Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter 18

❊ ❊ ❊

Sáu tháng sau, người bạn của tôi (anh là một cử nhân độc thân đã quá tuổi trung niên, nổi tiếng là người kỳ quặc và là chủ một nhà máy xay lúa) viết thư cho tôi. Dựa vào sự nhiệt tình trong lời giới thiệu của tôi mà đoán rằng tôi hẳn rất muốn nghe tin, anh kể lể dài dòng về những đức tính hoàn hảo của Jim. Chúng dường như thuộc loại điềm đạm và thiết thực. “Cho đến nay, trong lòng tao vẫn chưa thể nảy sinh sự dung thứ nào nhiều hơn mức miễn cưỡng đối với bất kỳ kẻ đồng loại nào, nên tao vẫn sống thui thủi một mình trong một ngôi nhà mà ngay cả cái khí hậu hầm hập này cũng phải coi là quá rộng cho một người. Tao đã giữ nó ở cùng tao một thời gian qua rồi. Có vẻ như tao đã không chọn nhầm người.” Đọc bức thư này, tôi có cảm giác người bạn của tôi không chỉ dừng lại ở sự dung thứ dành cho Jim — mà đã bắt đầu có thiện cảm thực sự. Dĩ nhiên, anh bày tỏ lý do theo một cách rất riêng của mình. Một là, Jim vẫn giữ được sự tươi tắn giữa cái khí hậu khắc nghiệt ấy. Nếu nó là con gái — bạn tôi viết — người ta có thể bảo là đang độ xuân sắc — nở nang e ấp — như đóa hoa violet, chứ không giống mấy loài hoa nhiệt đới phô trương kia. Nó ở nhà anh được sáu tháng rồi, mà chưa hề có ý định vỗ vai anh, hay gọi anh là “lão bạn già”, hay cố làm cho anh thấy mình là một thứ hóa thạch lỗi thời. Nó không hề có kiểu ba hoa phiền toái của tụi trẻ. Nó tính tình dễ chịu, không nói nhiều, hoàn toàn chẳng lấy gì làm thông minh cho lắm, ơn Chúa — bạn tôi viết. Thế nhưng, xem ra Jim đủ khôn ngoan để biết âm thầm thán phục sựóm hóm của anh, mặt khác lại làm anh thấy vui vì sự ngây thơ của nó. “Hơi sương vẫn còn vương trên người nó, và từ khi tao nảy ra cái ý tưởng thông minh là cho nó một căn phòng trong nhà và cho ăn cùng bàn, chính tao cũng thấy mình bớt cằn cỗi đi phần nào. Hôm nọ, tự dưng nó nổi hứng băng qua phòng chẳng vì mục đích gì ngoài việc mở cửa giúp tao; và tao thấy mình gần gũi với nhân loại hơn hẳn suốt bao nhiêu năm qua. Nực cười thật phải không? Dĩ nhiên tao đoán chắc có điều gì đó — một vết nhơ nhỏ khủng khiếp nào đó — mà mày biết rõ tútần tật; nhưng dẫu tao chắc chắn nó cực kỳ ghê tởm đi nữa, tao nghĩ người ta vẫn có thể tha thứ được. Riêng tao, tao dám chắc nó chẳng bao giờ phạm tội gì tồi tệ hơn là ăn trộm trái cây trong vườn. Có tệ hơn thế nhiều không? Có lẽ mày nên nói trước cho tao; nhưng đã lâu lắm rồi từ khi cả hai chúng ta đều hóa thành thánh thiện nên có khi mày quên mất rằng chúng ta cũng từng có thời lầm lỗi chăng? Biết đâu có ngày tao sẽ phải hỏi mày, và khi đó tao mong sẽ được kể cho nghe. Tao không thích gặng hỏi nó cho đến khi tao lỡ mờ hình dung đó là chuyện gì. Hơn nữa, còn quá sớm. Cứ để nó mở cửa giúp tao thêm dăm lần nữa đã. . . .” Người bạn tôi là thế đấy. Tôi vui mừng gấp ba — vì Jim tiến bộ quá tốt, vì giọng văn trong thư, và vì sự thông minh của chính tôi. Hiển nhiên là tôi đã biết mình đang làm gì. Tôi đã nhìn người rất chuẩn, đại loại thế. Và nhỡ đâu có điều gì đó bất ngờ và tuyệt vời sẽ từ đó mà nở hoa thì sao? Chiếc tối hôm ấy, ngả mình trên chiếc ghế dài dưới mái hiên đuôi tàu (lúc bấy giờ chúng tôi đang ở cảng Hong Kong), tôi đã đặt những viên gạch đầu tiên cho lâu đài trên không của Jim.

Tôi có một chuyến đi ra miền Bắc, và khi trở về, tôi tìm thấy một bức thư khác của người bạn đang chờ mình. Đó là phong bì đầu tiên tôi xé mở. “Chẳng có chiếc thìa nào biến mất cả, theo như tao biết,” dòng đầu tiên viết; “tao chẳng hứng thú gì để mà đi dò la. Nó đi rồi, để lại trên bàn ăn một mảnh giấy xin lỗi khách sáo, nghe vừa ngớ ngẩn vừa vô cảm. Chắc là cả hai — mà đối với tao thế nào cũng mặc. Cho phép tao nói trước, kẻo mày lại còn giấu giếm gã thanh niên bí ẩn nào khác trong tay áo, là tao đã dẹp tiệm, dứt khoát và vĩnh viễn. Đây là sự kỳ quặc cuối cùng mà tao đời nào phạm phải nữa. Đừng có mà tưởng bão táp trong lòng hay tao tiếc nuối cái quái gì; nhưng tụi trong các buổi tiệc quần vợt tiếc nó lắm đấy, và vì thể diện của chính tao, tao đã bịa ra một lời nói dối xuôi tai ở câu lạc bộ rồi. . . .” Tôi vứt bức thư sang một bên và bắt đầu bới đống thư từ trên bàn, cho đến khi chạm tay vào nét chữ của Jim. Bạn có tin nổi không? Một phần trăm cơ hội! Nhưng lúc nào cũng là cái cơ hội một phần trăm ấy! Gã kỹ sư phụ thứ hai của con tàu Patna đó đã xuất hiện trong cảnh túng thiếu ít nhiều, và kiếm được một chân tạm thời lo việc máy móc ở nhà máy xay. “Tôi không thể chịu nổi cái vẻ suồng sã của gã tiểu nhân ấy,” Jim viết từ một cảng biển cách nơi lẽ ra cậu phải đang phất lên bảy trăm dặm về phía Nam. “Bây giờ tôi tạm thời làm việc cho Egstrom & Blake, hãng cung ứng tàu thủy, với tư cách là — chà — nhân viên môi giới giao dịch, gọi đúng tên là thế. Để làm người bảo lãnh, tôi đã lấy tên anh, điều mà dĩ nhiên họ đều biết, và nếu anh có thể viết vài lời nói tốt giùm tôi thì đó sẽ là một công việc lâu dài.” Tôi hoàn toàn suy sụp dưới đống đổ nát của lâu đài cát của mình, nhưng dĩ nhiên tôi vẫn viết thư theo lời cầu xin. Trước khi năm kết thúc, chuyến hải trình mới lại đưa tôi đi ngang qua đó, và tôi đã có cơ hội gặp lại cậu ta.

Cậu ta vẫn đang làm cho hãng Egstrom & Blake, và chúng tôi gặp nhau ở nơi họ gọi là “phòng khách riêng” thông ra cửa hàng. Cậu vừa từ một con tàu trở về sau khi lên bờ, và sầm sập bước tới với cái đầu cúi thấp, sẵn sàng gây sự. “Anh có gì để thanh minh cho mình đây?” Tôi bắt đầu ngay khi chúng tôi bắt tay nhau. “Những gì tôi đã viết cho anh — chẳng có gì hơn,” cậu đáp lại một cách bướng bỉnh. “Gã kia buột miệng khai ra — hay thế nào?” Tôi hỏi. Cậu ngước nhìn tôi với một nụ cười đầy phiền muộn. “Ơ, không! Lão ta không làm thế. Lão biến nó thành một kiểu chuyện cơ mật giữa hai người chúng tôi. Lão cứ ra điều bí hiểm một cách đáng ghét mỗi khi tôi sang nhà máy xay; lão cứ nháy mắt với tôi vẻ đầy cung kính — ra điều ‘Chúng ta thừa biết chuyện gì rồi nhé’. Nịnh hót và suồng sã một cách bỉ ổi — kiểu đại loại thế. . .” Cậu ngả người phịch xuống ghế và trân trân nhìn xuống đôi chân mình. “Có hôm tình cờ chỉ có hai người và gã đó dám cả gan nói rằng, ‘Nào, thưa ông James’ — tôi được gọi là ông James ở đó cứ như thể tôi là thiếu gia nhà chủ vậy — ‘chúng ta lại được gặp nhau đây rồi. Thế này sướng hơn con tàu cũ chứ nhỉ?’ . . . Nghe có kinh khủng không cơ chứ? Tôi nhìn lão ta, và lão ta làm bộ bề dày kinh nghiệm. ‘Xin ông cứ yên tâm, thưa ngài,’ lão nói. ‘Tôi nhìn người là biết ngay quý ông, và tôi biết một quý ông cảm thấy thế nào. Tuy nhiên, tôi hy vọng ông sẽ giữ tôi lại làm công việc này. Tôi cũng đã có một quãng thời gian khốn đốn, vì cái vụ con tàu Patna chết tiệt ấy đấy.’ Chúa ơi! Thật khủng khiếp. Tôi chẳng biết mình sẽ phải nói hay làm gì nếu lúc đó không nghe thấy ông Denver gọi mình ở hành lang. Lúc đó là giờ ăn trưa, và chúng tôi cùng nhau băng qua sân, đi qua khu vườn để đến nhà nghỉ. Lão bắt đầu trêu chọc tôi bằng cái giọng thân thiện quen thuộc. . . Tôi tin là lão quý tôi . . .”

Jim im lặng một lát.

“Tôi biết lão quý tôi. Chính điều đó mới làm mọi chuyện trở nên khó khăn. Một người tuyệt vời biết bao! . . . Sáng hôm đó lão luồn tay vào cánh tay tôi. . . Cả lão nữa, cũng suồng sã với tôi.” Cậu bật cười ngắn ngủn, rồi gục cằm vào ngực. “Pha! Khi nhớ lại cách mà gã tiểu nhân đê tiện đó đã nói chuyện với tôi,” cậu thốt lên đột ngột với giọng run rẩy, “tôi không tài nào chịu nổi khi nghĩ về bản thân mình . . . Chắc anh cũng biết . . .” Tôi gật đầu. . . . “Tựa như một người cha,” cậu kêu lên; giọng cậu chùng xuống. “Lẽ ra tôi phải kể cho ông nghe. Tôi không thể cứ để mọi chuyện tiếp diễn như thế được — phải không nào?” “Thế nào?” tôi thì thầm, sau khi chờ đợi một lúc. “Tôi đành chọn cách bỏ đi,” cậu chậm rãi nói; “chuyện này phải được chôn vùi.”

Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng Blake đang mắng mỏ Egstrom ở ngoài cửa hàng với một giọng đầy miệt thị và căng thẳng. Họ đã hợp tác với nhau nhiều năm trời, và mỗi ngày từ lúc cửa hàng mở cửa cho đến phút cuối cùng trước khi đóng cửa, người ta đều nghe thấy Blake — một gã đàn ông thấp người với mái tóc đen nhánh chải láng mượt và đôi mắt láo liên đầy vẻ bất hạnh — không ngớt lời chì chiết đối tác của mình với một thứ giận dữ cay độc và ai oán. Âm thanh của trận mắng mỏi mòn ấy đã trở thành một phần của chốn này giống như những món đồ đạc cố định khác; thậm chí những kẻ tha phương cũng rất nhanh chóng phớt lờ nó đi hoàn toàn, trừ phi là để lẩm bẩm câu “Phiền phức thật”, hoặc vùng đứng dậy đóng sầm cửa “phòng khách” lại. Bản thân Egstrom, một gã người Scandinavia cao lêu ngêu, nặng nề, với phong thái tất bật và bộ ria mép vàng óng bề thế, vẫn tiếp tục chỉ đạo nhân viên, kiểm tra bưu phẩm, lập hóa đơn hoặc viết thư tại chiếc bàn đứng trong cửa hàng, và cư xử giữa thứ âm thanh hỗn độn đó cứ như thể hắn bị điếc đặc vậy. Thỉnh thoảng hắn lại thốt lên một tiếng “Sức” đầy bực bội và qua quýt, thứ chẳng tạo ra và cũng chẳng ai mong đợi nó tạo ra dù chỉ một hiệu ứng nhỏ nhất. “Họ đối xử rất tử tế với tôi ở đây,” Jim nói. “Blake là một tên tồi, nhưng Egstrom thì được.” Cậu đứng phắt dậy, bước những bước đều đặn đến chiếc kính thiên văn đặt trên giá ba chân bên cửa sổ chĩa thẳng ra vũng tàu đậu, rồi áp mắt vào đó. “Con tàu nằm bất động ngoài khơi suốt buổi sáng nay giờ đã có gió và đang cập cảng kìa,” cậu điềm tĩnh nhận xét; “tôi phải đi đón tàu đây.” Chúng tôi bắt tay trong im lặng, và cậu quay người bước đi. “Jim!” tôi kêu lên. Cậu quay lại với bàn tay đang đặt trên ổ khóa cửa. “Cậu — cậu đã vứt bỏ một cơ hội tựa như gia tài lớn.” Cậu quay lại chỗ tôi từ tận cửa. “Một lão già tuyệt vời đến thế,” cậu nói. “Làm sao tôi có thể? Làm sao tôi có thể chứ?” Môi cậu giật giật. “Ở đây thì chuyện đó chẳng hề gì.” “Ôi! Cậu — cậu—” tôi bắt đầu, và phải vắt óc tìm một từ ngữ cho thích hợp, nhưng trước khi tôi kịp nhận ra chẳng có cái tên nào vừa vặn cả, cậu đã đi mất. Tôi nghe thấy giọng trầm ấm, dịu dàng của Egstrom vang lên ở bên ngoài đầy hứng khởi: “Đó là tàu Sarah W. Granger đấy, Jimmy. Cậu phải cố gắng là người đầu tiên lên tàu nhé”; và ngay lập tức Blake chen ngang, rít lên như một con vẹt mào bị chọc tức: “Nhớ bảo với thuyền trưởng là chúng ta có một ít thư từ của hắn ở đây. Thế nào hắn cũng mò đến. Nghe rõ chưa, cái gã Gì-cũng-được hỡi mi?” Và rồi tiếng Jim đáp lời Egstrom với một nét trẻ trung trong giọng nói. “Được rồi. Tôi sẽ đua một phen xem sao.” Cậu dường như tìm thấy chốn dung thân trong phần chèo thuyền đầy cay đắng ấy của công việc.

Tôi không gặp lại cậu trong chuyến đi đó, nhưng ở chuyến tiếp theo (tôi có hợp đồng thuê tàu sáu tháng), tôi lại đến cửa hàng. Cách cửa hàng mười thước, tiếng mắng mỏ của Blake đã đập vào tai tôi, và khi tôi bước vào, hắn liếc nhìn tôi bằng ánh mắt tuyệt vọng cùng cực; Egstrom, toàn thân cười rạng rỡ, bước tới, chìa bàn tay to lớn và gầy guộc ra. “Rất vui được gặp lại kapten. . . . Sức. . . . Cứ nghĩ là cậu sắp quay lại đây chứ. Anh vừa nói gì cơ, thưa ngài? . . . Sức. . . . Ồ! Hắn á! Hắn bỏ chúng tôi đi rồi. Mời vào phòng khách.” . . . Sau tiếng đóng sầm cửa, giọng căng thẳng của Blake nhỏ dần, tựa như tiếng của một kẻ đang gào thét tuyệt vọng nơi hoang mạc. . . . “Làm chúng tôi phen khốn đốn. Xử tệ với chúng tôi lắm — phải nói thế. . . .” “Cậu ta đi đâu rồi? Anh có biết không?” tôi hỏi. “Không. Hỏi cũng chẳng ích gì,” Egstrom đáp, đứng trước tôi với bộ ria mép rậm rạp và vẻ số sắng, hai tay buông thõng vụng về hai bên sườn, sợi dây đồng hồ bạc mảnh mai vắt thõng rất thấp trên chiếc áo ghi-lê vải len xanh bị nhăn dúm dó. “Một kẻ như thế chẳng thèm đi đâu cụ thể cả.” Tôi quá bàng hoàng trước tin đó nên chẳng buồn hỏi nguyên nhân của lời phán xanh rờn ấy, và hắn tiếp tục nói. “Hắn đi — để xem nào — chính vào cái ngày mà một chiếc tàu hơi nước chở khách hành hương từ Biển Đỏ trở về ghé vào đây vì bị gãy hai cánh chân vịt. Tính ra là ba tuần nay rồi.” “Không lẽ có điều gì đó được nhắc tới về vụ con tàu Patna ư?” tôi hỏi, bụng dạ nơm nớp lo sợ điều tồi tệ nhất. Hắn giật thót người, nhìn tôi trân trân như thể tôi là phù thủy vậy. “Ơ kìa, đúng thế! Sao anh lại biết? Vài người trong bọn họ đã bàn tán về chuyện đó ở đây. Có một hoặc hai vị thuyền trưởng, quản lý xưởng cơ khí của Vanlo tại cảng, thêm hai ba người nữa, và cả tôi nữa. Jim lúc đó cũng đang ở đây, ăn bánh mì kẹp và uống một cốc bia; bạn biết đấy, thưa kapten — lúc chúng tôi bận rộn thì làm gì có thời gian mà ăn trưa cho đàng hoàng. Cậu ta đứng cạnh cái bàn này ăn bánh mì, còn đám chúng tôi thì túm tụm quanh chiếc kính thiên văn nhìn con tàu hơi nước đó cập cảng; rồi chẳng mấy chốc quản lý của Vanlo bắt đầu bàn về viên máy trưởng của con tàu Patna; lão từng nhận sửa chữa giùm hắn một lần, và từ đó lão lân la kể lể về cái đống đổ nát rách nát đó cùng số tiền kiếm được từ nó. Lão nhắc đến chuyến hải trình cuối cùng của nó, thế là tất cả chúng tôi cùng hùa vào bàn tán. Người nói câu này kẻ nói câu khác — chẳng có gì to tát — những điều mà anh hay bất kỳ ai cũng có thể thốt lên; rồi có cả tiếng cười đùa nữa. Thuyền trưởng O’Brien của tàu Sarah W. Granger, một lão già to lớn, ồn ào chống gậy — lão đang ngồi nghe chúng tôi trong chiếc ghế bành này đây — bỗng đập mạnh gầm xuống sàn nhà bằng cây gậy và quát lớn: ‘Đồ hèn nhát!’ . . . Làm tất cả chúng tôi giật nảy mình. Quản lý của Vanlo nháy mắt với chúng tôi rồi hỏi: ‘Có chuyện gì thế, Thuyền trưởng O’Brien?’ ‘Chuyện gì! Chuyện gì chứ!’ lão già bắt đầu gào lên; ‘mấy cái gã da đỏ tụi mày đang cười cái quái gì thế? Chẳng có gì đáng cười cả. Thật là một nỗi nhục nhã cho nhân loại — chính là thế đấy. Tao mà bị bắt gặp đứng chung phòng với một trong những kẻ đó thì tao khinh bỉ đến chết. Đúng thế, thưa ngài!’ Lão có vẻ bắt gặp ánh mắt tôi, và vì phép lịch sự nên tôi đành phải lên tiếng. ‘Đồ hèn nhát!’ tôi bảo, ‘tất nhiên rồi, Thuyền trưởng O’Brien, và bản thân tôi cũng chẳng màng giữ tụi chúng ở đây đâu, nên ông cứ yên tâm ngồi trong căn phòng này đi, Thuyền trưởng O’Brien. Làm ngụm gì cho mát đi chứ.’ ‘Mặc bố cái thứ đồ uống của cậu, Egstrom,’ lão nói với tia lấp lánh trong mắt; ‘khi nào muốn uống tao sẽ tự gọi. Tao té đây. Ở đây hôi thối quá rồi.’ Nghe thế tất cả những kẻ khác cười ồ lên, rồi kéo nhau lũ lượt rượt theo lão già. Và rồi, thưa ngài, cái gã Jim khốn kiếp ấy đặt chiếc bánh mì kẹp đang cầm trên tay xuống và bước vòng qua bàn tiến lại phía tôi; lúc đó cốc bia của cậu đã được rót đầy ắp. ‘Tôi đi đây,’ cậu nói — y như thế đấy. ‘Chưa đến một giờ rưỡi cơ mà,’ tôi bảo; ‘cậu cứ thong thả làm điếu thuốc đã chứ.’ Tôi tưởng cậu định xuống làm việc. Đến khi hiểu ra ý đồ của cậu, hai tay tôi buông thõng — thế này này! Đâu phải ngày nào cũng kiếm được một người như thế, thưa ngài; một tay cừ khôi chính hiệu trong việc chèo thuyền; sẵn sàng lao ra biển xa hàng dặm để đón tàu trong bất kỳ thứ thời tiết nào. Hết lần này đến lần khác, các vị thuyền trưởng bước vào đây với vẻ đầy phấn khích, và câu đầu tiên họ thốt lên sẽ là: ‘Cái gã nhân viên liên lạc tàu thủy nhà cậu đúng là một tên điên liều mạng, Egstrom ạ. Tôi đang dò dẫm cho tàu vào bờ lúc trời hừng sáng với bộ buồm thu gọn thì từ trong làn sương mù bay vút ra ngay dưới mũi tàu tôi một chiếc thuyền ngập nửa thân dưới nước, bọt nước tungóe qua cả đỉnh cột buồm, hai tên da đen hoảng hốt bám lấy sàn thuyền, và một tên ác quỷ đang gào thét bên tay lái. Này! Này! Tàu ahoy! ahoy! Thuyền trưởng! Này! Này! Người của Egstrom & Blake đây! Này! Này! Egstrom & Blake! Này! Này! hây! hò! Đạp bọn da đen xuống — thả bớt dây buồm — lúc đó trời đang nổi giông bão — cứ thế lao vút lên vừa hò hét vừa giục tôi giương buồm lên thì hắn sẽ dẫn đường vào — trông giống ma quỷ hơn là người. Chưa từng thấy ai điều khiển thuyền như thế trong đời. Chắc chắn là không say rượu rồi — phải không? Lại còn là một gã điềm đạm, ăn nói nhỏ nhẹ thế cơ chứ — đỏ mặt như con gái mỗi khi bước lên tàu. . . .’ Tôi nói thật với anh, Thuyền trưởng Marlow, chẳng ai có cửa cạnh tranh với chúng tôi khi đón những con tàu lạ một khi Jim đã ra quân. Mấy hãng cung ứng tàu thủy khác chỉ biết giữ mấy khách hàng cũ, còn chúng tôi thì . . .”

Egstrom có vẻ nghẹn ngào vì xúc động.

“Chà, thưa ngài — có vẻ như hắn chẳng ngại ngùng gì việc dấn thân ra biển xa cả trăm dặm trên một chiếc giày cũ chỉ để tóm lấy một con tàu cho hãng. Nếu công việc này là của chính hắn và toàn bộ cơ ngơi hãy còn đang gầy dựng, hắn cũng chẳng thể làm gì hơn thế. Thế mà bây giờ . . . bỗng dưng . . . lại thế này đây! Tôi thầm nghĩ trong đầu: ‘Ồ ho! Lại đòi tăng lương chứ gì — rắc rối là ở chỗ đó đây phỏng?’ ‘Được thôi,’ tôi bảo, ‘khỏi cần phải làm rùm beng với tôi như thế, Jimmy. Cứ đưa ra con số của cậu đi. Miễn là trong giới hạn hợp lý.’ Cậu ta nhìn tôi như thể đang muốn nuốt thứ gì đó mắc nghẹn ở cổ họng. ‘Tôi không thể ở lại với cậu được.’ ‘Cái trò đùa quái quỷ gì thế?’ tôi hỏi. Cậu ta lắc đầu, và tôi nhìn vào mắt là biết thừa cậu ta đã quyết tâm chuồn thẳng rồi, thưa ngài. Thế là tôi quay sang mắng mỏ cậu ta cho đến khi tối tăm mặt mày. ‘Cậu đang chạy trốn cái quái gì thế?’ tôi hỏi. ‘Đứa nào xúi giục cậu? Cái gì làm cậu sợ hãi? Cậu chẳng có nổi khôn ngoan bằng một con chuột; người ta chẳng bao giờ bỏ đi khi đang ở trên một con tàu tốt cả. Cậu còn mong kiếm được chỗ nào ngon hơn nữa cơ chứ?—cậu thế này, cậu thế nọ.’ Tôi làm cho cậu ta tái mặt luôn, nói thật với anh đấy. ‘Cái cửa hàng này đời nào sập tiệm,’ tôi bảo. Cậu ta giật bắn mình. ‘Tạm biệt nhé,’ cậu ta nói, gật đầu chào tôi như một ông lớn; ‘anh không hẳn là một kẻ tồi đâu, Egstrom. Tôi xin lấy danh dự thề rằng nếu anh biết rõ lý do của tôi thì anh sẽ chẳng thèm giữ tôi lại làm gì đâu.’ ‘Đó là lời nói dối to tát nhất mà đời này cậu từng thốt ra,’ tôi bảo; ‘tôi tự biết mình muốn gì chứ.’ Cậu ta làm tôi tức điên lên đến mức phải phì cười. ‘Cậu không thể ở lại lâu thêm chút nữa để uống cạn cốc bia này sao, cái gã buồn cười này?’ Tôi chẳng hiểu chuyện gì đã ám ảnh cậu ta nữa; cậu ta có vẻ không tìm nổi lối ra cửa; nghe buồn cười lắm cơ, thưa ngài. Tôi đành tự mình nốc cạn cốc bia ấy. ‘Thôi được, nếu cậu đang vội vã thế, chúc cậu may mắn với thứ đồ uống của chính mình vậy,’ tôi bảo; ‘nhưng hãy ghi nhớ lời tôi đây, nếu cậu cứ tiếp tục cái trò này thì rất nhanh thôi cậu sẽ thấy trái đất này chẳng đủ chỗ dung thân cho cậu đâu — chỉ vậy thôi.’ Cậu ta ném lại tôi một cái nhìn tối sầm, rồi co giò lao vút ra ngoài với gương mặt đủ sức dọa sợ trẻ con.”

Egstrom khịt mũi đầy cay đắng, và dùng những ngón tay thô ráp chải lại một bên ria mép màu nâu đỏ. “Từ dạo ấy tôi chẳng tài nào tuyển được một gã nhân viên nào ra hồn nữa. Làm ăn kinh doanh chỉ toàn rước lấy lo lắng, lo lắng và lo lắng. Mà sao kapten lại có dịp quen biết hắn nhỉ, nếu tôi mạo muội được hỏi?”

“Cậu ấy là máy phó của con tàu Patna trong chuyến hải trình định mệnh đó,” tôi đáp, cảm thấy mình nợ hắn một lời giải thích. Một lát sau Egstrom vẫn đứng im phăng phắc, các ngón tay vẫn cắm sâu vào mái tóc bên má, rồi bỗng nổi trận lôi đình. “Và quỷ tha ma bắt nào thèm quan tâm đến chuyện đó chứ?” “Tôi dám chắc là chẳng ai đâu,” tôi bắt đầu . . . “Và rốt cuộc hắn là cái thá gì — mà lại giở cái thói này ra cơ chứ?” Hắn đột ngột nhét mảng ria mép bên trái vào miệng và đứng chôn chân kinh ngạc. “Chúa ơi!” hắn thốt lên, “tôi đã bảo hắn là trái đất này sẽ không đủ chỗ để dung thân cho cái thói đời của hắn mà lị.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.