Bình minh đang dần hé dạng trên khắp Kribirsk trong lúc Ivan đưa tôi trở lại lều của mình. Tôi ngồi xuống giường và nhìn căn phòng một cách vô hồn. Chân tay tôi nặng nề đến lạ, tâm trí là một bức màn trắng xóa. Tôi vẫn ngồi yên như thế khi Genya đến.
Cô ấy giúp tôi rửa mặt và thay bộ kefta màu đen mà tôi đã mặc hôm đại tiệc mùa đông. Tôi nhìn xuống lớp vải lụa và nghĩ đến chuyện xé tan nó, nhưng không hiểu sao tôi chẳng thể nào cử động được. Hai tay tôi buông thõng bất động ở hai bên.
Genya đẩy tôi ngồi xuống chiếc ghế được sơn vẽ. Tôi ngồi yên trong lúc cô ấy làm tóc cho tôi và quấn thành từng lọn trên đầu rồi dùng những chiếc kẹp bằng vàng để cố định chúng, làm như thế càng khiến cho chiếc vòng cổ từ con hươu Morozova nổi bật hơn.
Khi đã xong việc, cô ấy áp má mình lên má tôi và dẫn tôi đến chỗ Ivan, đặt tay tôi lên cánh tay anh ta giống như một cô dâu. Chúng tôi không nói với nhau lời nào.
Ivan đưa tôi đến lều của Grisha, nơi tôi sẽ ở đứng bên cạnh Hắc Y. Tôi biết bạn bè đang dõi theo tôi, thầm thì tự hỏi chuyện gì đang diễn ra. Hẳn là họ nghĩ rằng tôi đang lo lắng về chuyện tiến vào vùng Vực. Họ sai rồi. Tôi chẳng lo lắng hay hoảng sợ gì cả. Tôi không còn cảm giác nào nữa rồi.
Những Grisha đi thành hàng theo sau chúng tôi như một đám rước để đến chỗ xưởng đóng tàu. Ở nơi đó, chỉ vài người được chọn mới được phép lên con tàu lướt cát. Nó lớn hơn những gì tôi từng thấy và được trang bị ba cánh buồm cỡ đại có vẽ hình gia huy của Hắc Y. Tôi nhìn lướt qua đám đông gồm những binh sĩ và Grisha ở trên tàu. Tôi biết Mal đang ở đâu đó trên boong tàu, nhưng tôi không thể thấy cậu ấy.
Hắc Y và tôi được hộ tống đến chỗ mũi thuyền, nơi tôi được giới thiệu với một nhóm đàn ông ăn mặc rất cầu kì, râu vàng và mắt xanh biếc. Tôi giật mình nhận ra họ là những sứ thần nước Fjerda. Bên cạnh họ, một đại biểu người Shu Han đang đứng quan sát trong trang phục bằng lụa đỏ, và cạnh đó là một nhóm thương gia người Kerch mặc áo choàng ngắn cùng tay áo phồng dạng quả chuông khá kì lạ. Một phái viên mặc đồng phục quân đội đang đứng cùng họ, khăn quàng màu xanh nhạt của ông ta có hình đôi chim đại bàng, khuôn mặt từng trải khoác lên biểu cảm nghiêm nghị.
Tôi tò mò quan sát họ. Hẳn đây là lý do Hắc Y phải dời lại chuyến đi đến Vực Tối. Anh ta cần thời gian để tập họp những khán giả thích hợp, những nhân chứng xác minh cho năng lực vừa mới khai phá của anh ta. Nhưng anh ta muốn đẩy chuyện này tới đâu? Một linh cảm không lành chợt dấy lên trong tôi, phá tan nỗi chết lặng thân thuộc đã kiềm hãm tôi cả buổi sáng.
Con tàu rung lên và bắt đầu trượt trên bãi cỏ rồi tiến vào vùng sương đen đáng sợ của Vực. Ba Tiết Độ Sư giơ tay lên và con tàu vĩ đại lao về phía trước, buồm căng tràn gió.
Lần đầu tiên tiến vào Vực, tôi đã sợ hãi bóng tối và cái chết của bản thân. Giờ đây, bóng tối chẳng còn là gì với tôi, và tôi biết rằng sớm thôi, cái chết sẽ giống như một món quà được ban tặng. Tôi luôn biết rằng mình sẽ phải trở về Hư Hải, nhưng trong lúc quay đầu nhìn lại, tôi nhận ra phần nào đó trong tâm trí đã từng mong chờ điều đó. Tôi từng có lúc đón nhận cơ hội để thể hiện bản thân và - tôi co rúm người khi nghĩ đến đây - làm Hắc Y hài lòng. Tôi từng mơ về giây phút này, được đứng bên cạnh anh ta. Tôi từng muốn tin vào số mệnh được anh ta định sẵn, rằng đứa trẻ mồ côi không ai mong muốn sẽ thay đổi cả thế giới và được tung hô vì điều đó.
Hắc Y nhìn về phía trước, khắp người tỏa ra khí chất tự tin và bình thản. Mặt trời nhập nhòe và dần khuất xa khỏi tầm mắt. Giây lát sau, chúng tôi đã ở trong bóng tối.
Chúng tôi trôi đi trong màn đêm mù mịt một lúc lâu, những Tiết Độ Sư lèo lái đoàn tàu lướt trên cát đi về phía trước.
Và rồi, giọng của Hắc Y vang lên. “Bắn.”
Những đám mây lớn rực lửa phóng ra từ những Tiết Hỏa Sư từ phía hai bên mạn tàu, thắp sáng trời đêm trong thoáng chốc. Những sứ thần và kể cả binh sĩ xung quanh tôi xoay trở lo lắng.
Hắc Y đang thông báo vị trí của chúng tôi, trực tiếp mời gọi bầy volcra tiến đến.
Không cần đợi quá lâu để chúng đáp lại, và cơn chấn động chạy dọc sống lưng khi tôi nghe thấy tiếng đập cánh vọng lại từ phía xa. Tôi nhận ra nỗi sợ hãi đang lan đến những hành khách trên tàu và nghe thấy những người Fjerda bắt đầu rì rầm cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ. Trong ánh lửa Grisha sáng bừng, tôi nhìn thấy bóng dáng lờ mờ của những thân hình đen tối đang bay về phía đoàn tàu. Tiếng gào của lũ volcra xé tan không khí.
Binh lính với lấy súng trường của mình. Ai đó bắt đầu than khóc. Nhưng Hắc Y vẫn tiếp tục chờ bầy volcra đến gần hơn nữa.
Baghra đã nói rằng lũ volcra ngày xưa từng là đàn ông và phụ nữ bình thường, những nạn nhân của năng lượng tà ác đã được phóng thích bởi lòng tham của Hắc Y. Có lẽ là do ảo giác, nhưng tôi nghĩ rằng mình đã nghe thấy tính “người” trong tiếng gào thét kinh hoàng của chúng.
Khi chúng gần bay đến trên đầu chúng tôi, Hắc Y siết chặt cánh tay tôi và bình tĩnh nói, “Ngay bây giờ.”
Bàn tay vô hình ấy tóm lấy năng lực bên trong tôi, và tôi nhận ra nó đang dần mở rộng tầm với, xuyên qua bóng tối của vùng Vực, kiếm tìm ánh sáng. Nó đến với tôi bằng tốc độ và cơn cuồng nộ mạnh mẽ đến mức khiến tôi suýt té ngã, rồi nó nhấn chìm tôi trong một vùng ánh sáng và hơi ấm.
Vùng Vực cháy bừng lên, sáng rõ như ban trưa, tựa như bóng tối dày đặc nơi ấy chưa từng tồn tại. Tôi nhìn thấy một bãi cát dài bạc trắng, những đống đổ nát nhìn giống như tàu thuyền bị đắm nằm rải rác khắp khung cảnh chết chóc, và bên trên chúng là một bầy volcra đông đúc. Chúng rống lên đau đớn, thân hình xám xịt vặn vẹo dưới ánh nắng sáng ngời trông thật ghê tởm. Đây là con người thật của anh ta, tôi thầm nghĩ trong lúc nheo mắt dưới ánh nắng chói lòa. Tương đồng kêu gọi tương đồng. Đây là bản thể được kiến tạo từ linh hồn của anh ta, con người thật của anh ta bị bóc trần dưới ánh mặt trời rực rỡ, sáng ngời cùng bí ẩn và u ám. Đây là sự thật phía sau khuôn mặt điển trai và năng lực thần kì ấy, khoảng trống chết chóc và trống trải giữa những vì sao, những vùng đất khô cằn và dân chúng lầm than vì lũ quái vật đáng sợ.
Mở đường đi. Tôi không biết có phải anh ta đã nói ra hay chỉ nghĩ trong đầu mệnh lệnh đang dội lại trong tôi hay không. Tôi vô lực để mặc vùng Vực khép lại xung quanh trong lúc tập trung vào nguồn sáng, triệu hồi một con đường xuyên suốt để con tàu có thể đi qua, bao vây ở hai bên là những bức tường bóng tối gờn gợn. Bầy volcra bay vào trong bóng đêm, tiếng chúng gào thét giận dữ và bối rối như từ phía sau một bức màn dày đặc.
Chúng tôi tăng tốc trên bãi cát không màu, ánh nắng trải dài thành từng đợt sóng lấp lánh trước mắt. Ở phía xa, tôi nhìn thấy một dải màu xanh lá, và tôi nhận ra mình đang nhìn thấy phía bên kia vùng Vực Tối. Chúng tôi đang nhìn về phía Tây Ravka, và trong lúc đến gần hơn, tôi nhìn thấy bãi cỏ của họ, xưởng đóng tàu của họ, làng Novokribirsk yên vị phía sau đó. Đây có phải tưởng tượng không, hay tôi đã có thể ngửi thấy hương muối từ Chân Hải trong không khí.
Dân chúng ùa ra từ ngôi làng và tập trung trên xưởng đóng tàu, đưa tay chỉ về phía nguồn sáng đã xé đôi vùng Vực trước mắt họ. Tôi nhìn thấy trẻ con chơi đùa trên bãi cỏ. Tôi có thể nghe thấy công nhân xưởng cất tiếng gọi nhau.
Con tàu giảm tốc độ theo hiệu lệnh của Hắc Y, và anh ta nâng cánh tay lên. Tôi thấy kinh hoàng khi nhận ra điều gì sắp xảy ra.
“Họ là con dân của ngài!” tôi tuyệt vọng gào khóc.
Anh ta lờ tôi đi và chắp tay lại với nhau với âm thanh nghe như tiếng sét kêu vang.
Tất cả dường như đang diễn ra một cách chậm rãi. Từng gợn sóng bóng tối phát ra từ tay của anh ta. Khi chúng gặp được bóng tối của vùng Vực, một tiếng gầm vang lên trên bãi cát chết chóc. Những bức tường thành bóng tối dọc con đường tôi đã dựng lên nhô ra phập phồng. Giống như nó đang hít thở, tôi kinh hoàng thầm nghĩ.
Tiếng gầm gừ chuyển sang gào thét. Vực Tối rúng động và đổ sụp xung quanh chúng tôi rồi vỡ ra theo từng đợt sóng.
Một tiếng rú ghê sợ phát ra từ phía đám đông trên xưởng tàu khi bóng tối đổ nhào về phía họ. Họ bỏ chạy, và tôi nhìn thấy nỗi sợ của họ, nghe thấy tiếng kêu thét của họ trong lúc bức màn bóng tối của Vực ập xuống xưởng tàu và ngôi làng như con sóng vỡ òa. Bóng đêm bao trùm lấy họ, và lũ volcra săn bắt con mồi mới của mình. Một phụ nữ ôm theo một đứa bé trai loạng choạng ngã xuống, cố thoát khỏi bóng đêm dần bao phủ, nhưng nó cũng nuốt chửng lấy bà.
Tôi tìm đến bên trong tâm thức của mình một cách khổ sở, cố gắng nhân rộng ánh sáng để đuổi lũ volcra đi, để đem đến một sự bảo vệ. Nhưng tôi không thể làm gì cả. Năng lượng dần rời bỏ tôi, kéo tôi khỏi bàn tay vô hình cay độc ấy. Tôi ước mình có một con dao để đâm vào tim của Hắc Y, vào tim của chính mình, bất cứ thứ gì có thể ngăn chuyện này lại.
Hắc Y quay sang nhìn những sứ thần và phái viên của Đức vua. Khuôn mặt của bọn họ là biểu cảm kinh hoàng lẫn hoảng sợ như nhau. Hẳn anh ta rất hài lòng, vì sau đó anh ta buông tay ra và bóng đêm thôi không còn lan rộng. Tiếng gầm gừ dần biến mất.
Tôi có thể nghe thấy những tiếng khóc đau thương từ những người lạc lối trong bóng tối, tiếng gào thét của lũ volcra, tiếng nổ súng. Xưởng đóng tàu cát đã biến mất. Làng Novokribirsk đã biến mất. Chúng tôi đang đứng trước lãnh địa mới của Vực Tối.
Thông điệp đã quá rõ ràng: Hôm nay là Tây Ravka. Ngày mai, Hắc Y có thể dễ dàng đẩy vùng Vực về phía Bắc đến Fjerda hay phía Nam đến Shu Han. Nó có thể nuốt chửng cả đất nước và đẩy kẻ thù của Hắc Y xuống biển. Tôi vừa giúp anh ta giết bao nhiêu mạng người? Và tôi sẽ phải chịu trách nhiệm cho bao nhiêu mạng người nữa?
Đóng lối đi lại, Hắc Y ra lệnh, tôi không còn cách nào khác ngoài việc tuân theo. Tôi kêu gọi ánh sáng trở về cho đến khi nó bao quanh con tàu như một mái vòm phát sáng.
“Ngài đã làm gì vậy?” người phái viên thì thầm, giọng nói run lẩy bẩy.
Hắc Y quay sang ông ta. “Ông có cần nhìn thêm nữa không?”
“Ngài có nhiệm vụ phải xóa bỏ vùng đất tà ác này, không phải nhân rộng nó. Ngài đã giết hại con dân Ravka! Đức vua sẽ không bao giờ chịu...”
“Đức vua sẽ làm theo những gì được sai bảo, hoặc ta sẽ đưa Vực Tối đến ngay tường rào của Os Alta.” Người phái viên lắp bắp, miệng ông ta mở ra rồi đóng lại trong câm lặng. Hắc Y quay sang những sứ thần. “Ta mong rằng bây giờ các ông đã hiểu rõ ý của ta. Sẽ không còn người Ravka, Fjerda, Kerch hay Shu Han nữa. Sẽ không còn biên giới, và sẽ không còn chiến tranh. Từ bây giờ, chỉ còn vùng đất bên trong và bên ngoài vùng Vực, và hòa bình sẽ được lặp lại.”
“Hòa bình theo ý muốn của ngươi,” một trong số những người Shu Han giận dữ đáp trả.
“Sẽ không lâu đâu,” một người Fjerda dọa nạt. Hắc Y lướt qua bọn họ và nói một cách rất bình thản. “Hòa bình theo ý muốn của ta. Hoặc những dãy núi quý giá hay bình nguyên bị thánh thần ruồng bỏ của các ngươi sẽ không còn tồn tại.”
Với niềm tin đau đớn, tôi nhận ra rằng anh ta không hề nói suông. Những sứ thần có thể hy vọng đây chỉ là lời đe dọa vô hại, họ tin rằng rằng lòng tham của anh ta cũng có giới hạn, nhưng họ sẽ sớm hiểu rõ vấn đề thôi. Hắc Y sẽ không chần chừ. Anh ta sẽ không thương tiếc. Bóng tối của anh ta sẽ nuốt chửng thế giới, và anh ta sẽ không bao giờ lay động.
Hắc Y quay lưng lại với biểu cảm sững sờ và giận dữ của họ và kêu gọi những Grisha và binh sĩ trên tàu.
“Hãy kể lại những gì các người đã thấy hôm nay. Kể lại với mọi người rằng những tháng ngày sợ hãi và lo âu đã kết thúc. Những tháng ngày chiến tranh trong vô tận đã kết thúc. Kể lại với bọn họ rằng các người đã nhìn thấy một kỷ nguyên mới bắt đầu.”
Tiếng reo hò vang lên từ đám đông. Tôi nhìn thấy một vài binh sĩ thì thầm với nhau. Kể cả một số Grisha cũng có vẻ mất bình tĩnh. Nhưng phần lớn đều là những khuôn mặt phấn khởi, đắc thắng, rạng ngời.
Họ khao khát điều này, tôi chợt hiểu ra. Thậm chí sau khi họ nhìn thấy những gì anh ta có thể làm, thậm chí sau khi họ chứng kiến đồng bào mình bị giết chết. Hắc Y không đưa ra đề nghị kết thúc chiến tranh cho họ, nhưng là kết thúc của sự đớn hèn. Sau bao năm tháng đằng đẵng sống trong kinh sợ và chịu đựng, anh ta đã trao tặng họ một thứ dường như cả đời đều nằm ngoài tầm với: Thắng lợi. Và dù có sợ sệt thì họ vẫn yêu quý anh ta vì điều đó.
Hắc Y ra hiệu cho Ivan, người đứng phía sau anh ta để đợi lệnh. “Đem tên tù nhân đến đây cho ta.” Tôi lập tức ngẩng lên, một nỗi sợ mới xuyên qua khắp người trong lúc Mal bị lôi qua đám đông để đến chỗ lan can tàu, hai tay bị trói lại.
“Chúng ta trở về Ravka,” Hắc Y ra lệnh. “Nhưng tên phản bội phải ở lại.”
Trước khi tôi kịp nhận ra chuyện gì đang xảy ra, Ivan đã xô Mal ra ngoài thành tàu. Bầy volcra rít lên và đập cánh. Tôi chạy đến lan can. Mal nằm nghiêng trên cát, vẫn còn nằm trong vòng ánh sáng bảo vệ của tôi. Cậu ấy phun cát ra khỏi miệng và gượng người dậy với đôi tay bị trói của mình.
“Mal!” Tôi gào khóc.
Tôi quay sang Ivan và đấm mạnh vào cằm anh ta mà không thèm suy nghĩ. Anh ta lảo đảo ngã lên lan can, sững sờ một lúc rồi lao về phía tôi. Tốt, tôi thầm nghĩ trong lúc anh ta tóm lấy tôi. Quăng tôi ra ngoài luôn đi.
“Gượm đã,” Hắc Y can ngăn, giọng nói lạnh như băng đá. Ivan cau mày, khuôn mặt đỏ bừng vì xấu hổ và giận dữ. Anh ta nới lỏng tay nhưng vẫn không buông ra.
Tôi có thể nhìn thấy vẻ thắc mắc của mọi người trên tàu. Họ không biết chuyện gì đang xảy ra, tại sao Hắc Y lại phiền lòng vì một kẻ đào ngũ hay tại sao người Grisha trân quý nhất lại vừa đấm vào mặt phó chỉ huy của anh ta.
Thu hồi nó lại. Mệnh lệnh vang lên trong tôi và tôi kinh hoàng nhìn về phía Hắc Y.
“Không!” Tôi hét lên. Nhưng tôi không thể dừng lại; mái vòm ánh sáng bắt đầu thu nhỏ lại. Mal nhìn tôi trong lúc vòng tròn thu hẹp lại về phía con tàu, và nếu Ivan không đang giữ lấy tôi, hẳn ánh nhìn nuối tiếc và yêu thương trong đôi mắt xanh của cậu ấy đã khiến tôi ngã quỵ. Tôi chống cự bằng tất cả những gì bên trong thân thể, bằng chút tàn lực cuối cùng còn sót lại, tất cả những gì Baghra đã dạy tôi, nhưng nó chẳng là gì so với năng lực kiềm hãm của Hắc Y. Ánh sáng dần khép sát con tàu hơn.
Tôi bấu chặt lấy thành tàu và gào khóc trong đau thương, trong cuồng nộ, nước mắt ròng ròng trên má. Giờ đây Mal đang đứng ngay trên mép của vòng tròn tỏa sáng. Tôi có thể nhìn thấy dáng hình của lũ volcra trong bóng tối quay cuồng, cảm thấy tiếng đập cánh của chúng. Cậu ấy có thể chạy, có thể khóc than, có thể cố bò sát vào mạn tàu cho đến khi bóng tối bao phủ, nhưng cậu ấy không làm gì cả. Cậu ấy kiên cường đứng thẳng trước bóng tối dần vây quanh.
Chỉ mình tôi có năng lực để cứu cậu ấy. Mà tôi lại hoàn toàn vô lực. Giây lát sau, bóng đêm nuốt chửng cậu ấy. Tôi nghe cậu ấy gào lên. Kí ức về con hươu đực trỗi dậy trước mắt tôi, sinh động đến mức trong thoáng chốc tầm nhìn của tôi chìm ngập trong bình nguyên tuyết trắng, hình ảnh đó thế vào khung cảnh cằn cỗi của vùng Vực. Tôi ngửi thấy mùi rừng thông, cảm thấy khí trời giá lạnh trên gò má. Tôi nhớ đến đôi mắt trong suốt và u ám của con hươu đực, hơi thở phả thành cụm của nó trong trời đêm lạnh lẽo, giây phút mà tôi biết rằng tôi sẽ không đời nào giết nó. Và cuối cùng, tôi đã hiểu ra vì sao con hươu đực đã xuất hiện trong giấc mơ của tôi vào mỗi đêm.
Tôi tưởng rằng con hươu đực đang ám ảnh tôi, một lời nhắc nhở về thất bại và cái giá phải trả mà sự nhu nhược của tôi đã gây ra. Nhưng tôi đã lầm.
Con hươu đực đã cho tôi nhìn thấy sức mạnh của mình: không chỉ là cái giá cho lòng thương mà còn là sức mạnh nó sẽ đem lại. Và lòng thương là thứ mà Hắc Y sẽ không bao giờ hiểu được.
Tôi đã tha mạng cho con hươu đực. Sức mạnh của sự sống ấy thuộc về tôi hoàn toàn như đã thuộc về người đàn ông đã tước đoạt nó.
Tôi thở dốc khi nhận thức ấy tràn ngập khắp người, và tôi nhận ra cái siết tay vô hình trong mình dần buông lỏng. Năng lượng dần trở về trong tay. Một lần nữa, tôi đứng trong căn nhà bằng đá của Baghra, kêu gọi ánh sáng lần đầu tiên, cảm nhận nó đang lao về phía tôi, chiếm giữ những gì thuộc về tôi một cách chính đáng. Đây là mục đích tôi được sinh ra. Tôi sẽ không bao giờ cho phép người khác tách rời tôi khỏi nó lần nữa.
Ánh sáng vỡ òa từ người tôi, thuần khiết và kiên định, tràn về vùng tối nơi Mal đã đứng mấy giây trước đó. Con volcra đang giữ lấy cậu ấy rống lên và buông móng vuốt ra. Mal ngã khuỵu xuống, máu chảy ra từ miệng vết thương trong lúc ánh sáng của tôi bao bọc lấy cậu ấy và đẩy lùi con volcra trở về bóng tối.
Hắc Y trông có vẻ thắc mắc trong chốc lát. Anh ta nheo mắt lại, và tôi cảm thấy ý chí của anh ta đổ xuống người tôi lần nữa, cảm thấy bàn tay vô hình ấy nắm lấy tôi. Tôi gạt nó đi. Nó không là gì cả. Anh ta không là gì cả.
“Chuyện gì đây?” anh ta rít lên. Anh ta giơ tay lên và những cuộn len bóng tối lao về phía tôi, nhưng chỉ bằng một cái búng tay, tôi làm chúng cháy tan thành sương khói.
Hắc Y tiếp tục tấn công, khuôn mặt điển trai nhúm nhó vì giận dữ. Tâm trí tôi hoạt động một cách điên cuồng. Tôi biết anh ta muốn giết tôi ngay tại chỗ, nhưng anh ta không thể, không thể làm thế với bầy volcra đang bao vây xung quanh vòng ánh sáng mà chỉ tôi mới có thể triệu hồi.
“Bắt lấy cô ta!” anh ta hét lên với những cận vệ xung quanh chúng tôi. Ivan vươn tay ra.
Tôi cảm nhận được sức nặng của chiếc vòng cổ xung quanh cổ, nhịp điệu bình ổn từ trái tim cổ xưa của con hươu đực đang đập đồng thanh với tôi. Năng lực dâng lên trong tôi, vũng vàng và kiên định, một thanh kiếm cầm chắc trong tay.
Tôi giơ tay lên và chém tới. Với một tiếng rắc inh tai, một trong những cột buồm của con thuyền bị chẻ làm đôi. Mọi người hoảng hốt kêu lên và chạy tán loạn trong lúc cột buồm bị gãy ngã xuống boong tàu, thân cây to lớn rực lên cùng ánh sáng cháy bừng. Kinh hoàng hiện rõ trên khuôn mặt của Hắc Y.
“Vết Cắt!” Ivan thở hắt ra, lùi lại về phía sau một bước.
“Lùi lại,” tôi cảnh báo.
“Cô không phải là một tên sát nhân, Alina ạ,” Hắc Y nói.
“Tôi nghĩ rằng những người dân Ravka mà tôi vừa mới giúp ngài giết hại không nghĩ thế đâu.”
Hoảng loạn đang lan ra khắp con tàu. Những oprichniki trông có vẻ dè chừng, nhưng họ vẫn vây quanh tôi như cũ.
“Các người đã thấy anh ta làm gì với những dân thường kia!” Tôi gào lên với những cận vệ và Grisha xung quanh. “Đó là tương lai mà các người mong muốn sao? Một thế giới bóng tối? Một thế giới được tái tạo lại bằng hình ảnh của anh ta?” Tôi nhìn thấy vẻ thắc mắc, cơn giận và nỗi sợ của họ. “Vẫn chưa quá trễ để ngăn anh ta lại đâu! Hãy giúp tôi,” tôi van nài. “Làm ơn, giúp tôi.”
Nhưng không ai cử động cả. Binh sĩ và Grisha đều đồng loạt đứng đờ người trên boong tàu. Tất cả đều quá sợ hãi, sợ hãi anh ta và sợ hãi một thế giới không có sự bảo bọc của anh ta.
Những oprichniki tiến lại gần hơn. Tôi phải chọn lựa. Mal và tôi không còn cơ hội nào khác.
Cứ thế đi, tôi thầm nghĩ.
Tôi ngoái nhìn ra sau vai, mong rằng Mal sẽ hiể’u, và rồi tôi lao đầu về phía mạn tàu.
“Đừng để cô ta đến chỗ lan can!” Hắc Y hét lớn.
Cận vệ nhào về phía tôi. Và tôi thổi tắt luồng sáng.
Chúng tôi bị nhấn chìm trong bóng tối. Mọi người rền rĩ khóc than và, ở trên đầu, tôi nghe thấy tiếng bầy volcra rống rít. Đôi tay dang ra của tôi chạm vào lan can. Tôi chui xuống dưới và nhảy mạnh xuống nền cát, đôi chân lảo đảo mù quáng chạy về phía Mal trong lúc tôi phóng ra một luồng sáng trước mặt theo hình vòng cung.
Ở phía sau, tôi nghe thấy tiếng chém giết trên tàu trong lúc bầy volcra tấn công và những cụm lửa Grisha bắn ra trong bóng tối. Nhưng tôi không thể dừng lại để nghĩ về những người tôi đã bỏ lại sau lưng.
Vòng cung ánh sáng của tôi lướt qua Mal đang khuỵu xuống trên nền cát. Con volcra đang lù lù phía sau cậu ấy rống lên và bổ nhào vào bóng tối. Tôi chạy hết tốc lực về phía cậu ấy và kéo cậu ấy đứng dậy.
Một viên đạn ghim vào nền cát bên cạnh chúng tôi và tôi đẩy cả hai vào vùng tối một lần nữa.
“Đừng bắn!” Tôi nghe Hắc Y la lên giữa hỗn loạn trên con tàu. “Chúng ta cần bắt sống cô ta!”
Tôi phóng ra thêm một vòng cung ánh sáng nữa để giải tán lũ volcra đang bay lơ lửng xung quanh chúng tôi.
“Cô không thể thoát khỏi ta đâu, Alina!” Hắc Y hét lên.
Tôi không thể để anh ta đuổi theo chúng tôi được. Tôi không thể mạo hiểm để anh ta sống tiếp. Nhưng tôi ghét việc mình phải làm. Những người khác trên tàu đã không đến cứu tôi, nhưng họ có đáng để bị bỏ mặc cho bầy volra hay không?
“Cô không thể để chúng ta chết ở đây được, Alina!” Hắc Y lại hét lên. “Nếu cô chọn đi con đường này, cô biết nó sẽ dẫn tới đâu mà.”
Tôi nhận ra một tràng cười cuồng loạn nổi lên trong lòng. Tôi đã biết. Tôi đã biết điều này sẽ khiến tôi trở nên giống anh ta hơn.
“Cô đã cầu xin ta rủ lòng thương một lần,” anh ta gọi với qua biên giới chết chóc của Vực Tối, qua những tiếng rít đói khát của nỗi kinh hoàng mình tạo dựng. “Đây là định nghĩa về lòng thương của cô sao?”
Một viên đạn nữa bắn vào cát, chỉ cách chúng tôi vài mét. Đúng vậy, tôi thầm nghĩ trong lúc năng lượng dâng lên trong người, lòng thương mà ngài đã dạy tôỉ.
Tôi giơ tay lên và hạ xuống theo một đường vòng cung rực sáng, chém đứt bầu không khí. Một tiếng rắc rung trời lở đất vang vọng vùng Vực trong lúc đoàn tàu lướt cát bị chẻ làm đôi. Những tiếng thét đau thương lấp đầy không khí và bầy volcra rống lên điên cuồng.
Tôi tóm lấy cánh tay của Mal và tỏa ra một mái vòm ánh sáng xung quanh cả hai. Chúng tôi bỏ chạy, lảo đảo về phía bóng tối, và âm thanh của chiến trận sớm tan biến cùng lũ quái vật chúng tôi bỏ lại phía sau.
***
Chúng tôi đến được đâu đó ở phía Nam Novokribirsk sau khi rời khỏi vùng Vực và cất những bước đầu tiên tiến về phía Tây Ravka. Mặt trời buổi trưa sáng chói, cỏ trên đồng thì xanh mướt và dịu ngọt, nhưng chúng tôi chẳng hề dừng lại để tận hưởng những điều ấy. Chúng tôi kiệt sức, đói meo và mang thương tích, nhưng kẻ thù của chúng tôi sẽ không ngừng nghỉ, nên chúng tôi cũng không được phép làm vậy.
Chúng tôi đi bộ cho đến khi tìm thấy chỗ trú trong một vườn cây ăn quả và nấp ở đó cho đến khi trời tối, sợ bị phát hiện và nhận mặt. Không khí đượm nồng mùi hoa táo nở rộ, nhưng trái cây vẫn còn quá nhỏ và xanh để ăn.
Một xô hứng đầy nước mưa đùng đục được đặt bên dưới gốc cây chúng tôi đang ngồi, chúng tôi dùng nó để rửa sạch những vết bẩn trên chiếc áo đẫm máu của Mal. Cậu ấy cố không nhăn mặt trong lúc kéo tấm áo rách rưới ấy qua đầu, nhưng vết thương sâu hoắm vì móng vuốt của con volcra gây ra trên làn da mịn màng nơi vai và lưng cậu ấy thì không thể che giấu được.
Khi trời tối, chúng tôi bắt đầu hành trình đến bờ biển. Trong một chốc thoáng qua, tôi đã lo rằng cả hai có thể bị lạc. Nhưng dù đang ở trong một đất nước xa lạ thì Mal vẫn tìm thấy đường đi.
Ngay trước khi bình minh hé dạng, chúng tôi đã lên tới đỉnh một ngọn đồi và nhìn thấy lãnh thổ rộng lớn của vùng vịnh Alkhem và ánh sáng lộng lẫy của Os Kervo ở ngay bên dưới. Chung tôi biết rằng mình nên rời khỏi đường cái. Sắp tới đây nó sẽ đông nghẹt những thương nhân và lữ khách, những người chắc chắn sẽ nhận ra một người dò đường bị thương nặng và một cô gái mặc bộ kefta màu đen. Nhưng chúng tôi không thể cưỡng lại việc nhìn ngắm Chân Hải lần đầu tiên.
Mặt trời mọc sau lưng chúng tôi, vầng sáng màu hồng tỏa rạng trên những tầng tháp mỏng manh của thành phố rồi vạt tróc từng mảnh vàng rực trên mặt nước trong vịnh. Tôi nhìn thấy hải cảng ngổn ngang, những con thuyền lớn nhấp nhô trong bến, và xa hơn ngoài kia là một màu xanh thẫm, và xanh, xanh đến vô ngần. Đại dương như trải dài vô tận, nới rộng đến một đường chân trời xa xăm không tưởng. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều bản đồ. Tôi biết đâu đó ngoài kia vẫn còn đất liền, đâu đó bên kia là vạn dặm đại dương và hàng tuần dài hành du. Nhưng trong tôi vẫn tồn tại một cảm giác ngất ngây rằng cả hai đang đứng ở tận cùng thế giới. Một luồng gió lạnh thổi đến từ biển, đem theo hương muối mặn và hơi ẩm cùng tiếng kêu xa vang của lũ mòng biển.
“Nơi này thật bao la quá,” cuối cùng tôi cũng cất tiếng.
Mal gật đầu. Rồi cậu ấy quay sang tôi và mỉm cười. “Một chỗ trốn tốt.”
Cậu ấy vươn tay ra và luồn tay vào tóc tôi. Rồi cậu ấy lôi ra một chiếc kẹp tóc bằng vàng giữa những lọn tóc rối. Tôi cảm thấy một lọn tóc buông xõa xuống cổ.
“Để mua quần áo,” cậu ấy giải thích trong khi bỏ chiếc kẹp tóc vào túi.
Vài ngày trước, Genya đã đính những chiếc kẹp ấy lên tóc tôi. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa, không bao giờ gặp lại bất kì ai trong số họ nữa. Tim tôi chợt nhói đau. Tôi không biết Genya liệu có thật sự là bạn của tôi hay không, nhưng dù thế nào thì tôi cũng sẽ nhớ cô ấy.
Mal để tôi đứng chờ ở cách đường cái một quãng gần, nấp sau những tàng cây. Chúng tôi đã thống nhất rằng để cậu ấy đi vào Os Kervo một mình thì sẽ an toàn hơn, nhưng thật khó nhìn cậu ấy rời đi. Cậu ấy bảo tôi hãy nghỉ ngơi đi, nhưng khi cậu ấy đi rồi tôi lại không thể nào ngủ được. Tôi vẫn có thể cảm thấy năng lượng vang động trong người, tiếng vọng từ những gì tôi đã làm trên Vực. Tay tôi tìm đến chiếc vòng đeo trên cổ. Tôi chưa bao giờ cảm thấy thứ gì giống như vậy, và phần nào đó trong tôi muốn trải nghiệm cảm giác đó lần nữa.
Và những người mà mày đã bỏ lại thì sao? Một giọng nói mà tôi thiết tha muốn lờ đi vang lên trong đầu tôi. Những sứ thần, binh sĩ, Grisha. Tôi gần như đã tận diệt bọn họ, và tôi thậm chí còn không chắc rằng Hắc Y đã chết. Anh ta có bị xé xác bởi lũ volcra không? Có phải những người đàn ông và phụ nữ lạc lối của thung lũng Tula cuối cùng cũng trả được hận thù với Hắc Giáo Chủ không? Hay là anh ta, ngay lúc này đây, đang giận dữ băng qua những vùng đất chết của Hư Hải để tìm đến đây, sẵn sàng tính sổ tội lỗi của tôi?
Tôi rùng mình rảo bước loanh quanh, sợ sệt từng tiếng động.
Vào lúc trưa muộn, tôi đã tin rằng Mal đã bị nhận diện và bắt giữ. Khi tôi nghe thấy tiếng bước chân và nhìn thấy dáng hình thân quen của cậu ấy bước ra từ phía rừng cây, tôi suýt nữa đã khóc nấc lên vì nhẹ nhõm.
Có rắc rối gì không? Tôi run rẩy hỏi, cố che giẫu nỗi sợ hãi của mình.
“Không,” cậu ấy nói. “Mình chưa bao giờ nhìn thấy một thành phố đông dân cư đến vậy. Không ai buồn nhìn đến mình lần thứ hai.”
Cậu ấy mặc áo sơ mi mới và một chiếc áo choàng chật ních, trên tay là một đống quần áo dành cho tôi: một bộ váy kiểu áo choàng có sắc đỏ nhạt đến mức gần giống màu cam cùng một chiếc áo khoác có màu vàng chanh. Cậu ấy đưa chúng cho tôi và lịch sự quay đầu lại để tôi có thể thay đồ.
Tôi lóng ngóng cởi từng nút áo nhỏ tí màu đen của bộ kefta. Dường như có đến một ngàn nút. Tôi cảm thấy mình vừa thoát khỏi một gánh nặng to lớn khi bộ áo bằng lụa cuối cùng cũng trượt khỏi vai và nằm yên vị dưới chân. Khí trời mát lạnh của mùa xuân trên làn da trần khiến tôi rùng mình và, lần đầu tiên tôi dám hy vọng rằng có thể chúng tôi đã thật sự tự do. Tôi bác bỏ ý nghĩ ấy. Tôi sẽ không bao giờ có thể yên lòng chừng nào chưa biết rằng Hắc Y thật sự đã chết.
Tôi tròng vào người bộ váy bằng lông cừu thô và áo khoác màu vàng chanh.
“Có phải bồ cố ý mua những quần áo xấu xí nhất có thể tìm được không?”
Mal quay sang nhìn tôi và không thể nén cười.
“Mình đã mua những quần áo có thể tìm được đầu tiên,” cậu ấy nói. Rồi nụ cười của cậu ấy nhạt dần. Cậu ấy khẽ chạm vào má tôi, và rồi khi cất tiếng lần nữa, âm giọng của cậu ấy trầm thấp và khô khan. “Mình không bao giờ muốn nhìn thấy bồ mặc đồ đen nữa.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu ấy. “Không bao giờ,” tôi thì thầm.
Cậu ấy đút tay vào túi áo khoác và lôi ra một chiếc khăn choàng dài màu đỏ. Một cách dịu dàng, cậu ấy quấn nó quanh cổ tôi, giấu đi chiếc vòng cổ của con hươu Morozova. “Được rồi,” cậu ấy nói và mỉm cười lần nữa. “Hoàn hảo.”
“Mình phải làm gì khi mùa hè đến đây?” tôi cười to.
“Chừng đó tụi mình sẽ tìm cách xóa bỏ nó.”
“Không!” Tôi đột ngột đáp trả, kinh ngạc vì ý nghĩ đó khiến tôi buồn phiền biết bao. Mal giật nảy người và khựng lại. “Chúng ta không thể bỏ nó được,” tôi phân trần. “Đó là cơ hội duy nhất để Ravka được giải phóng khỏi Vực Tối.”
Đó là sự thật - chỉ không phải là hoàn toàn. Chúng tôi thật sự cần đến chiếc vòng cổ. Đó là vật bảo toàn trước sức mạnh của Hắc Y và lời hứa rằng ngày nào đó chúng tôi sẽ trở về Ravka và tìm ra cách để sửa chữa mọi thứ. Nhưng những gì tôi không thể nói với Mal chính là việc chiếc vòng cổ thuộc về tôi, rằng năng lượng của con hươu đực giờ đây gần như đã trở thành một phần của tôi, và tôi không chắc rằng mình muốn từ bỏ nó.
Mal quan sát tôi, đôi mày cau lại. Tôi nghĩ đến những lời cảnh báo của Hắc Y, về ánh nhìn ảm đạm tôi đã nhìn thấy trên khuôn mặt của anh ta và Baghra.
“Alina...”
Tôi cố gượng cười an ủi. “Chúng ta sẽ tháo bỏ nó,” tôi hứa. “Ngay khi có thể.”
Mấy giây trôi qua. “Được rồi,” cuối cùng cậu ấy cũng nói, nhưng biểu cảm vẫn còn dè dặt. Và rồi, cậu ấy dùng mũi giày hất bộ kefta đang nằm dưới đất ra. “Chúng ta làm gì với nó đây?”
Tôi nhìn xuống tấm vải lụa tả tơi và cảm thấy giận dữ cùng hổ thẹn chảy qua khắp người.
“Đốt nó đi,” tôi nói. Và chúng tôi đã làm vậy. Trong lúc đám lửa nuốt chửng tấm vải lụa, Mal chậm rãi tháo gỡ những chiếc kẹp bằng vàng còn lại khỏi những lọn tóc của tôi, từng chiếc một, cho đến khi tóc tôi buông dài xuống vai. Và rất đỗi dịu dàng, cậu ấy vén tóc tôi qua một bên rồi hôn lên cổ tôi, ngay phía trên chiếc vòng cổ. Khi nước mắt tôi bắt đầu trào ra, cậu ấy kéo tôi lại gần và ôm tôi thật chặt, cho đến khi không còn gì ngoài tàn tro.