Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 36

❊ ❊ ❊

Với những lời ấy, Marlow đã kết thúc câu chuyện của mình, và thính giả của anh lập tức tản đi dưới cái nhìn xa xăm, trầm ngâm của anh. Mọi người rời khỏi hiên nhà từng đôi hoặc đi một mình, không một chút chậm trễ, chẳng thốt lên một lời nào, tựa như hình ảnh cuối cùng của câu chuyện dở dang ấy, bản thân sự dở dang đó, và chính âm điệu của người kể đã khiến mọi sự bànạc trở nên vô ích và mọi lời bình luận là bất khả. Dường như mỗi người trong số họ đều mang theo ấn tượng của riêng mình, mang nó đi như một bí mật; thế nhưng trong số tất cả những thính giả ấy, chỉ có duy nhất một người là sẽ được nghe phần cuối cùng của câu chuyện. Nó đến với người ấy tại nhà riêng, hơn hai năm sau, được đựng trong một bọc dày đề tên bằng nét chữ thẳng và góc cạnh của Marlow.

Người có đặc ân ấy mở gói giấy ra, nhìn vào bên trong, rồi đặt xuống và bước ra cửa sổ. Căn phòng của anh nằm ở tầng cao nhất của một tòa nhà cao tầng, và tầm mắt anh có thể vươn xa qua những ô cửa kính trong vọt, chẳng khác nào đang nhìn ra từ ngọn hải đăng. Những mái dốc lấp lánh, những dãy sống mái nhà tối sẫm nối tiếp nhau không dứt giống như những con sóng âm u không ngọn bọt, và từ sâu thẳm thị trấn dưới chân anh dội lên một thứ âm thanh hỗn độn và không dứt. Những ngọn tháp nhà thờ, vô số và nằm rải rác một cách ngẫu nhiên, vươn lên như những ngọn hải tiêu trên một mê cung bãi cạn không có lạch nước; làn mưa hắt lùa hòa lẫn với màn chập tối của một buổi chiều mùa đông; và tiếng chuông trầm đục của chiếc đồng hồ lớn trên tháp đang điểm giờ vang vọng qua những đợt âm thanh cuồn cuộn, trang nghiêm, với một tiếng thét sắc mảnh run rẩy ở tận lõi sâu. Anh kéo tấm rèm nặng khép lại.

Ánh sáng từ chiếc đèn đọc sách có chụp che của anh lặng lẽ tỏa ra như một vũng nước được che chở, bước chân anh không phát ra tiếng động trên thảm, và những ngày tháng lang thang của anh đã khép lại. Sẽ chẳng còn những chân trời bao la như niềm hy vọng, chẳng còn những chạng vạng trong khu rừng thâm nghiêm như đền miếu, trong cuộc săn lùng đầy oi bức để tìm kiếm Xứ sở Chưa bao giờ Được khám phá nằm bên kia đồi, băng qua dòng suối, vượt ngoài con sóng. Giờ khắc ấy đang điểm! Không còn nữa! Không còn nữa!—nhưng bọc giấy được mở ra dưới ngọn đèn đã mang trở lại những âm thanh, những ảo ảnh, chính cái hương vị của quá khứ—muôn vàn khuôn mặt đang phai mờ, một hỗn độn những giọng nói trầm đục, đang lụi tàn trên những bờ biển xa xôi dưới ánh nắng nồng đượm mà chẳng thể ủi an. Anh thở dài và ngồi xuống đọc.

Lúc đầu, anh nhìn thấy ba phần riêng biệt. Khá nhiều trang giấy chi chít chữ được bôi đen và ghim lại với nhau; một tờ giấy vuông màu ngả xám rời rạc với vài dòng chữ được viết bằng một nét chữ mà anh chưa từng thấy trước đây, và một lá thư giải thích từ Marlow. Từ lá thư sau rơi ra một tờ giấy khác, đã ngả vàng theo thời gian và sờn rách ở các nếp gấp. Anh nhặt nó lên, đặt sang một bên, rồi quay sang bức thư của Marlow, lướt nhanh qua những dòng đầu, và chợt khựng lại, từ đó trở đi đọc một cách chậm rãi, tựa như một kẻ đang đến gần với những bước chân ngập ngừng và ánh mắt cảnh giác trước loáng thoáng một vùng đất chưa từng được biết đến.

«. . . Tôi không nghĩ rằng anh đã quên đâu,» bức thư viết tiếp. «Chỉ có một mình anh là người duy nhất tỏ ra quan tâm đến hắn, một sự quan tâm vẫn tồn tại ngay cả sau khi câu chuyện của hắn đã được kể xong, mặc dù tôi nhớ rất rõ rằng anh từng không chịu thừa nhận việc hắn đã khuất phục được số phận mình. Anh đã tiên đoán trước cho hắn thảm họa của sự mệt mỏi và nỗi chán chường đối với những vinh quang đã đạt được, đối với nhiệm vụ tự mình gánh vác, đối với tình yêu nảy nở từ lòng thương hại và tuổi trẻ. Anh từng nói rằng anh rất rõ “cái loại chuyện ấy,” sự thỏa mãn ảo tưởng của nó, nỗi thất vọng không thể tránh khỏi của nó. Anh cũng từng nói—tôi vẫn còn nhớ—rằng “dâng hiến cả cuộc đời mình cho bọn họ” (ý anh nói toàn thể nhân loại có làn da màu nâu, vàng hoặc đen) “thì chẳng khác nào bán linh hồn cho loài thú dữ.” Anh từng lập luận rằng “cái loại chuyện ấy” chỉ có thể chịu đựng được và bền vững khi dựa trên một niềm tin vững chắc vào chân lý của những lý tưởng thuộc về chính chủng tộc chúng ta, nhân danh điều đó mà trật tự và đạo đức của một sự tiến bộ mang tính đạo đức được thiết lập. “Chúng ta cần sức mạnh của nó làm chỗ dựa sau lưng,” anh đã nói thế. “Chúng ta cần niềm tin vào sự tất yếu và tính công đáng của nó, để có thể hy sinh cuộc sống của mình một cách xứng đáng và có ý thức. Không có điều ấy, sự hy sinh chỉ là sự quên lãng, và con đường hiến dâng cũng chẳng khá hơn con đường dẫn đến diệt vong.” Nói cách khác, anh vẫn giữ quan điểm rằng chúng ta phải chiến đấu trong hàng ngũ, nếu không cuộc đời chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa. Có thể lắm chứ! Lỗi gì ở anh đâu—nói điều này không mảy may ác ý—một kẻ từng lao mình vào một hay hai chốn hiểm nguy chỉ bằng hai bàn tay trắng và rồi vùng thoát ra một cách khéo léo, mà chẳng bị cháy xém lông cánh. Tuy nhiên, vấn đề là trong tất cả mọi người, Jim không hề giao du với ai ngoài chính bản thân mình, và câu hỏi đặt ra là liệu vào phút cuối, hắn có thú nhận một niềm tin mạnh mẽ hơn cả những luật lệ của trật tự và sự tiến bộ hay không.

‘Tôi không khẳng định điều gì cả. Có lẽ anh sẽ có thể phán xét—sau khi đã đọc xong. Rút cuộc thì, có rất nhiều sự thật trong câu nói thông thường “gặp vận xui.” Thật bất khả để có thể nhìn thấu hắn một cách rõ ràng—nhất là khi chúng ta phải nhìn hắn qua đôi mắt của những người khác trong lần cuối cùng hướng về hắn. Tôi không hề do dự khi truyền đạt lại cho anh tất cả những gì tôi biết về tình tiết cuối cùng, mà như hắn thường hay nói, đã “đến với người.” Người ta tự hỏi liệu đây có phải là cơ hội tối cao ấy, là thử thách cuối cùng và trọn vẹn mà tôi vẫn luôn linh cảm rằng hắn đang chờ đợi, trước khi hắn có thể cấu thành một thông điệp gửi đến thế giới hoàn mỹ kia không. Anh còn nhớ khi tôi rời khỏi hắn lần cuối cùng, hắn đã hỏi liệu tôi có sớm về nước không, và bất chợt gọi với theo tôi, “Hãy nói với họ rằng . . .” Tôi đã chờ đợi—thú thật là tôi cũng tò mò, và cả hy vọng nữa—chỉ để nghe hắn hét lên, “Không—không có gì cả.” Chỉ có thế thôi—và sẽ chẳng còn gì nữa; sẽ không có thông điệp nào cả, ngoại trừ thứ thông điệp mà mỗi chúng ta có thể tự mình lý giải từ ngôn ngữ của những sự kiện, những thứ vốn thường mang nhiều vẻ huyền bí hơn cả sự sắp đặt tinh vi nhất của từ ngữ. Thật ra, hắn đã thực hiện thêm một nỗ lực nữa để giải bày; nhưng điều đó cũng thất bại, như anh có thể nhận thấy nếu nhìn vào tờ giấy dập ghim màu ngả xám được gửi kèm đây. Hắn đã cố viết; anh có nhận ra nét chữ bình thường ấy không? Nó được đề tựa “Pháo đài, Patusan.” Tôi cho rằng hắn đã thực hiện ý định biến ngôi nhà của mình thành một nơi phòng thủ. Đó là một kế hoạch xuất sắc: một con hào sâu, một bức tường đất được che chắn phía trên bằng hàng rào cọc, và tại các góc là những cỗ đại bác được đặt trên bệ để quét sạch mọi phía của khoảng sân vuông. Doramin đồng ý cung cấp cho hắn những khẩu đại bác ấy; và nhờ thế mọi người trong phe của hắn sẽ biết rằng ở đó có một nơi an toàn, nơi mà mọi đảng phái trung thành đều có thể tập hợp lại trong trường hợp xảy ra nguy hiểm bất ngờ. Tất cả những điều đó cho thấy sự trù liệu sáng suốt của hắn, niềm tin của hắn vào tương lai. Những kẻ mà hắn gọi là “người của tôi”—những tù nhân được giải cứu của Sherif—sẽ lập thành một khu riêng biệt tại Patusan, với những mái lều và những mảnh đất canh tác nhỏ dưới chân các bức tường thành kiên cố. Ở bên trong, hắn sẽ là một đạo quân bất khả chiến bại của riêng mình “Pháo đài, Patusan.” Không có ngày tháng, như anh có thể thấy. Con số và tên gọi có ý nghĩa gì đối với một ngày trọng đại cơ chứ? Cũng thật bất khả để nói rằng hắn đang nghĩ đến ai khi cầm bút: Stein—tôi—hay thế giới rộng lớn ngoài kia—hay đây chỉ là tiếng kêu không mục đích, đầy kinh hãi của một con người cô độc đối diện với số phận của chính mình? “Một điều khủng khiếp đã xảy ra,” hắn viết trước khi ném chiếc bút xuống lần đầu tiên; hãy nhìn vết mực trông giống như mũi tên nằm bên dưới những dòng chữ ấy. Một lát sau, hắn lại thử viết, nét bút nguệch ngoạc và nặng nề, tựa như được viết bởi một bàn tay bằng chì, thêm một dòng nữa. “Bây giờ tôi phải lập tức . . .” Ngòi bút đã bị tòe ra, và lần đó thì hắn từ bỏ hẳn. Chẳng còn gì nữa cả; hắn đã nhìn thấy một vực thẳm mênh mông mà không đôi mắt hay giọng nói nào có thể vượt qua. Tôi có thể hiểu được điều đó. Hắn đã bị ngợp trước những điều không thể giải thích; hắn đã bị ngợp trước chính nhân cách của mình—món quà của định mệnh mà hắn đã làm hết sức để khuất phục.

‘Tôi cũng gửi cho anh một bức thư cũ—một bức thư rất cũ. Nó được tìm thấy và giữ gìn cẩn thận trong cặp đựng tài liệu của hắn. Đó là thư của cha hắn, và nhìn vào ngày tháng, anh có thể thấy rằng hắn hẳn đã nhận được nó chỉ vài ngày trước khi gia nhập con tàu Patna. Do đó, đây ắt hẳn là bức thư cuối cùng mà hắn từng nhận được từ quê nhà. Hắn đã trân trọng cất giữ nó suốt bao nhiêu năm qua. Vị mục sư già kính yêu rất quý trọng người con trai làm thủy thủ của mình. Tôi có liếc qua một vài câu ở chỗ này chỗ khác. Chẳng có gì trong đó ngoài tình cảm ruột thịt đơn thuần. Ông nhắn nhủ “James thân mến” rằng bức thư dài mới nhất của cậu rất “thật thà và thú vị.” Ông khuyên con không nên “đánh giá con người một cách khắc nghiệt hay vội vã.” Bức thư dài bốn trang, với những lời lẽ đạo đức nhẹ nhàng và tin tức gia đình. Tom đã “thụ phong linh mục.” Chồng của Carrie thì “gặp tổn thất tiền bạc.” Ông lão cứ thế điềm nhiên đặt trọn niềm tin vào ơn trên và trật tự đã được định sẵn của vũ trụ, nhưng vẫn nhạy bén trước những hiểm nguy nhỏ nhặt và cả những hồng ân nhỏ bé của cuộc sống. Người ta hầu như có thể hình dung ra ông, với mái tóc điểm bạc và vẻ bình thản trong sự che chở bất khả xâm phạm của căn phòng làm việc ngập sách, đã phai màu và đầy thoải mái, nơi mà suốt bốn mươi năm qua, ông đã tận tụy nghiền ngẫm đi nghiền ngẫm lại vòng tròn những suy nghĩ nhỏ bé của mình về niềm tin và đức hạnh, về hạnh kiểm ở đời và cách chết duy nhất đúng đắn; nơi ông đã viết biết bao bài giảng đạo, nơi ông ngồi trò chuyện với đứa con trai của mình, ở tận đằng kia, bên kia địa cầu. Nhưng khoảng cách thì có nghĩa gì chứ? Đức hạnh là một trên khắp thế giới này, và chỉ có duy nhất một niềm tin, một lối sống có thể hình dung được, một cách chết duy nhất. Ông hy vọng “James thân mến” của ông sẽ không bao giờ quên rằng “kẻ nào một khi đã nhượng bộ trước cám dỗ, thì ngay trong khoảnh khắc đó sẽ đẩy bản thân vào sự đồi trụy toàn diện và sự diệt vong vĩnh hằng. Do đó, hãy kiên quyết tự nhủ không bao giờ, vì bất kỳ động cơ nào có thể xảy ra, làm bất cứ điều gì mà con tin là sai trái.” Cả thư còn có dăm ba tin tức về một chú chó cưng yêu quý; và một con ngựa lùn, “mà tất cả lũ trẻ các con ngày trước vẫn hay cưỡi,” đã bị mù vì tuổi già và phải đem bắn bỏ. Ông lão cầu xin ơn phước từ Thiên đàng; người mẹ và tất cả các cô con gái lúc đó ở nhà đều gửi lời yêu thương đến . . . Không, chẳng có mấy thứ trong bức thư ngả vàng sờn rách đang bay phấp phới khỏi cái nắm tay trân trọng của hắn sau bao nhiêu năm trời ấy. Nó chưa từng được hồi âm, nhưng ai mà nói được rằng hắn đã từng trò chuyện những gì với tất cả những hình bóng hiền hòa, nhạt nhòa ấy của những con người đang lấp đầy góc nhỏ yên bình của thế giới, vốn vô sự và không tranh chấp chẳng khác gì một ngôi mộ, và đang thản nhiên hít thở bầu không khí của sự chính trực không bị quấy rầy. Thật kinh ngạc khi hắn lại thuộc về chốn ấy, hắn—kẻ mà biết bao điều “đã đến.” Chẳng có gì từng đến với họ cả; họ sẽ không bao giờ bị bắt gặp bất ngờ, và sẽ không bao giờ phải chịu cảnh vật lộn với số phận. Tất cả bọn họ đang ở đó, được gọi về bởi những lời tán gẫu dịu dàng của người cha, tất cả những người anh chị em ấy, xương máu của xương máu hắn, đang nhìn đăm đăm bằng những đôi mắt trong trẻo vô thức, trong khi tôi dường như nhìn thấy hắn, cuối cùng đã trở về, không còn đơn thuần là một đốm trắng ở tâm điểm của một bí ẩn mênh mông, mà là với vóc dáng trọn vẹn, đứng lặng giữa những hình bóng bình yên ấy, mang một vẻ ngoài cương nghị và lãng mạn, nhưng vẫn luôn câm lặng, tối tăm—chìm dưới một làn mây mù.

‘Câu chuyện về những sự kiện cuối cùng sẽ được tìm thấy trong vài trang giấy được đính kèm đây. Anh phải thừa nhận rằng nó mang tính lãng mạn vượt xa cả những giấc mơ hoang đường nhất thời niên thiếu của hắn, thế nhưng đối với tôi, ẩn chứa trong đó là một thứ logic sâu sắc và đáng sợ, tựa như chỉ có trí tưởng tượng của chúng ta mới có thể thả lỏng giáng xuống đầu mình sức mạnh của một định mệnh áp đảo. Sự bất cẩn trong những suy nghĩ của chúng ta cuối cùng lại dội ngược lên đầu chính mình; kẻ nào đùa với gươm đao sẽ chết vì gươm đao. Cuộc phiêu lưu kinh ngạc này, mà phần kinh ngạc nhất chính là việc nó hoàn toàn có thật, lại diễn ra như một hệ quả không thể tránh khỏi. Một điều gì đó đại loại như thế tất phải xảy ra. Anh tự nhủ điều đó trong khi vẫn không khỏi kinh ngạc rằng một chuyện như vậy lại có thể xảy ra vào năm áp chót của ơn phước này. Nhưng nó đã xảy ra—và chẳng thể tranh cãi gì về tính logic của nó cả.

‘Tôi đặt nó ra đây cho anh cứ như thể chính tôi là nhân chứng sống vậy. Thông tin tôi có được chỉ là những mảnh ghép rời rạc, nhưng tôi đã lắp ráp chúng lại với nhau, và chúng đã đủ để tạo nên một bức tranh rõ ràng. Tôi tự hỏi không biết hắn sẽ kể lại câu chuyện ấy ra sao nếu là chính hắn. Hắn đã thổ lộ với tôi nhiều đến mức có những lúc tôi cảm tưởng như thể hắn sắp sửa bước vào ngay lúc này và kể lại câu chuyện bằng chính lời văn của hắn, bằng giọng nói bất cẩn mà đầy cảm xúc ấy, với phong thái bàng quan, hơi bối rối, hơi phiền muộn, hơi tổn thương, nhưng thỉnh thoảng chỉ bằng một từ hoặc một cụm từ lại hé lộ ra chính con người thật của hắn—những thứ chẳng bao giờ có ích cho việc định hướng cả. Thật khó mà tin rằng hắn sẽ không bao giờ trở lại nữa. Tôi sẽ không bao giờ được nghe lại giọng nói của hắn, cũng chẳng thể nhìn thấy khuôn mặt rám nắng hồng hào với một vệt trắng trên trán, và đôi mắt tuổi trẻ bị kích động đến mức sẫm lại thành một sắc xanh sâu thẳm, khôn cùng.’

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.