Bóng Tối Và Xương Trắng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Baghra tỏ ra nhẹ nhõm trông thấy, nhưng bà ấy không để lãng phí một giây nào cả. “Cô có thể lẻn ra cùng những người biểu diễn đêm nay. Hãy đi về phía Tây. Khi cô đến Os Kervo, hãy tìm Verloren. Ông ta là một thương gia nước Kerch. Chuyến đi của cô đã được chi trả hết rồi.”

Ngón tay tôi đông cứng lại khi gỡ nút bộ kefta. “Bà muốn tôi đi đến phía Tây Ravka sao? Muốn tôi một mình đi qua vùng Vực sao?”

“Ta muốn cô biến mất, cô gái ạ. Giờ cô đã đủ mạnh để tự mình vượt qua vùng Vực rồi. Dễ thôi mà. Cô nghĩ vì sao mà ta lại tốn nhiều thời gian để huấn luyện cô như thế?”

Lại một điều nữa mà tôi chẳng buồn suy xét. Hắc Y đã bảo Baghra hãy để mặc tôi. Tôi lại tưởng rằng anh ta đang bênh vực tôi, nhưng có lẽ anh ta chỉ muốn giữ cho tôi luôn yếu ớt.

Tôi cởi bộ kefta ra và tròng một chiếc áo chùng dài bằng len thô qua đầu. “Bà đã biết động cơ của anh ta ngay từ đầu. Vậy tại sao bây giờ bà mới nói với tôi?” tôi hỏi bà ấy. “Tại sao lại là đêm nay?”

“Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa. Ta chưa bao giờ thật sự tin rằng nó sẽ tìm được bầy Morozova. Chúng là những sinh vật sống lẩn tránh con người, là một phần của tự nhiên cổ xưa, là trung tâm trọng yếu của thế giới. Nhưng ta đã đánh giá thấp thuộc hạ của nó.”

Không, tôi thầm nghĩ trong lúc kéo mạnh chiếc quần ống túm bằng da và đôi giày dưới chân. Chính xác là bà đã đánh giá thấp Mal. Mal, người đi săn và dò đường độc nhất vô nhị. Mal là người có thể tìm ra thỏ nấp sau những tảng đá. Mal là người có thể tìm ra con hươu đực và biến tôi, biến tất cả chúng tôi thành sức mạnh của Hắc Y mà không hề hay biết.

Baghra chuyền cho tôi một chiếc áo khoác đi đường dày màu nâu có viền lông, một chiếc nón lông nặng trịch, và một dây thắt lưng bản rộng. Khi đeo nó quanh hông, tôi tìm thấy một túi tiền đính theo nó, cùng với con dao và túi nhỏ đựng đôi găng tay da của tôi cùng những mảnh gương được nhét vào trong cẩn thận.

Bà ấy dẫn tôi đến một cánh cửa nhỏ rồi đưa cho tôi một chiếc túi da, tôi đeo nó lên vai. Bà ấy chỉ về phía bên kia sân, nơi ánh sáng từ Đại Điện chập chờn từ xa. Tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc đang chơi. Tôi giật mình nhận ra buổi tiệc vẫn đang rất sôi nổi, dường như mấy năm đã trôi qua kể từ khi tôi rời khỏi phòng dạ vũ, nhưng thực tế hẳn là chưa đến một giờ đồng hồ.

“Đến chỗ mê cung bằng hàng rào và rẽ trái. Tránh khỏi những lối đi được thắp sáng. Vài người diễn trò đã rời đi rồi. Tìm một cỗ xe ngựa sắp khởi hành nào đó. Bọn chúng chỉ kiểm tra khi khách khứa tiến vào cung điện thôi, nên chắc là cô sẽ đi lọt.”

“Chắc là?”

Baghra lờ tôi đi. “Khi cô rời khỏi Os Alta rồi thì hãy tránh khỏi đường cái.” Bà ấy đưa cho tôi một phong thư đóng dấu niêm phong. “Cô là một thợ mộc bình dân đang trên đường đến Tây Ravka để gặp chủ nhân mới của mình. Hiểu không?”

“Vâng.” Tôi gật đầu, tim đang bắt đầu đập mạnh trong lồng ngực. “Tại sao bà lại giúp tôi?” tôi đột nhiên hỏi. “Tại sao bà lại phản bội chính con trai của mình?”

Một lúc lâu sau, bà ấy chỉ im lặng quay lưng đứng thẳng trong bóng tối của Tiểu Điện. Rồi bà ấy quay sang tôi, và tôi giật mình lùi lại bởi những gì chứng kiến: một lòng vực sâu thăm thẳm, rõ ràng đến mức bản thân tưởng mình đang chênh vênh trên rìa cao. Vô tận, tối tăm và rộng lớn, nỗi trống trải khôn cùng của một cuộc đời đã sống quá lâu.

“Nhiều năm về trước,” bà ấy khẽ khàng cất tiếng. “Trước khi nó từng mơ về Hạ Quân, trước khi nó từ bỏ họ tên để trở thành Hắc Y, nó chỉ là một chàng trai sáng suốt, tài ba. Ta đã cho nó tham vọng. Ta đã cho nó kiêu hãnh. Và khi đến lúc, ta nên là người cản bước nó lại.” Rồi bà ấy cười, cái cười nhỏ nhoi của niềm đau vô bờ bến đến mức khó có thể nhìn vào. “Cô nghĩ rằng ta không yêu con trai mình,” bà ấy nói. “Nhưng ta có yêu nó. Vì yêu thương nó nên ta sẽ không để nó sa lầy vào vũng bùn tội lỗi đến mức không thể cứu chuộc được nữa.”

Bà ấy liếc nhìn về phía Tiểu Điện. “Ta sẽ cử một người hầu đứng ở trước cửa phòng cô sáng mai để nói rằng cô bị ốm. Ta sẽ cố kéo dài thời gian cho cô càng lâu càng tốt.”

Tôi cắn môi. “Tối nay. Bà phải cho gọi người đến vào tối nay. Hắc Y có thể...có thể đến phòng tôi.”

Tôi tưởng rằng Baghra sẽ cười nhạo tôi lần nữa, nhưng thay vào đó bà ấy chỉ lắc đầu và nói khẽ, “Cô gái ngốc ạ.” Sự khinh miệt thường khi của bà ấy có lẽ còn dễ đối mặt hơn thế này.

Tôi nghĩ về những gì đang chờ mình phía trước trong lúc nhìn ra phía ngoài xa. Tôi thật sự sẽ làm điều này chứ? Tôi phải cố nén lại cơn hoảng loạn của mình. “Cảm ơn bà, Baghra,” tôi nuốt nước bọt. “Vì tất cả mọi thứ,”

“Hừm,” bà ấy đáp lại. “Đi nào, cô gái. Nhanh chân lên và bảo trọng.”

Tôi quay lưng lại với bà và bỏ chạy.

Những ngày dài tập luyện trong vô tận với Botkin khiến tôi biết rõ đường đi nước bước trong khuôn viên. Tôi cảm thấy biết ơn những giờ học mồ hôi nhễ nhại khi chạy qua bãi cỏ và xuyên qua rừng cây. Baghra triệu hồi những vòng xoáy bóng tối ở hai bên và phủ kín tôi trong bóng đêm khi tôi đến gần sân sau của Đại Điện hơn. Không biết Marie và Nadia có còn khiêu vũ ở trong không? Không biết Genya có đang tự hỏi tôi đã đi đâu rồi không? Tôi đẩy lùi những ý nghĩ ấy khỏi tâm trí. Tôi quá sợ hãi để tập trung nghĩ về chuyện mình đang làm, và tất cả những thứ mình đang bỏ lại phía sau.

Một đoàn kịch sân khấu đang leo lên xe ngựa chất đầy đạo cụ và những kệ trang phục, người đánh xe sớm đã cầm chặt dây cương và lớn tiếng giục họ nhanh chân hơn. Một người trong số họ leo lên ngồi cạnh anh ta, và những người còn lại chen chúc nhau trong một cỗ xe ngựa kéo nhỏ và rời đi với những hồi chuông ngân. Tôi lao vào phía sau xe và chui vào giữa những đồ dùng trang trí sân khấu, lấy một tấm vải bố phủ lên người.

Tôi nín thở trong lúc đoàn người đi trên con đường dài lát đá xuyên qua cổng cung điện. Tôi đã tưởng rằng người nào đó sẽ lên tiếng báo động bất kì lúc nào và chúng tôi sẽ bị cản lại. Tôi sẽ bị lôi ra từ phía sau xe một cách nhục nhã. Nhưng rồi bánh xe vẫn tiếp tục lăn về phía trước và chúng tôi đang tròng trành đi trên con đường đá sỏi của Os Alta.

Tôi cố nhớ lại lộ trình mình đã đi cùng với Hắc Y khi anh ta đem tôi đến thành phố này nhiều tháng trước, nhưng tôi đã mệt mỏi và kiệt sức đến mức trí nhớ chỉ còn lại một tầng mờ nhạt những dinh thự và mặt đường mờ sương. Tôi không thể thấy gì nhiều từ chỗ trốn của mình, và tôi không dám hé mắt nhìn ra. Nếu xui xẻo, một người nào đó có thể đi ngang qua ngay lúc ấy và bắt gặp tôi.

Hy vọng duy nhất của tôi là rời khỏi cung điện càng xa càng tốt trước khi mọi người nhận ra sự vắng mặt của tôi. Tôi không biết Baghra có thể kéo dài thời gian trong bao lâu, và tôi thầm mong người đánh xe có thể chạy nhanh hơn. Khi chúng tôi băng qua cầu và đi vào phố chợ, tôi thưởng cho bản thân một tiếng thở phào nhẹ nhõm.

Khí trời lạnh lẽo xuyên qua tấm mành bằng gỗ của cỗ xe. Tôi cảm thấy biết ơn vì áo khoác dày Baghra đã chuẩn bị. Tôi rã rời và khó chịu, nhưng hơn hết là sợ hãi. Tôi đang trốn chạy khỏi người đàn ông quyền lực nhất Ravka. Những Grisha, Thượng Quân, và có thể kể cả Mal và những người dò đường của cậu ấy sẽ được lệnh đi tìm tôi. Tôi có bao nhiêu phần trăm cơ hội để vượt qua vùng Vực một mình? Và nếu tôi có thể vượt qua đó để đến Tây Ravka và tìm gặp Verloren thì sao chứ? Tôi sẽ phải cô độc trên một vùng đất lạ lẫm, không biết tiếng và cũng không quen ai. Mắt tôi cảm thấy cay cay và tôi đưa tay quệt mạnh. Nếu tôi khởi sự khóc lóc lúc này thì e rằng tôi sẽ không dừng được.

Xe đi suốt buổi sáng sớm, vượt qua con đường lát đá ở Os Alta để đến được đường đất rộng lớn bụi bặm của Vy. Bình minh đến rồi đi. Thi thoảng tôi cũng gà gật đôi chút, nhưng nỗi sợ và lo lắng đã giúp tôi tỉnh táo suốt chuyến đi. Khi mặt trời lên đến đỉnh và tôi bắt đầu đổ mồ hôi trong tấm áo khoác dày của mình thì cỗ xe dừng lại.

Tôi mạo hiểm hé nhìn bên mạn sườn của xe. Chúng tôi đang ở đằng sau một nơi trong giống một nhà trọ hay quán rượu.

Tôi duỗi chân ra. Hai bàn chân tê dại, tôi nhăn mặt khi máu đổ dồn xuống từng đầu ngón chân đau đớn. Tôi đợi cho đến khi người đánh xe và những thành viên khác trong đoàn kịch đi vào trong rồi mới lẻn ra khỏi chỗ trốn của mình.

Tôi nhận ra mình sẽ thu hút nhiều sự chú ý hơn nếu tỏ vẻ lén lút, nên tôi đứng thẳng dậy và nhanh nhẹn rảo bước xung quanh khu nhà, hòa vào sự rộn ràng của đoàn xe và những dân làng trên đường cái.

Mất thời gian nghe ngóng chút đỉnh là tôi nhận ra mình đang ở Balakirev. Nó là một thị trấn nhỏ nằm gần hướng chính tây so với Os Alta. Tôi gặp may rồi; tôi đang đi đúng đường.

Suốt chuyến đi, tôi đếm lại số tiền Baghra đã đưa cho và cố vạch ra kế hoạch. Tôi biết cách nhanh nhất để di chuyển là dùng ngựa, nhưng tôi cũng biết rằng một cô gái đơn độc có đủ tiền mua ngựa sẽ thu hút sự chú ý. Trộm ngựa là hợp lý nhất, nhưng tôi không biết phải thực hiện thế nào, nên tôi quyết định cứ đi bộ tiếp.

Trên đường rời khỏi thị trấn, tôi dừng lại ở một quầy hàng trong chợ để mua lương thực dự trữ gồm phô mát cứng, bánh mì và thịt sấy khô.

“Đói lắm phải không?” ông cụ bán hàng móm mém hỏi tôi có phần dò xét khi tôi nhét hết đồ ăn vào ba lô.

“Em trai tôi ăn như lợn ấy,” tôi nói và giả vờ vẫy tay với người nào đó trong đám đông. “Chị đến đây!” tôi la lên và mau chóng rời đi. Tôi chỉ mong ông ta chỉ nhớ đã gặp một cô gái đi du lịch cùng với gia đình mình, hoặc, tốt hơn cả, là sẽ không nhớ gì về tôi.

Tôi ngủ qua đêm trong vựa cỏ khô ở một nông trại bò sữa tiếp giáp đường Vy. Nó khác xa chiếc giường tuyệt đẹp của tôi ở Tiểu Điện, nhưng tôi cảm thấy biết ơn vì chỗ trú này và âm thanh của loài vật ở xung quanh. Tiếng kêu khẽ khàng và sột soạt của những con bò khiến tôi cảm thấy bớt cô đơn trong khi nằm còng queo một mình, lấy ba lô và chiếc nón lông thú làm gối.

Lỡ như Baghra nói sai thì sao? Tôi thao thức lo lắng. Lỡ như bà ấy nói dối tôi thì sao? Hoặc lỡ như bà ấy chỉ nhầm lẫn thì sao? Tôi có thể trở về Tiểu Điện. Tôi có thể ngủ trên giường của mình và luyện tập cùng Botkin và nói chuyện cùng Genya. Ý nghĩ đó thật rất hấp dẫn. Nếu tôi quay về, liệu Hắc Y có tha thứ cho tôi?

Tha thứ cho tôi? Chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Anh ta là người muốn đeo vòng cổ cho tôi và bắt tôi trở thành nô lệ, vậy mà tôi còn mơ gì lòng vị tha của anh ta? Tôi trở người sang bên kia, cảm thấy tức giận với chính mình.

Sâu tận trong tim, tôi biết Baghra đã đúng. Tôi nhớ lại những lời đã nói với Mal: Anh ta sở hữu tất cả chúng ta. Tôi đã nói những lời giận dữ mà không hề suy xét vì muốn làm tổn thương danh dự của Mal. Nhưng mặt khác, tôi nói sự thật, như Baghra. Tôi biết Hắc Y là một kẻ nguy hiểm và nhẫn tâm, nhưng tôi đã mặc kệ tất cả và hạnh phúc tin vào số phận tưởng chừng tuyệt vời của mình, vui sướng nghĩ rằng mình là người anh ta mong có được.

Sao mày không thú nhận đi, rằng mày đã muốn thuộc về anh ta? Một giọng nói vang lên trong đầu tôi. Sao mày không thú nhận đi, rằng phần nào đó trong mày vẫn mong muốn thế?

Tôi đẩy ý nghĩ ấy đi. Tôi cố nghĩ về chuyện sắp tới và lộ trình an toàn nhất để đi về phía Tây. Tôi cố nghĩ đến tất cả mọi thứ trừ đôi mắt xám màu mây giông ấy.

***

Tôi đi suốt ngày và đêm hôm sau trên đường Vy, hòa vào luồng giao thông tấp nập trên đường đến Os Alta. Nhưng tôi biết Baghra chỉ có thể trì hoãn một khoảng thời gian nhất định và đường cái thì quá nguy hiểm. Sau đó, tôi quyết định đi xuyên rừng và cánh đồng, sử dụng những lối đi của thợ săn và lối mòn giữa ruộng. Tôi đi bộ rất chậm. Chân tôi đau nhức và bàn chân phồng rộp, nhưng tôi buộc phải tiếp tục tiến về phía Tây bằng cách nương theo quỹ đạo của vầng thái dương trên trời cao.

Vào buổi đêm, tôi kéo mũ lông thú sụp xuống che hết hai tai và co ro run rẩy trong tấm áo khoác, lắng nghe dạ dày lên tiếng cồn cào và tưởng tượng những tấm bản đồ đường đi trong tâm trí, những tấm bản đồ tôi đã vẽ nên từ rất lâu về trước trong sự yên bình của Lều cung cấp Tư liệu. Tôi hình dung quá trình chậm chạp của mình từ Os Alta đến Balakirev, men theo những ngôi làng nhỏ ở Chernitsyn, Kerskii và Polvost, đồng thời cố gắng không từ bỏ hy vọng. Tôi còn cả quãng đường dài mới đến được vùng Vực, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là tiếp tục di chuyển và mong rằng vận may của mình sẽ được giữ nguyên.

“Mày vẫn còn sống,” tôi tự nhủ trong bóng tối. “Mày vẫn còn tự do.”

Thi thoảng, khi bắt gặp những người nông dân và khách lữ hành khác, tôi đeo găng tay và giữ chặt cán dao phòng trường hợp có rắc rối xảy ra, nhưng họ không mấy chú ý đến tôi. Tôi đói bụng thường xuyên. Tôi mãi là vẫn một thợ săn tồi nên chỉ có thể sống bằng nguồn lương thực ít ỏi đã mua ở Balakirev, uống nước từ sông suối, và thi thoảng trộm trứng hoặc táo từ một nông trại lẻ loi trên đường.

Tôi không biết tương lai chứa đựng những gì, hoặc có gì đang chờ tôi ở phía cuối cuộc hành trình rệu rã này, nhưng không hiểu sao, tôi lại không cảm thấy khốn khổ. Tôi đã cô độc suốt cuộc đời, nhưng tôi chưa bao giờ thật sự cô đơn, và nó không quá đáng sợ như tôi đã tưởng.

Một sáng nọ, khi bắt gặp một nhà thờ nhỏ quét vôi trắng, tôi đã không cưỡng lại được mà lẻn vào trong để nghe linh mục giảng đạo. Khi bài giảng kết thúc, người linh mục bèn nói lời chúc phúc cho giáo dân: cậu con trai của một người phụ nữ vừa bị thương trong chiến tranh, một đứa trẻ sơ sinh đang sốt cao, và cả lời nguyện cầu cho Alina Starkov được khỏe mạnh. Tôi rụt người lại.

“Hãy để chư vị thánh thần bảo vệ Tiết Dương Sư,” người linh mục cao giọng cất tiếng, “cô ấy là người được gửi đến để cứu rỗi chúng ta khỏi tà ác của Vực Tối và thống nhất quốc gia này một lần nữa.”

Tôi nuốt khan rồi nhanh chóng cúi đầu chạy khỏi nhà thờ. Bây giờ thì họ đang cầu nguyện cho mày, tôi chán chường thầm nghĩ. Nhưng nếu Hắc Y xong việc, họ sẽ quay sang ghét bỏ mày. Và có lẽ họ nên làm thế. Không phải tôi đang bỏ rơi Ravka và tất cả những người đang tin vào tôi sao? Năng lực của tôi là thứ duy nhất có thể phá hủy vùng Vực, mà tôi lại đang trốn chạy.

Tôi lắc đầu. Tôi không có thời gian để nghĩ về những việc đó ngay lúc này. Tôi là một kẻ phản bội, một kẻ đào tẩu. Tôi có thể lo cho tương lai của Ravka ngay sau khi thoát khỏi tầm tay của Hắc Y.

Trong lúc mường tượng địa đồ trong tâm trí, tôi nhận ra mình sắp sửa đến Ryevost, và điều đó có nghĩa là tôi phải quyết định lộ trình hoàn hảo nhất để tìm đến vùng Vực Tối. Tôi có thể lần theo bờ sông hoặc tiến vào Petrazoi, dãy núi cằn cỗi ở phía Tây Bắc. Bờ sông nghe có vẻ dễ đi hơn, nhưng điều đó có nghĩa là tôi phải đi qua những vùng đông dân cư. Dãy núi là lộ trình ngắn hơn, nhưng để vượt qua nó sẽ vất vả hơn nhiều.

Tôi đắn đo giữa hai lựa chọn cho đến khi tới được một giao lộ ở Shura, cuối cùng tôi chọn đi đường núi. Tôi phải nghỉ chân ở Ryevost trước khi tiến về vùng đồi dưới chân núi. Nơi đó là thành phố lớn nhất ở ven sông và tôi biết mình đang mạo hiểm, tôi sẽ không qua được Petrazoi mà không có thêm thức ăn dự trữ và lều trại hoặc giường xếp.

Sau nhiều ngày ở một mình, những thanh âm ồn ã và rộn ràng từ kênh đào và những con đường đông người của Ryevost đối với tôi nghe thật lạ lẫm. Tôi cúi gằm mặt và kéo sụp mũ xuống vì chắc rằng xung quanh là những bản cáo thị vẽ chân dung mình được dán trên cột đèn và cửa sổ của những cửa hàng ven đường. Nhưng càng vào sâu trong thành phố tôi lại càng cảm thấy thoải mái hơn. Có lẽ tin tôi biến mất chưa lan nhanh và xa như tôi đã tưởng.

Tôi ứa nước miếng trước mùi hương hấp dẫn của thịt cừu nướng và bánh mì nóng, và tôi tự thưởng cho bản thân một trái táo trong khi mua thêm phô mai khô và thịt sấy khô.

Tôi cột chiếc giường xếp mới vào ba lô du lịch trong lúc nghĩ cách mang theo mấy thứ mới mua khi leo núi, rồi tôi quẹo vào một góc và suýt nữa đâm sầm vào một nhóm binh sĩ.

Tim tôi đập loạn xạ khi nhìn thấy áo khoác dài màu ô liu và súng trường đeo sau lưng của họ. Tôi muốn quay lưng bỏ chạy về phía ngược lại, nhưng tôi tiếp tục cúi đầu xuống và cố rảo bước với vận tốc bình thường. Khi họ đã đi qua, tôi mạo hiểm ngoái đầu lại nhìn. Họ không tỏ vẻ nghi ngờ hay theo dõi tôi gì cả. Nói cho đúng hơn, dường như họ chẳng làm gì hết. Họ đang cười nói và đùa giỡn, một trong số họ huýt sáo với một cô gái đang phơi đồ.

Tôi rẽ vào một lối đi nhỏ và đợi cho nhịp tim của mình trở lại bình thường. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tôi đã trốn khỏi Tiểu Điện hơn một tuần trước. Lúc này hẳn tin tức đã được truyền đi rồi. Tôi chắc rằng Hắc Y đã gửi kị sĩ đến mọi trung đoàn ở những thị trấn trong cả nước rồi. Tất cả thành viên của Thượng Quân và Hạ Quân đáng ra bây giờ đang phải đi tìm tôi.

Trong lúc rời khỏi Ryevost, tôi nhìn thấy những binh lính khác, họ đang nghỉ phép, những người khác đang làm nhiệm vụ, nhưng dường như không ai trong số họ sốt sắng tìm kiếm tôi. Tôi không biết điều này nghĩa là gì. Tôi tự hỏi không biết mình có nên cảm ơn Baghra hay không. Có lẽ bà ấy đã xoay xở để thuyết phục được Hắc Y rằng tôi đã bị người Fjerda bắt cóc, hoặc thậm chí là đã bị giết hại. Hoặc có khi anh ta nghĩ rằng tôi đã đến được phía Tây rồi chẳng hạn. Tôi quyết định không nên thử vận may hơn nữa và nhanh chóng tìm đường rời khỏi thị trấn.

Đoạn đường mất nhiều thời gian hơn dự tính, phải đến quá nửa đêm tôi mới đến được ngoại ô phía Tây thành phố. Đường xá tối om và vắng người, ngoại trừ vài ba quán rượu bất hảo và những lão già say xỉn đứng tựa vào tường nhà và hát nhỏ cho chính mình nghe. Trong lúc tôi chạy ngang qua một nhà trọ ồn ào thì cửa trước bỗng mở tung, và một gã đàn ông mập mạp ngã vật xuống đường trong ánh đèn chói chang và tiếng nhạc xập xình.

Gã ta nắm lấy áo khoác của tôi và kéo lại gần. “Chào cô em xinh đẹp! Em đến để sưởi ấm cho anh à?”

Tôi cố vùng vẫy.

“Trông em yếu ớt vậy mà mạnh dữ.” Tôi có thể ngửi thấy mùi bia nồng nặc đượm trong hơi thở nóng ấm của gã.

“Buông tôi ra,” tôi thấp giọng nói.

“Đừng vậy mà, lapushka,” gã lèo nhèo. “Anh và em có thể vui vẻ với nhau mà.”

“Tôi đã nói là buông tôi ra!” tôi đặt tay lên ngực gã và đẩy ra.

“Chưa được đâu,” gã cười khùng khục và lôi tôi vào một con hẻm tối tăm bên cạnh quán rượu. “Anh muốn cho em thấy thứ này.”

Tôi hất nhẹ cổ tay và cảm thấy những mảnh gương trượt vào giữa kẽ tay một cách an tâm. Tay tôi vung ra và ánh sáng chiếu thẳng vào mắt gã trong chớp nhoáng.

Gã gào lên khi bị ánh sáng làm mù mắt và buông tha tôi để huơ tay loạn xạ. Tôi đã làm theo lời Botkin chỉ dạy. Tôi đạp mạnh lên chân gã và đưa chân vòng ra sau mắt cá của gã. Gã ngã rầm xuống đất, chổng cẳng.

Ngay lúc đó, cửa hông quán rượu bật mở. Một người lính mặc quân phục bước ra, một tay cầm chai kvas, tay còn lại ôm chặt một người phụ nữ ăn mặc hở hang. Tôi kinh hoàng nhận ra ông ta mặc trang phục màu than tượng trưng cho vệ sĩ của Hắc Y. Ông ta lờ mờ quan sát cảnh tượng trước mắt: gã đàn ông nằm đo đất và tôi đứng cạnh gã.

“Chuyện này là sao?” ông ta lè nhè. Người nữ được ông ta ôm lấy cười khúc khích.

“Tôi bị mù rồi!” gã đàn ông đang nằm trên đất rống lên. “Cô ta làm mù mắt tôi rồi!”

Người oprichniki nhìn gã rồi lại quay sang tôi. Ánh mắt chúng tôi gặp nhau, và sự ngỡ ngàng hiện ra trên mặt ông ta. Vận may của tôi đã hết. Dù không ai đang tìm tôi thì vệ sĩ của Hắc Y cũng sẽ tìm.

“Cô...,” ông ta thì thầm.

Tôi bỏ chạy.

Tôi lao vào một con hẻm và tiến sâu vào một mê cung toàn những lối đi chật hẹp, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Ngay sau khi rời khỏi được những tòa nhà tồi tàn cuối cùng ở Ryevost, tôi chạy ra khỏi đường và chui vào một bụi rậm. Những nhánh cây sạt qua má và trán tôi trong lúc tôi lảo đảo chạy sâu hơn vào rừng.

Tiếng của những người đang đuổi theo vang lên phía sau: Những người đàn ông hò hét,tiếng bước chân nặng nề trong rừng. Tôi muốn bỏ hết mà chạy, nhưng tôi bắt mình dừng lại và lắng nghe.

Họ đang ở phía Tây và đang tìm kiếm gần đường cái. Tôi không biết có bao nhiêu người tất thảy.

Tôi ghìm hơi thở và nhận ra mình nghe thấy tiếng nước chảy. Phải có một con suối ở đâu đây, một nhánh sông chẳng hạn. Nếu tôi có thể đến gần nguồn nước thì tôi có thể xóa dấu vết của mình, và họ sẽ phải chật vật tìm tôi trong bóng tối.

Tôi lần theo hướng suối chảy, thi thoảng dừng lại để đi cho đúng hướng. Tôi khó nhọc leo lên một ngọn đồi dốc đến mức tôi gần như phải nắm lấy những nhánh cây và rễ cây trên đất mà bò lên.

“Ở đó!” Tiếng nói phát ra bên dưới tôi, và khi ngoái đầu nhìn về phía sau, tôi nhìn thấy những đốm sáng đi xuyên qua khu rừng để tiến về phía chân đồi. Tôi bò lên cao hơn, đất cát trượt dưới lòng bàn tay, mỗi hơi thở như đốt cháy lồng ngực. Khi tôi đến được đỉnh đồi, tôi lê người qua gò cao và nhìn xuống dưới. Tôi cảm thấy một tia hy vọng khi phát hiện ánh trăng đang tỏa sáng lấp lánh trên mặt suối.

Tôi trượt xuống khỏi đồi dốc, nghiêng người ra sau để giữ thăng bằng và chạy nhanh hết mức có thể. Tôi nghe thấy tiếng la hét, và khi tôi quay lại, tôi nhìn thấy bóng dáng của những người đuổi theo tôi trên nền trời buổi đêm. Họ đã lên đến đỉnh đồi.

Tôi hoảng lên và bắt đầu chạy xuống dốc, làm đổ xuống mặt suối bên dưới những cơn mưa đá sỏi va lóc cóc vào nhau. Con dốc quá cao. Tôi trượt chân ngã về phía trước và đập mạnh xuống mặt đất khiến hai tay trầy xước, mất thăng bằng, tôi ngã nhào xuống đồi rồi rơi chúi vào dòng nước lạnh lẽo.

Trong một chốc, tôi tưởng tim mình đã ngừng đập. Cái lạnh như một bàn tay băng giá siết chặt lấy tôi trong lúc tôi chìm sâu xuống nước. Rồi tôi ngoi đầu lên khỏi mặt nước và thở dốc, cố hớp lấy không khí quý giá trước khi dòng chảy lại tóm lấy tôi và kéo xuống nước lần nữa. Tôi không biết dòng nước cuốn mình đi bao xa. Tất cả những gì tôi nghĩ đến là lần thở tiếp theo và sự tê cứng đang dần tăng lên khắp chân tay.

Cuối cùng, khi tôi nghĩ rằng mình không thể ngoi lên mặt nước được nữa thì dòng chảy đã đưa tôi đến một hồ nước tĩnh lặng và yên ả. Tôi bám lấy một tảng đá và nhoài người lên cạn, tôi lê từng bước một, đôi giày dưới chân trượt trên bề mặt láng bóng của tảng đá khi tôi lảo đảo dưới sức nặng của tấm áo khoác ướt sũng.

Tôi không biết mình đã làm thế nào, nhưng cuối cùng cũng vào được khu rừng rồi ngã xuống dưới một bụi cây rậm rạp, run cầm cập vì lạnh và vẫn tiếp tục ho ra nước sông.

Đêm đó quả là đêm tệ hại nhất đời tôi. Áo khoác của tôi ướt sũng. Hai chân tê cóng trong giày. Tôi giật mình trước bất kì âm thanh nào vì nghĩ rằng mình đã bị phát hiện. Mũ lông thú, túi du lịch đầy thức ăn và chiếc giường xếp mới của tôi đã bị thất lạc đâu đó trên thượng nguồn, thế là cuộc du ngoạn đầy sóng gió vào Ryevost của tôi đã thành công cốc. Túi tiền cũng mất rồi. Ít nhất con dao của tôi vẫn còn an toàn giắt bên hông.

***

Khi trời gần sáng, tôi triệu hồi một luồng sáng mặt trời để hong khô giày và sưởi ấm đôi tay lạnh cóng của mình. Tôi gà gật thiếp đi và mơ thấy Baghra cầm dao kề sát cổ tôi, tiếng cười của bà vang lên bên tai tôi khô khốc.

Tôi tỉnh giấc vì tiếng tim đập thình thịch của mình và âm thanh chuyển động xung quanh khu rừng. Tôi đã dựa vào gốc cây rồi ngủ quên, ẩn sau những bụi cây rậm rạp - tôi mong là thế.

Tôi không nhìn thấy ai từ chỗ mình đang ngồi nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng người ở phía xa. Tôi ngồi cứng tại chỗ, do dự không chắc phải làm gì. Nếu tôi di chuyển thì có thể sẽ đánh động họ, nhưng nếu tôi giữ nguyên vị trí thì chẳng mấy chốc mà họ sẽ tìm ra tôi.

Tim tôi bắt đầu đập mạnh khi âm thanh tiến gần hơn. Qua những tàng cây, tôi nhìn thấy một người lính râu quai nón có dáng người to bè. Ông ta cầm súng trường trên tay, nhưng tôi biết họ sẽ không đời nào giết tôi. Tôi quá quý giá mà. Điều đó cho tôi một lợi thế, nếu tôi sẵn sàng chịu chết.

Họ sẽ không thể bắt mình được. Ý nghĩ ấy đột nhiên đến với tôi, vững vàng và chắc chắn. Mình sẽ không quay về đâu.

Tôi vung nhẹ cổ tay và một mảnh gương trượt vào bàn tay trái. Tôi kéo con dao nhỏ ra bằng tay còn lại, cảm nhận được sức nặng từ loại thép của Grisha trong lòng bàn tay mình. Tôi cúi người xuống chờ đợi trong im lặng. Tôi hoảng sợ nhưng đồng thời cũng ngạc nhiên vì phần nào đó trong người lại cảm thấy kích thích.

Tôi theo dõi người lính râu quai nón ấy qua tàng lá, ông ta tiến đến gần hơn cho đến khi cách tôi chỉ vài bước. Tôi có thể nhìn thấy một giọt mồ hôi chảy dọc xuống cổ ông ta và nắng sớm lóe lên trên nòng súng, trong một khoảnh khắc, tôi tưởng rằng ông ta đang nhìn thẳng vào tôi. Một tiếng gọi phát ra từ sâu trong rừng. Người lính hét lại với họ. “Nickyeyo!” Không có gì hết.

Và rồi, ngạc nhiên làm sao, ông ta quay lưng và rời khỏi chỗ tôi.

Tôi lắng nghe âm thanh dần biến mất, tiếng nói ngày càng xa hơn, tiếng bước chân cũng dần nhỏ lại. Không lẽ tôi lại may mắn đến thế sao? Có khi nào họ lại nhầm lẫn dấu vết của tôi với một con thú hay một người lữ hành khác không? Hay đó là một cái bẫy? Tôi tiếp tục chờ đợi, cả người run lên cầm cập cho đến khi chỉ còn nghe được tĩnh lặng của rừng cây, tiếng côn trùng và chim chóc kêu lích rích cùng tiếng gió thổi xào xạc qua những lùm cây.

Cuối cùng, tôi trượt mảnh gương trở lại vào găng tay và run rẩy hít một hơi sâu. Tôi bỏ con dao lại vào bao và chậm rãi đứng lên. Tôi với lấy áo khoác còn ẩm đang nằm một đống trên đất của mình và sững người lại vì tiếng bước chân khẽ khàng không thể nhầm đi đâu được.

Tôi quay đầu nhìn lại, tim như muốn dâng tới cổ họng, và tồi nhìn thấy một dáng người lấp ló sau những nhánh cây chỉ cách tôi vài mét. Tôi quá tập trung vào người lính râu quai nón nên đã không nhận ra có một người khác ở phía sau. Trong thoáng chốc, lưỡi dao lại sẵn sàng trong tay tôi, mảnh gương được giơ cao trong lúc bóng người đó lặng lẽ rời khỏi chỗ nấp. Tôi nhìn chằm chằm vào cậu ta, chắc tôi đang gặp ảo giác rồi.

“Mal.” Tôi mở miệng để cất tiếng, nhưng cậu ấy đưa tay lên môi để cảnh báo, mắt vẫn không rời tôi. Cậu ấy chờ một lúc để lắng nghe xung quanh rồi ra hiệu cho tôi đi theo vào trong khu rừng. Tôi cầm lấy áo khoác và nhanh chóng theo sau, cố hết sức để đuổi kịp cậu ấy. Chuyện đó thật không dễ dàng gì. Cậu ấy đi trong yên lặng, luồn lách qua những nhánh cây như một cái bóng, tựa như cậu ấy có thể nhìn thấy những lối đi vô hình mà người khác không thể thấy.

Cậu ấy dẫn tôi về chỗ con suối, nơi có một khúc cạn nước để có thể lội qua bờ bên kia. Tôi rụt người lại khi dòng nước lạnh lẽo lại tràn vào trong giày lần nữa. Khi chúng tôi đến được bờ bên kia, cậu ấy đi vòng lại để xóa hết dấu vết của cả hai.

Người tôi muốn vỡ tung với hàng loạt câu hỏi, và tâm trí tôi cứ nhảy từ câu này sang câu khác. Làm sao Mal tìm thấy tôi? Cậu ấy cũng đuổi theo tôi cùng với những binh sĩ khác sao? Chuyện cậu ấy giúp đỡ tôi là sao? Tôi muốn vươn tay ra chạm lấy cậu ấy để chắc rằng đây là sự thật. Tôi muốn vòng tay ôm chặt lấy cậu ấy để tỏ lòng biết ơn. Tôi muốn đấm vào mắt cậu ấy vì những gì cậu ấy đã nói với tôi ở Tiểu Điện đêm đó.

Chúng tôi đi bộ hàng giờ liền trong im lặng. Thi thoảng cậu ấy sẽ ra hiệu cho tôi dừng lại, và tôi sẽ chờ trong khi cậu ấy biến mất sau những bụi cây để xóa dấu vết của cả hai để lại. Vào buổi trưa, chúng tôi bắt đầu leo lên một con đường đầy đá sỏi. Tôi không biết con suối đã đưa tôi dạt vào đâu, nhưng tôi mơ hồ đoán rằng cậu ấy hẳn đang dẫn tôi đến Petrazoi.

Mỗi bước đi là một cực hình. Giày của tôi vẫn còn ướt, và những vết phồng rộp mới bắt đầu nổi lên trên từng ngón và gót chân của tôi. Buổi đêm khốn khổ ở trong rừng của tôi tối qua đã để lại di chứng là cơn đau đầu như búa bổ và tôi hoa hết cả mắt vì thiếu ăn, nhưng tôi không phàn nàn. Tôi giữ im lặng trong lúc cậu ấy dẫn tôi leo lên núi rồi rời khỏi đường mòn, tôi loạng choạng trên đá sỏi cho đến khi hai chân run rẩy kiệt sức và cổ họng cháy khô vì khát. Cuối cùng Mal cũng dừng lại, lúc đó chúng tôi đang ở trên đỉnh núi, được che kín sau một dãy đá nhô lên và vài ba cây thông mọc không đều.

“Đây,” cậu ấy nói và thả ba lô xuống. Cậu ấy sải từng bước vững vàng đi xuống núi, và tôi biết cậu ấy đang cố xóa hết dấu vết của cuộc leo núi vụng về của tôi trên những tảng đá.

Tôi ngồi xuống mặt đất và nhắm mắt lại với vẻ biết ơn. Chân tôi vẫn còn nhức, nhưng tôi sợ rằng nếu cởi giày ra rồi hẳn tôi sẽ không bao giờ mang chúng vào nữa. Đầu tôi gục xuống, nhưng tôi không thể cho phép mình ngủ được. Vẫn chưa tới lúc. Tôi có hàng ngàn câu hỏi, nhưng chỉ có một câu là không thể chờ đến sáng mai.

Khi Mal trở lại cũng là lúc trời chập tối, cậu ấy bước từng bước khẽ khàng rồi ngồi xuống đối diện tôi và lôi ra một bi đông đựng nước trong ba lô. Sau khi hớp một ngụm, cậu ấy đưa tay chùi miệng và đưa nước cho qua tôi. Tôi nốc từng ngụm lớn.

“Chậm thôi,” cậu ấy nói. “Phần đó phải để dành đến hết ngày mai nữa.”

“Xin lỗi.” Tôi đưa bi đông lại cho cậu ta.

“Tối nay chúng ta không thể mạo hiểm nhóm lửa được,” cậu ấy nói trong lúc nhìn vào bóng tối xung quanh. “Có lẽ phải đến mai.”

Tôi gật đầu. Áo khoác của tôi đã khô hẳn trong lúc leo lên núi, tuy nhiên tay áo vẫn còn hơi ẩm. Tôi cảm thấy mình tơi tả, dơ bẩn và lạnh lẽo. Nhưng hơn hết, tôi chỉ đang choáng váng với phép màu đang ngồi trước mặt tôi. Tôi sẽ nghĩ về nó sau. Tôi phải hỏi điều này trước đã, dù rất sợ phải nghe câu trả lời.

“Mal.” Tôi chờ đến khi cậu ấy quay lại nhìn tôi. “Bồ đã tìm ra bầy hươu chưa? Bồ đã bắt được con hươu đực Morozova chưa?”

Cậu ấy gõ tay lên đầu gối. “Tại sao chuyện đó lại quan trọng đến thế?”

“Chuyện dài lắm. Mình cần phải biết, anh ta có con hươu đực chưa?”

“Vẫn chưa.”

“Nhưng cũng sắp rồi, phải không?”

Cậu ấy gật đầu. “Nhưng mà...”

“Nhưng mà cái gì?”

Mal chần chừ. Trong nắng chiều cuối ngày còn sót lại, tôi nhìn thấy thoáng ẩn hiện của nụ cười ngạo nghễ mà tôi từng biết rõ xuất hiện trên môi cậu ấy. “Mình không nghĩ họ sẽ tìm thấy nó nếu thiếu mình đâu.” Tôi nhướng mày. “Vì bồ quá giỏi sao?”

“Không,” cậu ấy nói, vẻ mặt nghiêm túc trở lại. “Có lẽ vậy. Đừng hiểu lầm. Họ đều là những người dò đường giỏi, giỏi nhất trong Thượng Quân, nhưng mà... bồ phải có dự cảm tốt mới có thể lần theo dấu vết của bầy hươu. Chúng không phải loài vật bình thường.” Và bồ cũng không phải một người dò đường bình thường, tôi thầm nghĩ nhưng không nói ra. Tôi quan sát cậu ấy và nhớ những gì Hắc Y đã nói về chuyện không hiểu rõ thiên phú của mình. Có lẽ nào tài năng của Mal còn nhiều hơn cả vận may và luyện tập? Cậu ấy hẳn nhiên chưa bao giờ thiếu tự tin, nhưng tôi không cho là cậu tự mãn.

“Mình mong là bồ nói đúng,” tôi lẩm bẩm.

“Giờ bồ trả lời mình đi,” cậu ấy nói, giọng nói nghe sắc lẻm. “Vì sao bồ phải chạy trốn?”

Lần đầu tiên tôi chợt nhận ra Mal hoàn toàn không biết tại sao tôi phải trốn khỏi Tiểu Điện, vì sao Hắc Y lại đang cho người tìm tôi. Lần cuối cùng gặp mặt, tôi gần như đã ra lệnh cho cậu ấy biến khỏi tầm mắt, nhưng rồi cậu ấy vẫn bỏ lại mọi thứ và đến giúp tôi. Cậu ấy đáng được nghe một lời giải thích, nhưng tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi thở dài và đưa một tay xoa mặt. Tôi đã đưa cả hai vào rắc rối gì thế này?

“Nếu mình nói với bồ mình đang cố cứu rỗi thế giới thì bồ có tin không?”

Cậu ấy nhìn tôi chằm chằm với ánh mắt nghiêm nghị. “Vậy đây không phải là một cuộc cãi nhau với người yêu theo kiểu bồ bỏ chạy rồi lại quay về với anh ta sao?”

“Không!” tôi kinh ngạc kêu lên. “Không phải thế... chúng mình không phải...” tôi không biết phải nói gì, và rồi tôi chỉ có thể cười to. “Mình ước gì chuyện chỉ có thế.”

Mal im lặng một lúc lâu. Rồi sau đó tựa như đã quyết định được điều gì, cậu ấy bèn nói, “Được rồi.” Cậu ấy đứng dậy vươn vai và đeo súng trường ra sau vai. Sau đó cậu ấy lôi ra một tấm chăn dày bằng lông cừu từ trong ba lô và quăng nó cho tôi.

“Nghỉ một chút đi,” cậu ấy nói. “Mình sẽ thức canh ca đầu.” Cậu ấy quay lưng lại với tôi và nhìn lên vầng trăng đang mọc trên thung lũng chúng tôi đã bỏ lại phía sau.

Tôi cuộn người trên nền đất rắn và quấn chặt tấm chăn quanh mình để giữ ấmTuy cảm thấy rất khó chịu nhưng mí mắt của tôi dần sụp xuống và tôi có thể cảm thấy nỗi nhọc mệt đang kéo tôi vào giấc ngủ.

“Mal,” tôi thì thầm trong đêm đen.

“Chuyện gì?”

“Cảm ơn vì đã đi tìm mình.”

Tôi không biết liệu mình có đang mơ hay không, nhưng đâu đó trong bóng đêm tĩnh mịch, tôi tưởng mình đã nghe cậu ấy thì thầm, “Lúc nào cũng vậy mà.”

Tôi để cơn buồn ngủ kéo tới.

ỐI VÀ XƯƠNG TRẮNG Nguyên tác: Shadow and bone ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Trẻ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.