Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter 25

❊ ❊ ❊

“Đây là nơi tôi bị giam giữ trong ba ngày,” anh khẽ thì thầm với tôi (đó là dịp chúng tôi đến thăm Rajah), trong lúc chúng tôi đang chầm chậm bước qua một đám đông tuỳ tùng đầy kinh sợ khắp sân chầu của Tunku Allang. “Nơi chốn thật bẩn thỉu, phải không? Mà tôi chẳng tài nào kiếm nổi thứ gì để ăn, trừ phi làm ầm lên, thì rốt cuộc cũng chỉ nhận được một đĩa cơm nhỏ và một con cá rán chẳng to hơn con cá gai là mấy — quái quỷ thật! Chúa ơi! Tôi đã từng đói lả khi phải lảng vảng bên trong cái vòng rào hôi hám này, với đám lưu manh cứ chường thẳng cái mặt bọn chúng ngay sát mũi tôi. Tôi đã phải nộp cái khẩu súng lục nổi tiếng ấy của anh ngay từ yêu cầu đầu tiên. Thật nhẹ cả người khi tống khứ được cái thứ dở hơi đó đi. Trông cứ như thằng ngộ đi lại tay cầm một khẩu súng rỗng.” Đúng lúc ấy, chúng tôi diện kiến vị quân vương, và anh trở nên cực kỳ trang nghiêm, nhã nhặn với kẻ từng giam cầm mình. Ôi! Thật tuyệt vời! Nghĩ lại mà tôi chỉ muốn phì cười. Nhưng tôi cũng vô cùng ấn tượng. Lão Tunku Allang tai tiếng chẳng thể giấu nổi sự sợ hãi của mình (lão chẳng phải anh hùng cam go gì cho bcam những câu chuyện về tuổi trẻ nông nổi mà lão rất thích ba hoa); đồng thời, trong thái độ của lão đối với cựu tù nhân lại ẩn chứa một niềm tin cậy đầy tha thiết. Thấy chưa! Ngay cả ở nơi mà hắn đáng ghét nhất, hắn vẫn được tin tưởng. Jim — theo như những gì tôi có thể nắm bắt câu chuyện — đang nhân cơ hội này để ban bố một bài giáo huấn. Một vài dân làng nghèo khổ đã bị phục kích và cướp sạch khi đang trên đường đến nhà Doramin với vài mẩu nhựa cây hoặc sáp ong để đổi lấy gạo. “Chính Doramin mới là kẻ cướp,” Rajah thét lên. Một cơn thịnh nộ run rẩy dường như bao trùm lấy thể xác già nua gầy guộc ấy. Lão oằn oại một cách kỳ quái trên chiếc chiếu, khua khoắng tay chân, vứt tung cả búi tóc rối bù — một hiện thân bất lực của cơn cuồng nộ. Khắp xung quanh chúng tôi là những đôi mắt trợn trừng và những chiếc cằm rớt xuống. Jim bắt đầu cất lời. Một cách kiên quyết, điềm tĩnh, anh diễn giải hồi lâu về chân lý rằng không ai bị tước đoạt quyền kiếm ăn và nuôi con cái một cách lương thiện cả. Kẻ kia ngồi xếp bằng như một tay thợ may bên tấm ván, hai lòng bàn tay úp trên hai đầu gối, đầu cúi thấp, đăm đăm nhìn Jim qua mái tóc hoa râm loà xoa trước mắt. Khi Jim dứt lời, một sự im lặng bao trùm. Dường như chẳng ai dám thở; không một tiếng động vang lên cho đến khi lão Rajah khẽ thở dài, ngẩng đầu lên, hất mặt nói nhanh: “Các người nghe thấy rồi đấy! Chấm dứt ngay mấy trò mèo này đi.” Lệnh dụ ấy được đón nhận trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. Một người đàn ông khá to con, rõ ràng là một kẻ giữ trọng trách, với ánh mắt thông minh, khuôn mặt xương xẩu, rộng và ngăm đen, cùng tác phong xởi lởi đến mức sốt sắng (sau này tôi mới biết hắn là đao phủ) bưng hai tách cà phê trên chiếc khay đồng tiến đến chỗ chúng tôi, nhận lấy từ tay một tên hầu hạ cấp dưới. “Anh không cần uống đâu,” Jim nói nhanh như cắt. Lúc đầu tôi chưa hiểu ý, chỉ ngẩng lên nhìn anh. Anh nhấp một ngụm thật tự nhiên rồi điềm tĩnh ngồi đó, tay trái cầm đĩa lót. Chốc lát sau, tôi cảm thấy vô cùng bực bội. “Sao quái quỷ thế này,” tôi mỉm cười thân thiện với anh mà thì thầm, “anh lại đẩy tôi vào một rủi ro ngớ ngẩn đến vậy?” Đương nhiên là tôi phải uống, chẳng còn cách nào khác, trong khi anh chẳng lộ chút biểu cảm nào, và gần như ngay sau đó chúng tôi cáo từ ra về. Trên đường đi qua sân ra thuyền, được hộ tống bởi gã đao phủ thông minh và vui tính, Jim bày tỏ anh rất tiếc. Dĩ nhiên đó chỉ là tình huống hy hữu nhất. Về phần mình, anh chẳng màng gì đến chuyện độc tố. Chỉ là xác suất nhỏ nhất thôi. Anh được — như anh bảo đảm với tôi — coi là hữu dụng hơn là nguy hiểm bội phần, và thế là... “Nhưng Rajah sợ anh kinh hồn. Ai nhìn vào cũng thấy thế,” tôi tranh cãi, thú thực là với một chút bực dọc, trong khi mắt vẫn thấp thỏm chờ đợi cơn đau quặn thắt ghê rợn nào đó khởi phát. Tôi chán ngấy đến tận cổ. “Nếu tôi muốn làm được điều gì ích lợi ở đây và giữ vững vị thế của mình,” anh nói, ngồi xuống bên tôi trên thuyền, “tôi buộc phải chấp nhận mủi nhọn hiểm nguy: ít nhất một tháng tôi phải đối mặt với nó một lần. Rất nhiều người tin tưởng tôi làm điều đó — thay cho họ. Sợ tôi ư? Chính là thế đấy. Khả năng cao là lão sợ tôi vì tôi chẳng sợ mấy giọt cà phê của lão.” Rồi chỉ cho tôi thấy một đoạn ở mặt tiền phía bắc của hàng rào lũy, nơi chóp nhọn của mấy chiếc cọc đã bị gãy, anh bảo: “Đây là chỗ tôi nhảy qua vào ngày thứ ba ở Patusan. Bọn chúng vẫn chưa cắm cọc mới ở đó. Cú nhảy đẹp phết, nhỉ?” Chốc lát sau, chúng tôi lướt qua cửa một con lạch sền sệt bùn. “Đây là cú nhảy thứ hai của tôi. Tôi đà lấy đà một chút rồi bay qua khoảng không này, nhưng bị hụt. Cứ tưởng bỏ mạng lại cái da cái thịt ở đó rồi. Mất toi đôi giày vì vùng vẫy. Và suốt thời gian ấy, tôi cứ tự nhủ sẽ tồi tệ thế nào nếu bị một ngọn giáo dài ngoằng đâm trúng trong lúc cứ dính chặt dưới vũng bùn thế này. Tôi nhớ mình đã cảm thấy kinh tởm thế nào khi ngụp lặn trong thứ bùn nhão nhoét ấy. Ý tôi là tởm lợm thực sự — như thể vừa ngoạm phải thứ gì thối rữa.”

Mọi chuyện là thế đấy — và cơ hội đã chạy sát bên anh, nhảy qua khoảng trống, giãy giụa trong bùn lác... vẫn còn trong màn sương ẩn khuất. Bạn hiểu đấy, chính sự xuất hiện bất ngờ của anh là điều duy nhất cứu anh khỏi việc bị đâm chết ngay lập tức bằng mã tấu kris rồi ném xuống sông. Bọn chúng đã tóm được anh, nhưng cảm giác giống như chộp lấy một bóng ma, một ảo ảnh, một điềm gở. Nó có nghĩa là gì? Phải xử trí ra sao với hắn? Đã quá muộn để làm lành chưa? Không khéo cứ giết quách đi cho rồi chẳng hơn sao? Nhưng rồi chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? Lão Allang khốn khổ suýt phát điên vì hoảng loạn và vì sự khó khăn trong việc đưa ra quyết định. Đã mấy lần hội đồng họp hành tan rã, các cố vấn hớt ha hớt hải tháo chạy ra cửa rồi ra tới hiên nhà. Người ta đồn rằng thậm chí có kẻ còn nhảy tót xuống đất — ước chừng phải mười lăm thước — và gãy cả chân. Vị quan nhiếp chính hoàng gia của Patusan vốn có những tật kỳ quặc, và một trong số đó là việc hay chèn những lời ba hoa khoác lác vào mọi cuộc tranh luận gai góc, để rồi khi dần trở nên kích động, lão sẽ kết thúc bằng việc nhảy chồm lên tay lăm lăm mã tấu kris. Tuy nhiên, gác lại những quãng ngắt quãng ấy, các cuộc thảo luận về số phận của Jim vẫn tiếp diễn suốt ngày đêm.

Trong khi đó, anh lang thang khắp khoảng sân, kẻ thì lánh mặt, người thì trừng mắt nhìn, nhưng tất cả đều giám sát chặt chẽ, và gần như hoàn toàn phó mặc cho ơn huệ của bất kỳ tên côn đồ vô danh nào lăm lăm dao rựa trong đó. Anh chọn một cái lán nhỏ xiêu vẹo làm nơi ngủ; bầu không khí nồng nặc mùi hôi thối và rác rưởi phân hủy làm anh vô cùng khó chịu: dường như anh vẫn chưa mất đi cảm giác thèm ăn, bởi vì — như anh kể với tôi — anh đã đói meo suốt khoảng thời gian khốn khiếp ấy. Thỉnh thoảng, “một tên ngốc xít” nào đó được phái ra từ phòng họp lại hớt hải chạy đến chỗ anh, và với giọng ngọt ngào đưa ra những câu hỏi kỳ quặc đến sững sờ: “Liệu người Hà Lan có đến chiếm xứ này không? Người da trắng có muốn quay về xuôi dòng sông không? Mục đích đến một xứ sở khốn khổ thế này là gì? Rajah muốn biết liệu người da trắng có sửa được đồng hồ hay không?” Bọn chúng thực sự đã mang ra cho anh một chiếc đồng hồ bằng niken do New England sản xuất, và vì sự chán chường tột độ không thể chịu nổi, anh đành cặm cụi tìm cách sửa cho cái chuông báo thức hoạt động trở lại. Dường như chính trong lúc đang bận rộn với chiếc đồng hồ trong lán ấy, nhận thức rõ ràng về mối hiểm nguy tột cùng mới bừng tỉnh trong anh. Anh thả rơi thứ đó — theo lời anh kể — “như cầm phải củ khoai nóng,” và vội vã bước ra ngoài, hoàn toàn chẳng có lấy một ý niệm trong đầu về việc mình sẽ, hay thực ra là có thể, làm gì. Anh chỉ biết rằng tình cảnh đó đã vượt quá sức chịu đựng. Anh lang thang vô định qua một thứ kho lúa lụp xụp dựng trên những cây cột, và ánh mắt anh chợt bắt gặp những khúc cọc gãy của hàng rào palisade; rồi thì — anh kể — ngay lập tức, dường như chẳng cần qua bất kỳ quá trình tư duy nào, chẳng chút gợn sóng cảm xúc, anh bắt tay vào cuộc đào tẩu như thể đang thực hiện một kế hoạch đã được ấp ủ suốt cả tháng trời. Anh dạo bước thản nhiên để lấy đà thật tốt, và khi quay người lại thì có ngay một vị quan chức tòng sự với hai tên lính giáo sát bên khuỷu tay sẵn sàng chất vấn. Anh lao vút đi “ngay sát mũi hắn,” vượt qua “như một chú chim,” và đáp xuống bên kia bằng một cú ngã làm rung chuyển toàn bộ xương cốt và tưởng chừng muốn nứt cả đầu. Anh chồm dậy ngay tức khắc. Lúc đó anh chẳng nghĩ ngợi gì sất; tất cả những gì anh có thể nhớ — anh bảo — là một tiếng tru vang trời; những ngôi nhà đầu tiên của Patusan cách đó bốn trăm thước hiện ra trước mắt; anh thấy con lạch, và như một phản xạ máy móc, anh rảo bước nhanh hơn nữa. Mặt đất dưới chân anh dường như thực sự lùi vũng lại phía sau. Anh giậm nhảy từ điểm khô ráo cuối cùng, cảm thấy mình đang lao vút qua không trung, rồi cảm thấy bản thân, chẳng chút va đập nào, cắm thẳng đứng vào một bãi bùn cực kỳ mềm và dính nhẹp. Chỉ đến khi anh cố cử động đôi chân mà không sao nhúc nhích được thì, theo lời anh, “anh mới sực tỉnh.” Anh bắt đầu nghĩ đến mấy “ngọn giáo dài ngoằng khốn kiếp.” Thực ra, tính đến chuyện đám người trong thành lũy phải chạy ra cổng, rồi xuống bến nước, leo lên thuyền và chèo vòng qua một mũi đất, anh đã có khoảng thời gian đi trước lớn hơn anh tưởng. Hơn nữa, vì là lúc nước ròng, con lạch chẳng có chút nước nào — gọi là khô thì không đúng — và về cơ bản anh đã tạm thời an toàn trước mọi thứ, có chăng ngoại trừ một phát bắn ở cự ly cực xa. Vùng đất khô ráo cao hơn cách đó chừng sáu thước. “Tôi cứ nghĩ thế nào mình cũng bỏ mạng tại đó thôi,” anh kể. Anh với tay chộp lấy một cách tuyệt vọng, nhưng rốt cuộc chỉ vơ được một nhúm bùn nhão lạnh ngắt, gớm ghiếc áp vào ngực — tận cằm. Anh có cảm giác như mình đang bị chôn sống, rồi anh vùng vẫy điên cuồng, vung tay hất tung bùn đất. Bùn văng lên đầu, lên mặt, trùm qua mắt, lọt vào miệng anh. Anh bảo tôi rằng anh chợt nhớ lại cái khoảng sân đó, hệt như người ta nhớ về một nơi từng rất hạnh phúc từ nhiều năm trước. Anh khao khát — anh nói vậy — được quay trở lại đó, được sửa chiếc đồng hồ. Sửa chiếc đồng hồ — ý nghĩ là thế đấy. Anh dốc toàn lực, những nỗ lực thở hồng hộc, nghẹn ngào, những nỗ lực tưởng chừng muốn làm bứt tung nhãn cầu ra khỏi hốc và khiến anh mù lòa, để rồi dồn tụ lại trong một nỗ lực tối thượng duy nhất giữa chốn tối tăm nhằm xé đôi mặt đất, hất tung nó khỏi đôi chân — và anh cảm thấy mình đang lê bước yếu ớt bò lên bờ. Anh nằm sóng xoài trên nền đất cứng, ngắm nhìn ánh sáng, bầu trời. Rồi như một ý nghĩ vui vẻ chợt lóe lên, anh nảy ra ý định sẽ đi ngủ. Anh quả quyết rằng quả thực mình đã chìm vào giấc ngủ; rằng anh đã ngủ — có lẽ được một phút, có lẽ hai mươi giây, hoặc chỉ một giây thôi, nhưng anh nhớ rất rõ cái giật mình thon thót đầy co giật khi tỉnh giấc. Anh nằm im lìm một lúc lâu, rồi lổ chổ bùn đất từ đầu đến chân, đứng dậy ở đó, nghĩ rằng mình là kẻ đồng loại duy nhất trong bán kính hàng trăm dặm, cô độc, chẳng có lấy một sự trợ giúp, một sự cảm thông hay niềm thương hại nào để mong đợi từ bất kỳ ai, hệt như một con thú bị săn đuổi. Những ngôi nhà đầu tiên cách anh không quá hai mươi thước; chính tiếng thét tuyệt vọng của một người phụ nữ hoảng loạn đang cố bồng đứa con chạy trốn đã đánh động anh lần nữa. Anh cắm cổ chạy thẳng trong đôi tất, người dính đầy bùn nhão chẳng còn chút hình dáng nào của một con người. Anh băng qua hơn nửa chiều dài khu định cư. Những người phụ nữ nhanh nhẹn tản ra hai bên, những người đàn ông chậm chạp hơn chỉ biết đánh rơi bất cứ thứ gì đang cầm trên tay, đứng chết trân với cái cằm trễ xuống. Anh là một nỗi kinh hoàng biết bay. Anh kể anh nhận thấy những đứa trẻ cố gắng chạy trốn vì mạng sống, vấp ngã sấp mặt xuống đất và giãy giụa. Anh lách qua giữa hai ngôi nhà lên một sườn dốc, trèo qua một hàng rào cây gỗ bị đốn hạ trong sự tuyệt vọng (vào thời điểm đó ở Patusan chẳng có tuần nào là không có giao tranh), xông qua một hàng rào vào mảnh ruộng trồng bắp, nơi một cậu bé hoảng sợ ném một khúc gậy vào anh, vấp phải một con đường mòn và lao thẳng vào vòng tay của mấy người đàn ông đang giật mình hoảng hốt. Anh vừa đủ hơi để thốt lên: “Doramin! Doramin!” Anh nhớ là mình đã được người ta nửa bồng nửa kéo lên đỉnh dốc, và trong một khoảng sân rộng lớn với những hàng cọ và cây ăn quả, anh được đưa tới trước một người đàn ông to lớn đang ngồi bệ vệ trên chiếc ghế giữa khung cảnh náo loạn và phấn khích tột độ. Anh thọc tay vào lớp bùn và quần áo để lấy chiếc nhẫn, rồi bỗng thấy mình ngã ngửa ra sau và tự hỏi ai đã đánh ngã mình. Bọn chúng đơn giản là đã buông anh ra — bạn biết không? — nhưng anh không sao đứng vững được. Dưới chân dốc, những phát súng vô định vang lên, và phía trên những mái nhà của khu định cư dội lên một tiếng gầm đục ngầu đầy kinh ngạc. Nhưng anh đã được an toàn. Người của Doramin đang rào chắn cổng và đổ nước vào họng anh; người vợ già của Doramin, bận rộn và đầy lòng trắc ẩn, đang lớn tiếng ra lệnh cho đám con gái. “Bà lão,” anh nói dịu dàng, “đã chăm sóc tôi cứ như thể tôi là con ruột của bà vậy. Họ đặt tôi vào một chiếc giường rộng lớn — chiếc giường đại của bà — rồi bà chạy ra chạy vào lau nước mắt để vỗ về lưng tôi. Chắc lúc đó trông tôi thảm hại lắm. Tôi cứ nằm ì ra đó như một khúc gỗ chẳng biết trong bao lâu.”

Xem chừng anh rất có thiện cảm với người vợ già của Doramin. Về phần bà, bà cũng đem lòng yêu mến anh như con đẻ. Bà có khuôn mặt tròn, mềm mại màu hạt dẻ với đầy những nếp nhăn mịn, đôi môi dày đỏ chót (bà nghiện nhai trầu), và đôi mắt hiền từ, nheo lại đầy ý cười. Bà liên tục di chuyển, bận rộn mắng mỏ và không ngớt ra lệnh cho một lũ thiếu nữ có khuôn mặt nâu sáng và đôi mắt to, trầm tĩnh — những người con gái, người hầu, và nữ tì của bà. Bạn biết cảnh trong những gia đình này thế rồi đấy: hầu như chẳng thể phân biệt nổi ai với ai. Bà rất gầy, và ngay cả chiếc áo khoác ngoài rộng thùng thình được cài ở phía trước bằng những chiếc khuy đính ngọc, không hiểu sao vẫn mang lại cảm giác kiệm vải. Đôi chân trần sẫm màu của bà xỏ trong chiếc dép rơm màu vàng kiểu Trung Hoa. Bản thân tôi đã từng thấy bà lững thững đi lại với mái tóc bạc dài và cực kỳ dày buông xõa ngang vai. Bà hay thốt ra những lời lẽ mộc mạc mà sâu sắc, xuất thân từ dòng dõi quý tộc, lại có phần kỳ quặc và độc đoán. Vào buổi chiều, bà thường ngồi trên một chiếc bành rất rộng, đối diện với chồng, đăm đăm nhìn qua một ô cửa lớn trên tường — nơi mở ra tầm nhìn bao quát khu định cư và dòng sông.

Bà luôn thu gọn đôi chân lại bên mình, còn lão Doramin thì ngồi bệ vệ, oai nghiêm như quả núi sừng sững giữa đồng bằng. Lão chỉ xuất thân từ tầng lớp nakhoda hoặc thương gia, nhưng sự kính trọng dành cho lão và phong thái đường bệ của lão thì vô cùng ấn tượng. Lão là thủ lĩnh của thế lực lớn thứ hai ở Patusan. Những người di cư từ Celebes (khoảng sáu mươi gia đình mà cộng thêm tuỳ tùng và những người khác có thể tập hợp chừng hai trăm người “mang mã tấu kris”) đã tôn lão lên làm người đứng đầu từ nhiều năm trước. Đàn ông xứ đó thông minh, táo bạo, hay thù hằn, nhưng có lòng can đảm bộc trực hơn những người Mã Lai khác, và rất bất mãn trước ách áp bức. Họ hình thành phe đối lập với Rajah. Dĩ nhiên, những cuộc tranh chấp đều vì chuyện buôn bán. Đó là nguyên nhân cốt lõi của các cuộc xung đột phe phái, của những vụ bùng phát bất thình lình biến góc này hay góc khác của khu định cư chìm trong khói lửa, tiếng súng và tiếng thét gào. Các ngôi làng bị đốt phá, đàn ông bị lôi xềnh xệch vào thành lũy của Rajah để giết hại hoặc tra tấn với tội danh buôn bán với bất kỳ ai khác ngoài lão. Chỉ một hoặc hai ngày trước khi Jim đến, một vài gia trưởng ngay tại ngôi làng chài — nơi sau đó được đặt dưới sự bảo hộ đặc biệt của anh — đã bị một nhóm lính giáo của Rajah đuổi té giọt xuống vách đá, vì nghi ngờ thu lượm tổ yến sấy cho một thương gia người Celebes. Rajah Allang ra điều ta đây là thương gia duy nhất trong xứ sở của mình, và hình phạt cho kẻ phá vỡ độc quyền là cái chết; thế nhưng quan niệm buôn bán của lão chẳng khác nào những hình thức cướp bóc đê tiện nhất. Sự độc ác và lòng tham lam của lão chẳng có giới hạn nào ngoài sự hèn nhát của chính lão, và lão sợ hãi sức mạnh có tổ chức của người Celebes, chỉ có điều — cho đến khi Jim xuất hiện — lão chưa đủ sợ để mà ngồi yên. Lão đánh vào họ thông tin qua thần dân của mình, và tự cho mình là kẻ đúng đắn một cách đáng thương hại. Tình hình càng thêm phần rắc rối bởi sự xuất hiện của một kẻ lang thang xa xứ, một tên con lai Ả Rập — kẻ mà tôi tin là vì lý do thuần túy tôn giáo — đã xúi giục các bộ lạc trong vùng nội địa (những kẻ dân rừng, theo cách gọi của chính Jim) nổi dậy, đồng thời tự lập một doanh trại kiên cố trên đỉnh một trong hai quả đồi sinh đôi. Hắn lảng vảng trên thị trấn Patusan như diều hâu lượn ổ gà, nhưng lại tàn phá vùng nông thôn rộng mở. Cả những ngôi làng hoang phế mục nát trên những chiếc cột cháy đen bên bờ suối trong vắt, rơi lả tả từng mảng cỏ trên vách, từng chiếc lá trên mái xuống dòng nước, tạo nên một hiệu ứng kỳ lạ của sự phân hủy tự nhiên như thể chúng là một dạng thực vật bị căn bệnh quỷ quái tàn phá ngay từ rễ. Hai phe phái ở Patusan đều không chắc kẻ phiến loạn này khao khát cướp bóc bên nào hơn. Rajah thì lén lút móc nối với hắn một cách yếu ớt. Một số người định cư dòng Bugis, đã mệt mỏi với sự bất an vô tận, suýt có ý định rêu gọi hắn vào. Những kẻ trẻ tuổi hơn trong số họ, đầy vẻ cợt nhả, bèn hiến kế “rước Sherif Ali cùng đám du dũng của hắn đến để quét sạch lão Rajah Allang ra khỏi xứ sở.” Doramin phải vất vả lắm mới kìm hãm được bọn họ. Lão đã già, và dường như dù ảnh hưởng của lão chưa hề suy giảm, thì tình hình cũng đang dần vượt ngoài tầm kiểm soát. Đó chính là bức tranh thực trạng khi Jim, tháo chạy khỏi thành lũy của Rajah, xuất hiện trước vị thủ lĩnh người Bugis, trao ra chiếc nhẫn, và theo một cách nói nào đó, được đón nhận vào tận sâu trái tim của cộng đồng nơi đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.