“Tôi tưởng Grisha không mắc bệnh.”
“Chính xác!” cô ấy nói. “Thế cho nên nó hẳn phải rất nghiêm trọng. Nhưng có vẻ như Hắc Y đã chữa bệnh cho cô bằng cách cho cô uống máu ngài ấy và một mẩu kim cương.”
“Thế thì ghê quá,” tôi cười.
“Ồ vậy đã là gì. Zoya thậm chí còn cố loan tin rằng cô bị ma ám nữa cơ.”
Tôi cười to hơn nữa.
Những bài học của tôi với Baghra vẫn còn khó khăn và tôi không bao giờ thật sự thích chúng. Nhưng tôi tận hưởng mọi cơ hội được sử dụng năng lực của mình và cảm thấy bản thân đang tiến bộ từng ngày. Ban đầu, tôi đã rất sợ mỗi lần chuẩn bị kêu gọi ánh sáng, sợ rằng nó sẽ không còn ở đó nữa và tôi sẽ quay lại khởi điểm ban đầu.
“Nó không phải là thứ tách biệt với cô,” Baghra gắt lên. “Nó không phải là một con thú lẩn tránh cô hoặc chọn xem có nên đến hay không mỗi lần được gọi. Cô có yêu cầu tim mình đập hay phổi mình thở không? Năng lượng của cô phục vụ cô vì đó là bổn phận của nó, vì nó không thể nào không phục vụ cô.”
Thi thoảng tôi cảm thấy có gì ẩn sau từng lời Baghra nói, một tầng nghĩa thứ hai mà bà ấy muốn tôi thấu hiểu. Nhưng công việc tôi đang làm đã đủ khó khăn rồi, còn thời gian đâu mà đoán mò những bí mật của một bà lão chua chát chứ.
Bà ấy rất khắc nghiệt với tôi, ép buộc tôi phải mở rộng tầm với và sự kiểm soát của mình. Bà ấy dạy tôi phải tập trung năng lượng vào những loạt sáng ngắn, những luồng sáng sắc nhọn bùng lên cùng hơi nóng và những tầng thác sáng bảo hộ. Bà ấy bắt tôi phải triệu hồi nguồn sáng lần nữa, và lần nữa, và lần nữa, cho đến khi tôi không cần phải tìm đến nó nữa. Bà ấy bắt tôi phải đến nhà của mình vào buổi tối để luyện tập, dù chuyện tìm được bất kì nguồn sáng nào để triệu hồi vào thời gian đó là bất khả thi với tôi. Khi tôi cuối cùng cũng tạo được một tia sáng yếu ớt một cách đầy tự hào, bà ấy lại gõ gậy lên sàn và la lên, “Vẫn chưa được!”
“Tôi đang cố hết sức rồi,” tôi bực dọc lẩm bẩm.
“Sai!” bà ấy quát. “Cô nghĩ cả thế giới quan tâm liệu cô có cố hết sức hay không sao? Làm lại lần nữa và làm cho đúng vào.”
Những bài luyện tập của tôi với Botkin lại là một ngạc nhiên lớn. Ngày nhỏ tôi đã từng chạy chơi cùng Mal trong rừng và đồng cỏ, nhưng tôi chưa bao giờ có thể đuổi kịp cậu ấy. Người tôi lúc nào cũng gầy gò và ốm yếu, lại rất dễ kiệt sức. Nhưng khi tôi ăn ngủ điều độ lần đầu tiên trong đời, tất cả những điều đó đã thay đổi. Botkin bắt tôi trải qua những trận đấu tay đôi mạnh bạo và những đường chạy dường như dài vô tận xuyên khắp khuôn viên cung điện, nhưng tôi nhận ra bản thân cũng thích thú với một vài thử thách đó. Tôi muốn tìm hiểu xem thân thể mạnh khỏe và mới mẻ này có thể làm gì.
Tôi không nghĩ rằng mình có thể đánh thắng người thầy từng là lính đánh thuê này, nhưng những Sáng Chế Gia đã giúp chúng tôi ngay cả trên mặt trận. Họ phát minh cho tôi một đôi găng tay da hở ngón được viền bằng những mảnh kính nhỏ - những miếng thủy tinh bí ẩn David đã cho tôi thấy vào ngày đầu tiên trong xưởng thủ côngVới một cái lắc tay, tôi có thể trượt một mảnh kính vào giữa kẽ tay mình, và, với sự cho phép của Botkin, tôi tập phát ra một luồng sáng phản chiếu qua gương và xuyên thẳng vào mắt đối thủ. Tôi tập luyện với đôi găng ấy cho đến khi chúng trở nên tự nhiên trên bàn tay, như phần nối dài của từng ngón.
Botkin vẫn cộc cằn và khó tính, và ông tranh thủ mọi cơ hội để gọi tôi là đồ vô dụng, nhưng thi thoảng tôi nghĩ rằng mình đã thấy được sự công nhận thoáng xuất hiện trên khuôn mặt từng trải của ông.
Vào khoảng cuối mùa đông, Boltkin kéo tôi qua một bên sau bài luyện tập dài mà tôi đã xoay xở đánh trúng sườn của ông ta (và đã được đáp trả với cú đập mạnh vào cằm).
“Đây,” ông nói và đưa tôi một con dao với vỏ bọc bằng da và thép. “Luôn giữ nó bên mình đấy.”
Tôi nhận ra với một cú sốc, rằng đó không phải một con dao thông thường. Đó là thép của Grisha. “Cảm ơn thầy,” tôi đáp lại.
“Không phải ‘cảm ơn thầy’,” ông nói và gõ nhẹ lên vết sẹo xấu xí trên cổ họng mình. “Cô nhóc đã giành được mảnh thép đó.”
Mùa đông trở nên khác biệt với tôi hơn bao giờ. Tôi dành những những buổi trưa hửng nắng trượt băng trên hồ hoặc cưỡi xe trượt tuyết quanh khuôn viên cung điện với những Tiết Độ Sư khác. Những buổi tối tuyết rơi trong đại sảnh có mái vòm, chúng tôi tụ tập quanh bếp lò lát đá, uống kvas và nhét đồ ngọt đầy bụng. Chúng tôi ăn mừng ngày lễ Thánh Nikolai với những chén hoành thánh lớn và món kutya được làm từ mật ong và cây thuốc phiện. Vài người Grisha khác đã rời cung điện để đi du ngoạn đến những vùng nông thôn phủ tuyết quanh Os Alta bằng xe trượt tuyết hoặc xe chó kéo, nhưng vì lý do an ninh, tôi vẫn bị giữ lại ở cung điện.
Tôi không phiền lòng về việc đó. Giờ đây tôi đã cảm thấy thoải mái hơn với những Tiết Độ Sư, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ thực sự cảm thấy thoải mái khi ở cạnh Marie và Nadia bao giờ. Tôi cảm thấy vui hơn rất nhiều khi ngồi trong phòng cùng Genya, uống trà và tán chuyện bên đống lửa. Tôi thích nghe tất cả những chuyện tầm phào trong cung, và câu chuyện về những buổi tiệc xa hoa ở Đại Điện còn hay ho hơn nữa. Câu chuyện yêu thích của tôi là về chiếc bánh khổng lồ mà một Bá tước đã dâng cho nhà vua, một người lùn đã nhảy ra khỏi nó để trao tặng tsaritsa một đóa hoa lưu ly.
Vào cuối mùa, Đức vua và Hoàng hậu sẽ tổ chức một buổi đại tiệc mùa đông cuối cùng mà tất cả các Grisha đều tham dự. Genya tuyên bố đó sẽ là bữa tiệc xa hoa nhất. Tất cả quan đại thần và gia đình quý tộc sẽ ở đó, cùng với những anh hùng quân đội, sứ thần ngoại quốc, và tsarevich, con trai cả của nhà vua và là người thừa kế ngai vàng. Tôi đã từng nhìn thấy Hoàng Thái Tử cưỡi một con ngựa thiến dạo quanh khuôn viên cung điện. Anh ta trông cũng không đến nỗi nào nhưng lại thừa hưởng cái cằm bạc nhược của nhà vua và đôi mắt lờ đờ nửa nhắm nửa mở, khiến người ta không biết được liệu anh ta đang rất mệt hay chỉ đang vô cùng chán nản.
“Hẳn là đang say rượu,” Genya nói trong lúc khuấy trà. “Anh ta dành hết thời gian để đi săn, cưỡi ngựa và uống rượu. Khiến Hoàng hậu tức điên lên.”
“Chà, Ravka đang chiến tranh. Anh ta nên lo lắng hơn về tình trạng đất nước.”
“Ồ không, mụ ta không quan tâm đến việc đó. Mụ ta chỉ muốn anh ta tìm lấy một cô vợ thay vì đi lang thang khắp thế giới và đổ cả núi vàng vào việc mua ngựa.”
“Vậy người còn lại thì sao?” Tôi hỏi. Tôi biết Đức vua và Hoàng hậu còn một người con thứ nữa, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy anh ta.
“Sobachka sao?”
“Cô không thể gọi hoàng tử là ‘cún con’ được,” tôi cười to.
“Những người khác đều gọi anh ta như thế.” Cô ấy thấp giọng xuống. “Và có tin đồn rằng dòng máu của anh ta không hẳn thuộc về hoàng gia hoàn toàn đâu.” Tôi suýt đã sặc trà. “Không phải chứ!”
“Chỉ mỗi Hoàng hậu biết rõ thôi. Dù sau anh ta cũng là con cừu đen trong bầy rồi. Anh ta kiên quyết thực hiện nghĩa vụ quân sự trong bộ binh, sau đó lại học nghề đúc súng.”
“Và không bao giờ có mặt ở triều đình?”
“Nhiều năm nay thì vậy. Tôi nghĩ anh ta đang học đóng tàu hay thứ gì tầm thường đại loại ở đâu đó. Anh ta và David hẳn sẽ rất hợp nhau,” cô ấy chua chát thêm vào.
“Hai người thường hay nói về những gì vậy?” tôi tò mò hỏi. Tôi vẫn không hiểu lắm về sự say mê của Genya với anh chàng Sáng Chế Gia ấy.
Cô ấy thở dài. “Như thường lệ. Cuộc sống. Tình yêu. Điểm nóng chảy của quặng sắt.” Cô ấy vấn một lọn tóc đỏ quanh ngón tay, và hai má ửng sắc hồng xinh đẹp. “Anh ấy thật ra khá hài hước nếu chịu thả lỏng bản thân.”
“Thật không?”
Genya nhún vai. “Tôi nghĩ thế.”
Tôi vỗ lên tay cô ấy động viên. “Rồi anh ta sẽ đáp lại cô thôi. Anh ta chỉ xấu hổ vậy mà.”
“Có lẽ tôi nên nằm dài ra trên một cái bàn trong xưởng làm việc và chờ xem liệu anh ấy có hàn thứ gì lên người tôi không.”
“Tôi nghĩ đó là cách những chuyện tình vĩ đại bắt đầu đấy.”
Cô ấy cười to, và tôi chợt cảm thấy một đợt sóng tội lỗi trào dâng. Genya nói về David thật dễ dàng, nhưng tôi chưa bao giờ tâm sự với cô ấy về Mal.
Bởi vì mày chẳng có gì để tâm sự cả, tôi nghiêm khắc nhắc nhở bản thân và cho thêm đường vào trà.
Một buổi trưa tĩnh lặng nọ, khi những Grisha khác đã táo bạo rời khỏi Os Alta, Genya đã thuyết phục tôi lẻn vào Đại Điện, và chúng tôi dành hàng giờ để lục lọi quần áo và giày dép trong phòng thay đồ của Hoàng hậu. Genya kiên quyết bắt tôi ướm thử một chiếc váy lụa màu hồng nhạt được điểm xuyết bằng ngọc trai, và khi cô ấy buộc chặt dây lưng và đẩy tôi ra trước một tấm gương lớn bằng vàng, tôi đã phải nhìn mình đến hai lần.
Tôi đã học cách tránh nhìn vào gương. Chúng dường như không bao giờ phản chiếu những gì tôi muốn thấy. Nhưng người con gái đang đứng cạnh
Genya trong gương là một người lạ. Cô ấy có hai gò má ửng hồng, mái tóc óng ả và...đường cong cơ thể. Tôi có thể ngắm nghía cô ấy hàng giờ liền. Tôi chợt mong người bạn cũ Mikhael có thể nhìn thấy tôi lúc này. Ừ, là “Que tăm” đây, tôi tự mãn nghĩ.
Genya bắt gặp ánh mắt tôi trong gương và cười toe.
“Có phải đây là lý do cô kéo tôi đến đây không?” tôi ngờ vực hỏi.
“Cô muốn nói gì cơ?”
“Cô biết tôi muốn nói gì mà.”
“Tôi chỉ nghĩ rằng cô có thể muốn nhìn rõ bản thân, thế thôi.”
Tôi nuốt xuống nỗi xấu hổ đang dâng lên trong họng và bất ngờ ôm lấy cô ấy. “Cảm ơn,” tôi thì thầm. Và tôi đẩy nhẹ cô ấy ra. “Giờ thì tránh ra nào. Thật khó để cảm thấy xinh đẹp khi cô cứ đứng cạnh tôi như thế nhé.”
Chúng tôi dành cả buổi trưa còn lại để mặc thử váy áo và trân trối nhìn hình phản chiếu của cả hai trong gương - đây vốn là hai trò mà tôi tưởng rằng mình sẽ không hứng thú bao giờ. Chúng tôi quên cả giờ giấc, và Genya phải giúp tôi chui ra khỏi một chiếc váy dạ hội màu xanh biển rồi mặc lại bộ kefta của mình để tôi có thể nhanh chóng chạy về phía bờ hồ cho buổi học tối với Baghra. Tôi đã chạy hết tốc lực nhưng vẫn đến trễ, và bà ấy giận điên lên.
Những buổi học tối với Baghra luôn là phần khó khăn nhất, nhưng hôm đó bà lại đặc biệt nghiêm khắc với tôi.
“Phải kiềm chế!” bà ấy gắt lên khi luồng sáng yếu ớt tôi vừa triệu hồi chớp nháy trên bờ hồ. “Tâm trí cô để đâu vậy hả?”
Để ở bữa tối, tôi nghĩ thầm nhưng không nói ra. Genya và tôi quá mải mê với tủ quần áo của Hoàng hậu đến quên cả ăn, và dạ dày tôi đang sôi lên.
Tôi tập trung và luồng sáng bừng lên rực rỡ hơn, vươn ra bao phủ khắp mặt hồ đóng băng.
“Tốt hơn rồi đấy,” bà ấy lên tiếng. “Hãy để ánh sáng làm việc thay cho cô. Tương đồng kêu gọi tương đồng.”
Tôi cố thư giãn và để ánh sáng tự kêu gọi bản thân nó. Ngạc nhiên thay, chúng dâng lên từ mặt băng, chiếu sáng ốc đảo nhỏ ở giữa hồ.
“Hơn nữa!” Baghra ra lệnh. “Điều gì cản trở cô nào?”
Tôi đào sâu hơn và vòng tròn ánh sáng dâng lên cao hơn ốc đảo, bao bọc cả mặt hồ và ngôi trường ở bờ bên kia trong ánh sáng lấp lánh. Mặc dù tuyết vẫn còn đọng trên mặt đất nhưng không khí xung quanh chúng tôi lại bừng sáng và oi nồng với cái nóng mùa hè. Điều đó rất đáng phấn khởi, nhưng tôi có thể cảm thấy mình đang dần kiệt sức, cơ thể gần đạt tới cực hạn năng lực của bản thân.
“Hơn nữa!” Baghra la lên.
“Tôi không thể!” tôi phản đối.
“Hơn nữa!” bà ấy lặp lại, và có thứ gì thúc giục trong giọng nói ấy nghe như một tiếng chuông báo động trong tôi khiến sức tập trung của tôi bị dao động. Luồng sáng chập chờn và dần tuột khỏi tầm tay tôi. Tôi nhoài người với theo nhưng nó đã mau chóng thoát li khỏi tôi mà lao về phía ngôi trường, rồi đến ốc đảo, và bờ hồ lại quay về với bóng tối.
“Vẫn không đủ.” Giọng của anh ta khiến tôi giật bắn người. Hắc Y xuất hiện từ trong bóng đêm và tiến về lối đi được thắp sáng.
“Có lẽ là ổn rồi,” Baghra nói. “Ngài đã thấy cô ta mạnh đến thế nào rồi. Ta thậm chí còn chẳng phải giúp sức. Khi xưa đưa cho cô ta một bộ khuếch đại làm gì được thế.”
Hắc Y lắc đầu. “Cô ấy sẽ có nhánh gạc.”
Baghra cau có. “Ngài là thằng ngốc.”
“Ta còn bị gọi bằng nhiều từ tệ hơn nữa kìa. Thường là bởi bà.”
“Điều này thật điên rồ. Ngài phải nghĩ lại.” Khuôn mặt của Hắc Y trở nên lạnh lẽo. “Ta phải làm thế sao? Bà không thể ra lệnh cho ta nữa, mụ già. Ta biết mình phải làm gì.”
“Thần có thể khiến ngài ngạc nhiên đấy,” tôi chen vào. Hắc Y và Baghra quay lại nhìn tôi, giống như họ đã quên mất tôi vẫn còn ở đó. “Baghra nói đúng. Thần biết thần có thể làm tốt hơn. Thần có thể chăm chỉ hơn.”
“Cô đã ở trên Vực Tối, Alina. Cô biết chúng ta phải đối mặt với những gì mà.”
Tôi đột nhiên trở nên bướng bỉnh. “Thần biết là mình đang mạnh lên từng ngày. Nếu ngài cho thần một cơ hội...”
Một lần nữa, Hắc Y lại lắc đầu. “Ta không thể mạo hiểm được. Nhất là khi tương lai của Ravka đang lâm nguy.”
“Thần hiểu rồi,” tôi buông xuôi.
“Thật sao?”
“Vâng,” tôi nói. “Không có nhánh gạc của con Morozova, thần chỉ là một đứa vô dụng.”
“À, vậy ra cô ra không ngu ngốc như vẻ ngoài đấy,” Baghra mỉa mai.
“Để chúng ta một mình,” Hắc Y nói với vẻ tức giận đến kinh ngạc.
“Chúng ta đều phải trả giá vì tính tự cao của mình, nhóc à.”
“Ta sẽ không lặp lại lần nữa đâu.”
Baghra chán ghét trừng mắt nhìn anh ta, rồi quay bước tiến về phía lối đi dẫn về căn nhà bằng đá của mình.
Khi cánh cửa đóng sầm lại, Hắc Y chăm chú quan sát tôi dưới ánh đèn. “Trông cô khỏe đấy,” anh ta bảo.
“Cảm ơn ngài,” tôi lẩm bẩm, mắt lảng về phía khác. Có lẽ Genya nên dạy tôi cách đón nhận lời khen.
“Nếu cô cũng về Tiểu Điện thì ta sẽ đi cùng cô,” anh ta đề nghị.
Chúng tôi im lặng rảo bộ dọc bờ hồ rồi đi qua những căn nhà bằng đá bỏ hoang một lúc lâu. Bên kia mặt băng, tôi có thể thấy được ánh đèn từ phía ngôi trường.
Cuối cùng tôi phải buộc miệng hỏi. “Đã có tin tức gì chưa? Về nhánh gạc của con hươu?”
Anh ta mím chặt môi. “Chưa,” anh ta nói. “Người của ta nghĩ rằng bầy hươu có lẽ đã vượt qua biên giới Fjerda.”
“Ồ,” tôi nói, cố gắng che giấu nỗi thất vọng của mình.
Đột nhiên anh ta dừng lại. “Ta không nghĩ cô vô dụng, Alina.”
“Thần biết,” tôi nói với mũi giày của mình. “Không vô dụng. Chỉ không hoàn toàn có ích thôi.”
“Không một Grisha nào đủ mạnh để đối diện với Vực Tối. Kể cả ta.”
“Thần biết rồi.”
“Nhưng cô không thích chấp nhận điều đó.”
“Thần nên như thế sao? Nếu thần không thể giúp ngài phá hủy vùng Vực thì thần còn dùng được vào việc gì nữa? Những chuyến dã ngoại nửa đêm sao? Hay là giữ ấm chân ngài vào mùa đông?”
Môi anh ta cong lên thành nụ cười nửa miệng. “Những chuyến dã ngoại nửa đêm?”
Tôi không thể nào cười đáp lại. “Botkin bảo với thần rằng thần đã giành được mảnh thép của Grisha. Không phải thần không biết ơn về tất cả những điều này. Thần có, thật sự đấy. Nhưng thần không có cảm giác rằng mình đã giành được bất kì thứ gì.”
Anh ta thở dài. “Ta xin lỗi, Alina. Ta đã yêu cầu cô phải tin ta và ta vẫn chưa chứng minh được gì.” Nhìn anh ta mệt mỏi đến mức tôi cảm thấy hối hận ngay lập tức. “Không phải là...”
“Đúng vậy.” Anh ta hít thêm một hơn sâu và đưa tay xoa cổ. “Có lẽ Baghra đã đúng, dù ta rất ghét công nhận điều đó.”
Tôi nghiêng đầu qua một bên. “Ngài chưa bao giờ tỏ ra bối rối vì bất kì điều gì. Vậy tại sao ngài lại phiền lòng vì bà ấy đến thế?”
“Ta không biết.”
“Chà, thần nghĩ bà ấy tốt cho ngài đấy.”
Anh ta ngạc nhiên hỏi lại. “Tại sao?”
“Vì bà ấy là người duy nhất ở đây mà không sợ hoặc không liên tục cố gắng lấy lòng ngài.”
“Cô đang cố lấy lòng ta sao?”
“Tất nhiên rồi,” tôi cười to.
“Cô luôn nói những gì mình nghĩ hay sao?”
“Thường thì không đâu.”
Rồi anh ta cũng cười theo, và tôi nhớ rằng mình thích âm thanh đó thế nào. “Vậy ta đoán rằng mình là một người may mắn,” anh ta nói.
“Nhân tiện, năng lực của Baghra là gì vậy?” Tôi nói khi nghĩ đến điều đó lần đầu tiên. Bà ấy cũng là một bộ khuếch đại sống như Hắc Y, nhưng anh ta còn có năng lực khác.
“Ta không chắc,” anh ta nói. “Ta nghĩ bà ấy đã từng là một Tiết Hải Sư. Không ai ở đây sống đủ lâu để nhớ được cả.” Anh ta cúi xuống nhìn tôi. Khí trời lạnh lẽo khiến hai má anh ta hơi hồng lên, và ánh đèn xung quanh khiến đôi mắt xám của anh bừng sáng. “Alina, nếu ta nói với cô rằng ta vẫn tin chúng ta có thể tìm thấy nhánh gạc hươu thì cô có nghĩ ta điên rồ hay không?”
“Sao ngài lại quan tâm thần nghĩ gì chứ?”
Anh ta nhìn bối rối thật sự. “Ta không biết,” anh ta nói. “Nhưng ta có quan tâm.”
Và rồi anh ta hôn tôi.
Chuyện đó xảy ra bất ngờ đến mức tôi không có thời gian để phản ứng. Một giây trước tôi vẫn đang nhìn vào đôi mắt xám màu đá thạch anh ấy, giây tiếp theo môi anh ta đã áp sát môi tôi. Tôi nhận ra cảm giác kiên định quen thuộc tan chảy trong cơ thể, toàn thân như hòa nhịp với sức nóng đột ngột và trái tim nhảy loạn một điệu nhảy hoảng hốt. Rồi, cũng bất ngờ như thế, anh ta lùi lại. Anh ta nhìn ngạc nhiên không kém gì tôi.
“Ta không có ý...,” anh ta nói.
Ngay lúc đó, chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân và Ivan rẽ vào góc. Anh ta cúi chào Hắc Y rồi đến tôi, nhưng tôi bắt gặp cái nhếch mép trên môi anh ta.
“Lão Tư Tế đang mất kiên nhẫn,” anh ta báo cáo.
“Một trong những điểm kém hấp dẫn của lão ta mà,” Hắc Y đáp lại trôi chảy. Vẻ ngạc nhiên đã hoàn toàn biến mất trên mặt anh ta.
Anh ta cúi chào tôi một cách hoàn toàn bình tĩnh rồi cùng Ivan rời đi, để lại tôi đứng trong trời tuyết mà không buồn liếc mắt thêm cái nào.
Tôi đứng đó một lúc lâu rồi quay về Tiểu Điện trong ngơ ngẩn. Chuyện gì vừa mới xảy ra vậy? Tôi đưa tay chạm lên môi. Hắc Y thật sự vừa mới hôn mình sao? Tôi tránh khỏi đại sảnh có mái vòm và đi thẳng về phòng mình, nhưng khi đã đến nơi, tôi không biết phải làm gì nữa. Tôi rung chuông gọi bữa tối và ngồi vọc vạch thức ăn. Tôi tha thiết muốn nói chuyện với Genya, nhưng cô ấy ngủ ở Đại Điện mỗi tối, và tôi không có can đảm để đi tìm cô ấy. Cuối cùng tôi bỏ cuộc và quyết định đi xuống đại sảnh.
Marie và Nadia vừa đi dã ngoại về và đang ngồi uống trà bên đống lửa. Tôi khá sốc khi nhìn thấy Sergei ngồi cạnh Marie và vòng tay ôm lấy cánh tay cô ta. Có lẽ chuyện gì đó đang diễn ra, tôi ngạc nhiên thầm nghĩ.
Tôi ngồi uống trà cùng bọn họ, hỏi han về ngày của họ và chuyến đi đến vùng nông thôn, nhưng tôi khó lòng tập trung vào cuộc đối thoại. Ý nghĩ của tôi cứ mãi quẩn quanh với cảm giác làn môi của Hắc Y áp lên môi mình và dáng hình của anh ta khi đứng dưới ánh đèn, với hơi thở phả ra thành cụm khói trắng trong trời đêm lạnh lẽo và biểu cảm sững sờ hiện rõ trên khuôn mặt.
Tôi biết mình sẽ không thể nào ngủ được, nên khi Marie đề nghị cả bọn đi đến banya, tôi quyết định tham gia. Ana Kuya luôn răn đe chúng tôi rằng banya là một trò hoang dại, một cái cớ để thường dân uống kvas và đắm chìm trong những hành động đầy ham muốn. Nhưng tôi bắt đầu nhận ra rằng bà Ana già cỗi chỉ ra vẻ biết tuốt thế thôi.
Tôi ngồi xông hơi nước nóng đến khi không còn chịu được rồi reo lên và lao mình xuống tuyết cùng với những người khác, trước khi quay vào trong và lặp lại những hành động ấy lần nữa. Tôi ở lại đến quá nửa đêm, cười nói và thở dốc trong lúc cố thông suốt đầu óc.
Khi tôi lảo đảo trở về phòng, tôi ngã xuống giường, da dẻ ẩm ướt và hồng hào, tóc ướt đẫm rối bù. Tôi cảm thấy hứng khởi và nhẹ hẫng, nhưng tâm trí vẫn quay vòng. Tôi tập trung triệu hồi một luồng sáng ấm áp, cho nó nhảy nhót trên trần nhà diêm dúa, để cho năng lượng kiên định làm dịu tinh thần. Rồi kí ức về nụ hôn của Hắc Y thổi qua người tôi, lay động sức tập trung và phân tán tư tưởng, khiến trái tim tôi tuột dốc như một con chim lao xuống từ trên cao vì những luồng gió hoang mang.
Ánh sáng tan ra, để lại mình tôi trong bóng tối.