Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Hắn không quay lại cho đến tận sáng hôm sau. Hắn đã bị giữ lại ăn tối và ngủ qua đêm. Chưa từng có một con người nào kỳ diệu đến thế ngoài ông Stein. Trong túi hắn có một bức thư gửi cho Cornelius ("thằng cha sắp bị tóm cổ," hắn giải thích, với sự phấn khích chùng xuống trong giây lát), và hắn hớn hở khoe một chiếc nhẫn bạc, giống như loại dân bản xứ hay dùng, đã mòn vác đi rất nhiều và chỉ còn hằn lại những nét chạm trổ mờ nhạt.

Đây là món quà ra mắt của hắn với một lão già tên là Doramin—một trong những nhân vật có thế lực ở ngoài đó—một tay sừng sỏ—từng là bạn của ông Stein ở vùng đất mà ông đã trải qua bao cuộc phiêu lưu ấy. Ông Stein gọi lão là "chiến hữu." Chiến hữu nghe thật kêu, phải không? Và chẳng phải ông Stein nói tiếng Anh cừ khôi lắm sao? Lão bảo ông học nó ở Celebes—một nơi thật kỳ lạ! Thật là buồn cười hết sức. Đúng thế không? Lão nói có giọng địa phương—giọng ngân – cậu có để ý không? Lão Doramin đó đã tặng hắn chiếc nhẫn. Họ đã đổi quà cho nhau khi từ biệt lần cuối cùng. Kiểu như hứa hẹn tình bạn đời đời kiếp kiếp. Hắn bảo thế là tuyệt—chẳng phải sao? Họ đã phải liều mạng chạy trốn khỏi xứ sở đó khi cái tên Mohammed—Mohammed—Gì-gì-đó bị giết. Đương nhiên là tôi biết câu chuyện này. Nghe có vẻ thật xấu hổ và tồi tệ, phải không nào? . . .

Hắn cứ huyên thuyên như thế, quên bén cả đĩa ăn, tay cầm dao và dĩa (hắn tìm gặp tôi vào giờ ăn trưa), mặt hơi ửng đỏ, đôi mắt tối sầm đi mấy tông, đó là dấu hiệu cho thấy hắn đang phấn khích. Chiếc nhẫn giống như một thứ giấy thông hành—("Cứ như thể thứ cậu đọc thấy trong sách ấy," hắn chêm vào đầy cảm kích)—và Doramin sẽ làm hết sức vì hắn. Ông Stein từng có ơn cứu mạng lão ta trong một dịp nào đó; hoàn toàn ngẫu nhiên thôi, ông Stein đã nói thế, nhưng bản thân hắn—Jim—lại có suy nghĩ riêng về chuyện đó. Ông Stein chính là kiểu người luôn biết chớp lấy những cơ hội ngẫu nhiên như thế. Không hề gì. Dù là ngẫu nhiên hay có chủ ý, thứ này cũng sẽ giúp ích cực kỳ cho hắn. Hắn thầm cầu mong cho lão già tốt bụng kia chưa vội quy tiên trong lúc này. Ông Stein không thể chắc chắn được. Đã hơn một năm nay chẳng có chút tin tức nào; họ đang gây sự đánh lộn tơi bời với nhau, và dòng sông thì bị phong tỏa. Khá là rắc rối đây; nhưng cứ yên tâm, hắn thế nào cũng tìm được một khe hở để lọt vào.

Sự huyên thuyên đầy phấn khích của hắn khiến tôi ấn tượng, và suýt chút nữa là sợ hãi. Hắn nói năng hấuu háo như một đứa trẻ trước thềm chuyến nghỉ hè dài ngày với viễn cảnh đầy những trò nghịch ngợm thú vị, và một thái độ tâm lý như thế ở một người đàn ông trưởng thành trong hoàn cảnh này mang một cái gì đó phi thường, hơi điên rồ, nguy hiểm và đầy bấp bênh. Tôi đã chực van xin hắn hãy nhìn nhận mọi thứ nghiêm túc hơn thì hắn buông rơi dao dĩa (nợ nần gì đâu, hắn bắt đầu ăn, hay đúng hơn là nuốt thức ăn một cách vô thức), và bắt đầu lùng sục khắp đĩa ăn của mình. Cái nhẫn! Cái nhẫn! Nó ở xó quái nào thế... A! Nó đây rồi... Hắn nắm chặt bàn tay to lớn lại, rồi lần giở từng cái túi quần áo hết cái này đến cái khác. Chúa ơi! Mà đánh rơi thứ này thì hỏng bét. Hắn đăm chiêu suy tư nhìn nắm tay mình. Có chưa nhỉ? Sẽ treo cái quái quỷ này vào cổ cho xong! Và hắn lập tức làm thế ngay, lôi ra một sợi dây (trông giống như một mẩu dây giày vải) cho mục đích đó. Xong! Thế là ổn đời! Sẽ là đại họa nếu... Hắn dường như chợt nhìn thấy vẻ mặt tôi và điều đó khiến hắn điềm tĩnh lại đôi chút. Có lẽ tôi đã không nhận ra, hắn nói với vẻ nghiêm nghị ngây thơ rằng hắn gắn bó biết bao nhiêu với tín vật ấy. Nó tượng trưng cho một người bạn; và có được một người bạn là một điều tuyệt vời. Hắn hiểu đôi chút về chuyện đó. Hắn gật đầu với tôi đầy ý vị, nhưng trước cử động xua tay của tôi, hắn chống cằm và ngồi im lặng một lúc, đăm chiêu nghịch những vụn bánh mì trên khăn trải bàn... "Đậpm cửa lại—câu nói ấy hay thật đấy," hắn kêu lên, và chồm dậy, bắt đầu sải bước dài quanh phòng, gợi cho tôi nhớ lại qua dáng vai, cách quay đầu, những bước chân lao đi bất định, chính cái đêm hắn từng sải bước thế này, thổ lộ, giải thích—tùy ý cậu—nhưng rốt cuộc, là đang sống—đang sống trước mặt tôi, dưới đám mây u ám của chính mình, với tất cả sự tinh tế vô thức có thể rút ra sự an ủi từ chính nguồn cội của nỗi đau buồn. Vẫn là tâm trạng ấy, vừa giống vừa khác, giống như một kẻ đồng hành thất thường mà hôm nay dẫn dắt bạn đi đúng đường với đôi mắt ấy, bước chân ấy, thôi thúc ấy, thì ngày mai sẽ dẫn bạn lạc lối không lối thoát. Bước chân của hắn đầy quả quyết, đôi mắt lạc lõng, tối sầm dường như đang dò tìm thứ gì đó trong phòng. Một tiếng bước chân của hắn bỗng vang lên nặng nề hơn tiếng kia—có lẽ tại đôi giày—và tạo ra một ấn tượng kỳ lạ về một sự khựng lại vô hình trong dáng đi. Một tay hắn thọc sâu vào túi quần, tay kia đột ngột khua khoắn trên đầu. "Đập cửa lại!" hắn quát lên. "Tôi đã chờ đợi điều đó từ lâu. Tôi sẽ cho họ thấy... Tôi sẽ... Tôi sẵn sàng cho bất kỳ điều quái quỷ nào... Tôi đã mơ về nó từ lâu... Chúa ơi! Thoát khỏi nơi này. Chúa ơi! Cuối cùng thì vận may cũng mỉm cười rồi... Cứ đợi đấy. Tôi sẽ..."

Hắn ngẩng cao đầu đầy bất chấp, và tôi thú nhận rằng lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong suốt thời gian quen biết, tôi bất chợt cảm thấy vô cùng chán ngấy hắn. Tại sao lại phải bày đặt những lời lẽ hão huyền đó? Hắn cứ đi lại khệnh khạng quanh phòng, khua khoắn cánh tay một cách ngớ ngẩn, chốc chốc lại sờ lên ngực để kiểm tra chiếc nhẫn giấu dưới lớp áo. Sự hưng phấn đó có ý nghĩa gì đối với một kẻ được bổ nhiệm làm nhân viên tập sự thương mại, mà lại ở một nơi chẳng có hoạt động buôn bán nào chứ? Tại sao lại phải thách thức cả vũ trụ? Đó không phải là một tâm thế đúng đắn để tiếp cận bất kỳ công việc gì; một tâm thế không hề thích hợp không chỉ riêng hắn, tôi nói thế, mà cho bất kỳ ai. Hắn đứng khựng lại ngay trước mặt tôi. Tôi lại nghĩ thế sao? hắn hỏi, hoàn toàn không hề nao núng, kèm theo một nụ cười mà tôi chợt nhận ra có điều gì đó xấc xược. Nhưng ngẫm lại thì tôi lớn hơn hắn tận hai tuổi. Tuổi trẻ vốn xấc xược; đó là quyền lợi—là nhu cầu của nó; nó buộc phải khẳng định bản thân, và mọi sự khẳng định trong thế giới đầy hoài nghi này đều là một sự thách thức, là một sự xấc xược. Hắn bước ra một góc xa, rồi khi quay lại, có thể nói là hắn quay sang xé xác tôi. Tôi nói năng kiểu đó là bởi vì tôi—ngay cả tôi, kẻ chẳng tiếc gì với hắn—thậm chí tôi vẫn còn nhớ—còn nhớ—để châm chọc hắn—về chuyện—chuyện đã xảy ra. Thế còn những người khác—cả cái—cả cái—thế giới này thì sao? Có gì lạ đâu khi hắn muốn dứt áo ra đi, quyết tâm ra đi, quyết tâm ở lại luôn ngoài đó—trợ giúp bởi trời cao! Thế mà tôi lại đi bàn về những tâm thế đúng đắn cơ đấy!

"Không phải tôi hay thế giới này nhớ," tôi quát lên. "Chính là cậu—chính cậu mới là kẻ đang nhớ."

Hắn không hề nao núng, tiếp tục nói với giọng đầy bức bối, "Quên hết đi, mọi thứ, mọi người, mọi người." . . . Giọng hắn chùng xuống. . . "Trừ cậu," hắn nói thêm.

"Ừ—cả tôi nữa—nếu điều đó giúp ích," tôi nói, cũng với giọng trầm thấp.

Sau đó, chúng tôi giữ im lặng và lừ đừ một lúc như thể đã kiệt sức. Rồi hắn lại bắt đầu, điềm đạm, và kể cho tôi nghe rằng ông Stein đã dặn hắn hãy đợi chừng một tháng xem có thể trụ lại được hay không, trước khi bắt đầu dựng một ngôi nhà mới cho mình, để tránh "những khoản chi phí vô ích." Lão ta hay dùng những từ ngữ buồn cười thật—ông Stein ấy. "Chi phí vô ích" nghe hay phết. . . Trụ lại ư? Chà! Dĩ nhiên rồi. Hắn sẽ bám trụ đến cùng. Cứ để hắn lọt được vào đã—thế thôi; hắn cam đoan là hắn sẽ ở lại. Không bao giờ thò mặt ra nữa. Trụ lại thì dễ ợt.

"Đừng có mà liều mạng," tôi nói, cảm thấy bất an trước giọng điệu đầy đe dọa của hắn.

"Cậu cứ sống đủ lâu đi rồi khắc muốn quay về."

"Quay về cái gì cơ chứ?" hắn lơ đễnh hỏi, mắt dán chặt vào mặt chiếc đồng hồ treo trên tường.

Tôi im lặng một lát. "Vậy là không bao giờ nữa sao?" tôi nói. "Không bao giờ," hắn lặp lại mơ màng mà không nhìn tôi, rồi bỗng chốc trở nên thoăn thoắt. "Chúa ơi! Hai giờ rồi, mà bốn giờ là tôi nhổ neo!"

Đúng là như vậy. Một chiếc tàu hai cột buồm của ông Stein chuẩn bị khởi hành đi hướng Tây vào chiều hôm đó, và hắn đã được hướng dẫn đặt vé trên con tàu ấy, chỉ là không có lệnh hoãn ngày khởi hành nào được đưa ra. Tôi đoán là ông Stein đã quên mất. Hắn vội vã đi lấy đồ đạc trong lúc tôi bước lên tàu của mình, nơi hắn hứa sẽ ghé qua trên đường ra vũng đậu tàu ngoài khơi. Quả nhiên hắn xuất hiện với vẻ vội vã cùng một chiếc va-li da nhỏ xíu trong tay. Thế này thì không ổn, và tôi liền đưa cho hắn chiếc hòm tôn cũ của mình, loại được cho là chống nước, hoặc ít nhất là chống ẩm. Hắn thực hiện việc chuyển đồ bằng một thao tác đơn giản là chút sạch sành sanh đống đồ trong va-li ra như thể cậu đang trút một bao lúa mì vậy. Tôi thoáng thấy ba cuốn sách trong đống đồ lộn xộn ấy; hai cuốn nhỏ, bìa sẫm màu, và một cuốn dày màu xanh lục mạ vàng—trọn bộ tác phẩm Shakespeare giá nửa vương-chân. "Cậu đọc cuốn này à?" tôi hỏi. "Vâng. Sách hay nhất để vực dậy tinh thần kẻ khác," hắn đáp nhanh gọn. Tôi khá ấn tượng với sự đánh giá này, nhưng chẳng còn thời gian để bàn chuyện Shakespeare. Một khẩu súng lục nặng cùng hai hộp đạn nhỏ đang nằm trên bàn ăn buồng lái. "Xin hãy cầm lấy cái này," tôi nói. "Nó có thể giúp cậu trụ lại." Vừa thốt ra những lời đó, tôi liền nhận ra ý nghĩa nghiệt ngã mà chúng có thể mang lại. "Có thể giúp cậu lọt vào," tôi hối hận đính chính lại. Tuy nhiên, hắn chẳng bận tâm gì đến những ẩn ý mơ hồ đó; hắn rối rít cảm ơn tôi rồi lao vút ra ngoài, miệng hét với lại câu tạm biệt qua vai. Tôi nghe thấy tiếng hắn vang qua mạn tàu giục giã đám chèo thuyền hãy tăng tốc, và khi nhìn qua khung cửa sổ đuôi tàu, tôi thấy chiếc xuồng đang vòng qua phần đuôi lái. Hắn ngồi cúi rạp người về phía trước, dùng cả giọng nói lẫn cử chỉ để thúc giục đám thủy thủ; và vì hắn vẫn cầm khẩu súng lục trên tay và chĩa thẳng vào đầu họ, tôi sẽ không bao giờ quên được khuôn mặt hoảng sợ của bốn người đàn ông Java, cùng nhịp chèo điên cuồng đã giật phăng hình ảnh ấy khỏi tầm mắt tôi. Rồi quay người đi, đập vào mắt tôi đầu tiên chính là hai hộp đạn vẫn nằm trên bàn ăn buồng lái. Hắn đã quên mang theo chúng rồi.

Tôi lập tức ra lệnh hạ chiếc xuồng lớn của mình xuống; nhưng đám người chèo thuyền của Jim, với ấn tượng rằng mạng sống của họ đang treo trên sợi tóc khi chở theo gã điên đó trên thuyền, đã chèo nhanh đến mức trước khi tôi đi được nửa quãng đường giữa hai con tàu, tôi đã bắt gặp cảnh hắn đang trèo qua lan can, và chiếc hộp của hắn đang được chuyền lên. Toàn bộ cánh buồm của con tàu hai cột buồm đã được thả lỏng, buồm chính đã được căng lên, và cẩu tời đang bắt đầu kêu lách cách khi tôi đặt chân lên boong tàu: thuyền trưởng của nó, một gã lai bảnh chọe khoảng bốn mươi tuổi, mặc bộ đồ nỉ màu xanh lam, đôi mắt lanh lợi, khuôn mặt tròn trịa có màu vỏ chanh, với bộ ria mép đen mỏng rủ xuống hai bên khóe miệng dày và sẫm màu, bước tới với nụ cười nửa miệng. Hóa ra, đằng sau vẻ ngoài tự mãn và vui vẻ ấy lại là một tâm tính ưu tư lo lắng. Đáp lại nhận xét của tôi (trong lúc Jim đã xuống khoang dưới một lát), lão ta nói, "Ối vâng. Patusan." Lão sẽ chở vị gentleman này đến cửa sông, nhưng sẽ "không bao giờ đi ngược lên." Tiếng Anh trôi chảy của lão có vẻ như được rút ra từ một cuốn từ điển do một kẻ tâm thần biên soạn. Nếu ông Stein muốn lão "đi ngược lên," lão sẽ "một lòng một dạ"—(tôi nghĩ lão muốn nói là kính cẩn—nhưng quỷ mới biết được)—"một lòng một dạ thực hiện các mục tiêu vì sự an toàn của tài sản." Nếu bị phớt lờ, lão sẽ đệ trình "đơn từ chức rút lui." Mười hai tháng trước, lão đã thực hiện chuyến hải trình cuối cùng tới đó, và mặc dù ngài Cornelius đã "dâng hiến nhiều lễ vật" cho ngài Rajah Allang và "các tầng lớp dân chúng chủ chốt," với những điều kiện biến việc buôn bán thành "một cái bẫy và tro tàn trong miệng," thế nhưng con tàu của lão vẫn bị bắn từ trong rừng bởi những "thành phần vô trách nhiệm" suốt dọc dường hạ lưu; khiến cho thủy thủ đoàn của lão "vì sợ tổn hại thân thể mà phải im lặng trốn ẩn nấp," khiến con tàu suýt bị mắc cạn trên bãi cát ở cửa sông, nơi mà nó "sẽ hư hại vượt ngoài sức người có thể làm." Sự ghê tởm đầy phẫn nộ trước ký ức đó, cùng niềm tự hào về sự lưu loát của bản thân mà lão hết sức chú ý, đang tranh giành nhau chiếm lấy khuôn mặt đơn giản, bệu bã của lão. Lão cau mày rồi lại cười toe toét với tôi, và mãn nguyện quan sát tác động không thể chối cãi từ văn phong của mình. Những vệt mây đen lướt nhanh trên mặt biển phẳng lặng, và chiếc tàu hai cột buồm với cánh buồm trước áp vào cột mast và trục buồm chính nằm giữa tàu, trông có vẻ bối rối giữa những làn gió nhẹ cuốn mặt nước. Lão nghiến răng kể thêm với tôi rằng tên Rajah là một "con linh cẩu đáng cười" (chẳng thể tưởng tượng nổi sao lão lại biết đến loài linh cẩu); trong khi một kẻ nào đó còn giả dối hơn nhiều lần so với "vũ khí của một con cá sấu." Dán một con mắt vào các động thái của thủy thủ đoàn phía mũi tàu, lão ta tuôn ra một tràng không ngớt—so sánh nơi đó với "một cái lồng thú trở nên hung ác vì sự bất trị lâu ngày." Tôi đoán là lão định nói là sự miễn phạt. Lão hét lên rằng lão không có ý định "tự biến mình thành kẻ bị ràng buộc một cách cố ý vào cướp bóc." Những tiếng kêu dài thườn thượt định nhịp cho đám thủy thủ kéo mỏ neo cuối cùng cũng dứt, và lão hạ giọng xuống. "Quá sức chịu đựng ở cái Patusan đó rồi," lão kết luận đầy quả quyết.

Sau đó tôi nghe nói lão từng bất cẩn đến mức bị trói cổ bằng một sợi dây mây vào cái cột chôn giữa một vũng bùn trước nhà Rajah. Lão đã phải trải qua phần lớn thời gian trong ngày và cả một đêm ở cái nơi không lành mạnh đó, nhưng có mọi lý do để tin rằng đó chỉ là một trò đùa quái ác. Chắc là lão đã ngẫm nghĩ một hồi về ký ức kinh khủng đó, rồi sau đó quay sang cãi vã với gã đang đi về phía bánh lái. Khi quay lại nói chuyện với tôi, lão mang một giọng điệu phán xét, không chút cảm xúc. Lão sẽ chở vị quý ông đến cửa sông tại Batu Kring (thị trấn Patusan "nằm ở phía trong nội địa," lão nhận xét, "cách ba mươi dặm"). Nhưng trong mắt lão, lão tiếp tục—với một giọng điệu chán chường, mệt mỏi thay thế cho lối nói huyên thuyên lúc trước—vị quý ông này vốn dĩ đã "giống như hình hài một thây ma." "Gì cơ? Cậu nói gì thế?" tôi hỏi. Lão ra bộ mặt dữ dằn đáng sợ, và miêu tả hoàn hảo hành động đâm lén từ sau lưng. "Trông đã như xác chết của một kẻ bị lưu đày rồi," lão giải thích với cái vẻ tự đắc khó chịu đặc trưng của hạng người sau khi chúng tưởng rằng mình vừa trổ tài thông minh. Phía sau lão, tôi nhận thấy Jim đang mỉm cười lặng lẽ với tôi, và đưa tay lên ngăn lại câu thốt đang chực trào trên môi tôi.

Rồi, trong lúc gã lai đang phổng mũi ra lệnh, trong lúc những thanh xà quay cọt kẹt và chiếc xà ngang nặng trĩu văng qua, Jim và tôi, như chỉ có hai người ở phía khuất gió của buồm chính, nắm chặt tay nhau và trao đổi những lời vội vã cuối cùng. Lòng tôi đã được giải thoát khỏi thứ cảm giác bực bội âm ỉ từng tồn tại song song với sự quan tâm đến số phận của hắn. Những lời tán gẫu ngớ ngẩn của gã lai đã làm cho những mối nguy hiểm khốn cùng trên con đường của hắn trở nên thực tế hơn những lời trình bày cẩn trọng của ông Stein. Vào dịp đó, thứ vẻ ngoài khách sáo vẫn luôn hiện hữu trong các cuộc giao tiếp của chúng tôi đã biến mất khỏi lời nói; tôi tin là mình đã gọi hắn là "cậu bạn quý," và hắn thì đính kèm cụm từ "ông bạn già" vào một biểu cảm biết ơn nào đó hãy còn dang dở, tựa như việc hắn dấn thân vào hiểm nguy đặt lên bàn cân với tuổi tác của tôi đã khiến chúng tôi trở nên tương xứng hơn về tuổi tác và cảm xúc. Đã có một khoảnh khắc thân mật thực sự và sâu sắc, bất ngờ và ngắn ngủi như một thoáng nhìn thấy một chân lý vĩnh hằng, một chân lý cứu rỗi nào đó. Hắn cố gắng xoa dịu tôi như thể hắn mới là người chín chắn hơn trong hai người. "Được rồi, được rồi," hắn nói nhanh và đầy cảm xúc. "Tôi hứa sẽ tự lo cho bản thân. Vâng; tôi sẽ không liều lĩnh đâu. Dù chỉ là một chút mạo hiểm cỏn con. Dĩ nhiên là không rồi. Tôi định bám trụ ở đó mà. Đừng có lo. Chúa ơi! Tôi cảm thấy như chẳng có gì chạm tới được mình vậy. Chà! Đây đúng là vận may từ lúc xuất phát. Tôi sẽ không đời nào phá hỏng một cơ hội tuyệt vời thế này đâu!" . . . Một cơ hội tuyệt vời! Vâng, nó quả thực tuyệt vời, nhưng cơ hội là do con người tạo ra, và làm sao tôi mà biết trước được chứ? Đúng như hắn đã nói, ngay cả tôi—ngay cả tôi vẫn còn nhớ—nhớ cái—cái bất hạnh của hắn để châm chọc hắn. Thật là đúng như vậy. Và điều tốt nhất cho hắn lúc này là ra đi.

Chiếc xuồng của tôi đã tụt lại phía sau con tàu, và tôi thấy hắn đứng ở đuổi tàu, nổi bật giữa ánh hoàng hôn đang buông xuống, giơ cao chiếc mũ quá đầu. Tôi nghe thấy một tiếng hô không rõ tiếng, "Cậu—sẽ—nhận—được—tin—của—tôi." Của tôi, hay từ tôi, tôi cũng chẳng rõ nữa. Tôi nghĩ chắc là của tôi. Mắt tôi bị lóa đi bởi ánh nước biển lấp lánh dưới chân hắn nên không nhìn thấy rõ hắn; định mệnh đã an bài là tôi không bao giờ có thể nhìn rõ hắn; nhưng tôi có thể đoan chắc rằng chẳng có gã đàn ông nào trông lại kém vẻ "nhống nhác giống một thây ma" đến thế, như lời gã lai chuyên rầu rĩ kia đã ví von. Tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của gã tiểu nhân đó, hình thù và màu sắc y như một quả bí ngô chín, nhô ra đâu đó dưới khuỷu tay Jim. Hắn ta cũng giơ tay lên như thể đang chực đâm bổ xuống. Cầu mong điềm gở đừng ứng nghiệm!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.