Chúa Tể Jim

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Sau hai năm huấn luyện, cậu ra khơi, và khi dấn bước vào những vùng đất vốn quen thuộc trong trí tưởng tượng, cậu lại thấy nơi ấy sao mà khô cằn những phiêu lưu đến kỳ lạ. Cậu thực hiện nhiều hải trình. Cậu tường tận cái sự đơn điệu diệu kỳ của kiếp sống giữa bầu trời và mặt nước: cậu phải chịu đựng những lời chê bai của bạn bè, sự khắc nghiệt của biển cả, và cái nhịp điệu tẻ nhạt của công việc hằng ngày vốn mang lại cơm áo—nhưng phần thưởng duy nhất lại nằm trọn trong tình yêu đích thực dành cho công việc. Phần thưởng ấy đã tránh xa cậu. Thế nhưng cậu chẳng thể quay đầu, bởi chẳng có gì hấp dẫn, vỡ mộng và trói buộc con người ta hơn cuộc đời hải hồ. Hơn nữa, tương lai của cậu đang rộng mở. Cậu điềm đạm, vững vàng, dễ bảo, nắm vững mọi nhiệm vụ; và chẳng mấy chốc, khi tuổi đời còn rất trẻ, cậu đã trở thành đại phó trên một con tàu tuyệt đẹp, mà chưa từng phải trải qua những thử thách biển khơi—những biến cố phơi bày dưới ánh ban mai giá trị thực sự bên trong một con người, bản lĩnh và cốt cách của anh ta, vạch trần phẩm chất kiên cường cùng sự thật thầm kín đằng sau vẻ bề ngoài, không chỉ trước mắt kẻ khác mà ngay cả với chính bản thân anh ta.

Chỉ một lần duy nhất trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu mới lại thoáng thấy vẻ dữ dội đầy uy nghiêm trong cơn thịnh nộ của biển cả. Sự thật ấy không phải lúc nào cũng hiển hiện như người ta vẫn tưởng. Mối hiểm nguy trong những chuyến phiêu lưu và bão tố có muôn vàn sắc thái, và chỉ thỉnh thoảng, trên bề mặt sự việc mới xuất hiện một ý đồ tàn độc bộc lộ—cái điều không tài nào định nghĩa nổi ấy buộc tâm trí và trái tim con người phải thừa nhận rằng, sự trùng hợp của tai hoạ hay những cơn cuồng nộ từ thiên nhiên ấy đang ập đến với một dã tâm ác độc, với sức mạnh vượt ngoài tầm kiểm soát, với một sự tàn nhẫn vô bờ bến nhằm xé toạc ra khỏi lồng ngực anh ta mọi hy vọng lẫn nỗi sợ hãi, nỗi đớn đau của sự kiệt quệ cùng niềm khát khao nghỉ ngơi: một thứ âm mưu đập nát, tiêu diệt, xoá sạch tất cả những gì anh ta từng thấy, từng biết, từng yêu thương, tận hưởng hay căm ghét; tất cả những gì vô giá và thiết yếu—ánh dương, ký ức, tương lai; một thứ nghĩa cử phũ phàng và kinh hoàng là tước đoạt mạng sống để quét sạch toàn bộ thế giới trân quý ấy ra khỏi tầm mắt anh ta vĩnh viễn.

Jim, bị thương bởi một cột buồm gãy vào đầu một tuần lễ mà vị thuyền trưởng người Scotland của cậu sau này vẫn thường thưa rằng: "Trời ạ! Đúng là một phép màu hoàn hảo khi con tàu có thể sống sót qua nổi!", đã nằm liệt giường nhiều ngày liền trong trạng thái hoang mang, bầm dập, tuyệt vọng và bị giày vò như thể đang chìm ở đáy vực thẳm của sự bất an. Cậu chẳng màng kết cục rồi sẽ ra sao, và trong những phút giây minh mẫn, cậu lại đánh giá quá cao sự thờ ơ của chính mình. Hiểm họa, khi không thể nhìn thấy, mang cái vẻ mơ hồ bất định của tư duy con người. Nỗi sợ dần trở nên mờ ảo; và Trí tưởng tượng, kẻ thù của loài người, cội nguồn của mọi nỗi kinh hoàng, thiếu đi sự kích thích, liền chìm vào giấc ngủ trong sự xỉn màu của cảm xúc đã cạn kiệt. Jim chẳng nhìn thấy gì ngoài sự bừa bộn trong căn phòng nhỏ tròng trành của mình. Cậu nằm đó, bị đóng kín giữa một vùng tàn phá nhỏ nhoi, và thầm cảm thấy nhẹ nhõm vì không phải lên boong tàu. Thế nhưng thỉnh thoảng, một luồng thống khổ trào dâng không thể kìm chế lại bóp nghẹt lấy thân thể cậu, khiến cậu thở hổn hển và oằn mình dưới lớp chăn, để rồi cái sự tàn bạo vô tri của một kiếp người dễ bề chịu đựng nỗi thống ngự của những cảm giác ấy đã lấp đầy tâm hồn cậu bằng một niềm khát vọng tuyệt vọng muốn trốn chạy bằng mọi giá. Rồi thời tiết đẹp trở lại, và cậu chẳng mải nghĩ về Điều đó nữa.

Tuy nhiên, tật ở chân vẫn đeo bám cậu, và khi con tàu cập một cảng ở phương Đông, cậu buộc phải vào bệnh viện. Quá trình bình phục diễn ra chậm chạp, và cậu bị bỏ lại phía sau.

Trong phòng bệnh dành cho người da trắng chỉ có thêm hai bệnh nhân nữa: sĩ quan quân lương của một chiếc pháo hạm, người đã bị gãy chân do ngã xuống hầm tàu; và một dạng nhà thầu đường sắt từ một tỉnh lân cận, đang mắc phải một căn bệnh nhiệt đới kỳ bí nào đó, người coi vị bác sĩ chẳng khác nào đồ ngu, và lén lút chìm đắm trong những loại thuốc độc quyền mà tên đầy tớ người Tamil vẫn miệt mài tuồn vào với lòng trung thành không mệt mỏi. Họ kể cho nhau nghe câu chuyện cuộc đời mình, đánh bài một chút, hoặc ngáp ngắn ngáp dài trong bộ đồ ngủ, thẫn thờ trải qua cả ngày trên những chiếc ghế bành mà chẳng thốt nửa lời. Bệnh viện nằm trên một ngọn đồi, và cơn gió thoảng qua những khung cửa sổ lúc nào cũng mở toang đã mang vào căn phòng trống trải sự dịu dàng của bầu trời, sự uể oải của đất trời, và hơi thở quyến rũ của vùng biển phương Đông. Ở đó phảng phất hương thơm, những gợi cảm về sự nghỉ ngơi vô tận, món quà của những giấc mơ không dứt. Ngày qua ngày, Jim phóng tầm mắt qua những lùm cây rậm rạp trong vườn, vượt qua những mái nhà của thị trấn, qua những tán lá cọ mọc ven bờ, hướng về vùng vũng tàu tấp nập dẫn lối sang phương Đông—vùng vũng tàu được chấm phá bởi những hòn đảo nhỏ kết hoa, rực rỡ dưới ánh dương hội hè, với những con tàu trông như đồ chơi, hoạt động sôi nổi chẳng khác nào một cuộc diễu hành ngày hội, bên trên là sự thanh thản vĩnh cửu của bầu trời phương Đông và bao trùm không gian đến tận chân trời là sự bình yên mỉm cười của biển cả phương Đông.

Ngay khi có thể đi lại mà không cần gậy, cậu bước xuống thị trấn để tìm kiếm cơ hội về nhà. Lúc bấy giờ chẳng có cơ hội nào ngó ngàng đến cậu, và trong lúc chờ đợi, cậu tự nhiên kết giao với những người cùng nghề trong cảng. Họ chia làm hai loại. Một số ít, rất hiếm hoi và ít khi xuất hiện, có lối sống đầy bí ẩn, vẫn giữ được nguồn năng lượng nguyên vẹn cùng tính cách của những tên hải tặc và ánh mắt của những kẻ mộng mơ. Họ dường như sống trong một cõi mênh mông điên rồ của những dự tính, hy vọng, hiểm nguy, và những cuộc dấn thân, vượt trước thời đại văn minh, nơi những vùng tăm tối của đại dương; và cái chết của họ là sự kiện duy nhất trong tồn tại kỳ ảo ấy dường như có được sự chắc chắn hợp lý để đạt tới. Phần lớn còn lại là những kẻ giống như cậu, bị xô đẩy đến đó bởi một cơ duyên nào đó, ở lại làm sĩ quan cho những con tàu nội địa. Giờ đây, họ khiếp sợ cảnh phục vụ trên tuyến đường dài về xứ sở, với những điều kiện khắc nghiệt hơn, quan điểm về bổn phận nghiêm ngặt hơn, và hiểm nguy từ những đại dương bão tố. Họ đã hòa nhịp với sự bình yên vĩnh hằng của bầu trời và biển cả phương Đông. Họ thích những chuyến hải trình ngắn, những chiếc ghế bành thoải mái trên boong, thủy thủ đoàn người bản địa đông đảo, và niềm kiêu hãnh mang làn da trắng. Họ rùng mình trước ý nghĩ lao động vất vả, và duy trì một cuộc sống thảnh thơi đầy bấp bênh, luôn đứng bên bờ vực bị sa thải, luôn đứng bên bờ vực được thuê múa, hầu hạ người Trung Hoa, người Ả Rập, người lai—sẵn sàng hầu hạ cả quỷ dữ nếu hắn mang lại cho họ sự dễ dãi đủ đường. Họ huyên thuyên không dứt về những vận may đổi đời: hết chuyện người này nắm quyền chỉ huy một con tàu dọc bờ biển Trung Hoa—một mối béo bở; chuyện người kia có được một vị trí nhàn hạ đâu đó ở Nhật Bản, và kẻ nọ đang làm ăn phát đạt trong hải quân Xiêm; và qua tất cả những gì họ nói—trong hành động, trong ánh nhìn, trong dáng vẻ—người ta đều có thể nhận ra cái điểm yếu mềm, nơi mục ruỗng, và quyết tâm sống thảnh thơi qua ngày qua tháng một cách an toàn.

Đối với Jim, đám đông thích lê la chuyện trò ấy, dưới góc nhìn của một người đi biển, thoạt đầu có vẻ còn mơ hồ hơn cả những chiếc bóng. Thế nhưng cuối cùng, cậu lại tìm thấy sức hút kỳ lạ ở những con người ấy, ở vẻ bề ngoài sống sung túc mà chẳng cần tốn kém mấy mủi hiểm nguy và nhọc nhằn. Theo thời gian, bên cạnh sự khinh miệt ban đầu, một thứ tình cảm khác dần nảy sinh; và bất chợt, từ bỏ ý định trở về quê hương, cậu nhận lời làm đại phó trên con tàu Patna.

Patna là một chiếc tàu hơi nước cũ kỹ chẳng khác nào đồ cổ, gầy guộc như một con chó săn xám, và bị gỉ sét ăn mòn tồi tệ hơn cả một chiếc bể nước đã bỏ đi. Chủ tàu là một người Trung Hoa, được thuê bao bởi một người Ả Rập, và do một tên người Đức đào tẩu từ New South Wales làm thuyền trưởng; hắn rất thích công khai nguyền rủa quê hương mình, nhưng hình như nhờ vào chính sách bách chiến bách thắng của Bismarck, hắn đối xử tàn bạo với bất cứ ai hắn không sợ hãi, mang theo vẻ mặt "sắt và máu" cùng chiếc mũi đỏ ứng và bộ ria mép đỏ rực. Sau khi được sơn phết bên ngoài và quét vôi trắng bên trong, tám trăm hành khách (hơn kém không bao nhiêu) đã bị lùa lên tàu khi nó đang bốc hơi nước neo đậu sát bên một cầu tàu bằng gỗ.

Họ lũ lượt bước lên tàu qua ba tấm ván bắc ngang, họ ùa vào thúc đẩy bởi niềm tin và hy vọng về chốn thiên đàng, họ bước vào với tiếng bước chân trần nện liên hồi và lê lết không ngớt, chẳng một lời, chẳng một tiếng thì thầm, chẳng một lần ngoái đầu nhìn lại; và khi đã vượt qua những hàng lan can chật hẹp, họ tản ra khắp mọi hướng trên boong tàu, tràn về phía mũi và lái, tuôn xuống những miệng hầm tàu đang há hốc, lấp đầy những ngóc ngách bên trong con tàu—như nước đổ đầy bể chứa, như nước len lỏi vào từng khe hở và kẽ hở, như dòng nước dâng lặng thầm san phẳng với mép bờ. Tám trăm con người gồm cả nam lẫn nữ mang theo niềm tin và hy vọng, với những tình cảm và ký ức, họ đã tề tựu nơi đó, đến từ phương bắc và phương nam cùng những chốn thâm sơn cùng cốc của phương Đông, sau khi băng qua những lối mòn trong rừng rậm, xuôi theo những dòng sông, ven bờ trên những chiếc thuyền prau qua các vùng nước nông, chèo chống những chiếc xuồng nhỏ vượt từ hòn đảo này sang hòn đảo khác, trải qua muôn vàn gian khổ, chứng kiến những cảnh tượng lạ kỳ, vây quanh bởi những nỗi sợ vu vơ, được nâng đỡ bởi một khát vọng duy nhất. Họ đến từ những túp lều cô quạnh chốn hoang vu, từ những bản làng đông đúc, từ những xóm chài ven biển. Theo tiếng gọi của một ý tưởng, họ đã rời bỏ những khu rừng, những thửa đất khai hoang, sự che chở của các lãnh chúa, sự thịnh vượng, sự nghèo khó, những khung trời tuổi trẻ và ngôi mộ của tổ tiên. Họ đến trong lớp bụi đường, mồ hôi, cáu bẩn, rách rưới—những người đàn ông tráng kiện đi đầu các gia đình, những cụ ông gầy guộc bước đi chẳng mòn mỏi hy vọng ngày về; những thiếu niên với đôi mắt không sợ hãi tò mò nhìn ngó, những bé gái rụt rè với mái tóc dài xõa rối; những người phụ nữ rụt rè trùm kín mít và ôm chặt vào ngực, quấn trong những vạt khăn trùm đầu lấm lem, những đứa con thơ đang ngủ say, những người hành hương vô thức của một tín điều khắc nghiệt.

— Nhìn đám súc vật kìa, — vị thuyền trưởng người Đức nói với viên đại phó mới của hắn.

Một người Ả Rập, kẻ dẫn đầu chuyến hành trình tôn giáo ấy, bước lên cuối cùng. Ông ta chậm rãi bước lên tàu, đẹp đẽ và trang nghiêm trong bộ áo choàng trắng cùng chiếc khăn turban lớn. Theo sau là một dải người hầu, mang vác hành lý ngập đầu; tàu Patna nhổ neo và lùi ra khỏi cầu cảng.

Con tàu hướng mũi đi giữa hai hòn đảo nhỏ, cắt chéo qua vùng neo đậu của những con tàu buồm, quay một nửa vòng tròn trong bóng râm của một ngọn đồi, rồi sượt sát qua một dải rạn san hô sủi bọt trắng xóa. Người Ả Rập, đứng thẳng ở phía lái, lớn tiếng đọc bài kinh dành cho những lữ khách đi biển. Ông cầu xin sự ân chuẩn của Đấng Tối Cao cho chuyến hành trình ấy, khẩn cầu Ngài ban phúc cho lao động của con người và cho những ẩn ý thầm kín trong tim họ; con tàu hơi nước ì à ì ạch rẽ nước trong chạng vạng của eo biển; và ở phía xa tít tắp sau đuôi con tàu hành hương, một ngọn hải đăng cọc xoắn, do những kẻ ngoại đạo cắm trên một bãi cạn hiểm trở, dường như đang nháy mắt với nó bằng con mắt lửa, tựa như đang chế nhạo sứ mệnh đức tin của nó.

Con tàu vượt qua Eo biển, băng qua vịnh, tiếp tục hành trình xuyên qua lối đi "Một độ". Nó thẳng tiến Biển Đỏ dưới một bầu trời thanh thản, dưới một bầu trời chói chang không một gợn mây, bao trùm trong thứ ánh sáng rực rỡ như thiêu như đốt bóp nghẹt mọi suy nghĩ, đè nặng trái tim, làm khô héo mọi xung lực của sức mạnh và năng lượng. Và dưới vẻ lộng lẫy đầy ám ảnh của bầu trời ấy, biển cả, xanh thẳm và sâu thẳm, vẫn tĩnh mịch, chẳng một gợn động, chẳng một làn sóng nhỏ, chẳng một nếp nhăn—sền sệt, tù đọng, chết chóc. Tàu Patna, với một tiếng rít khẽ khàng, lướt qua mặt phẳng rực rỡ và mượt mà ấy, cuộn lên một dải ruy băng khói đen vắt ngang bầu trời, để lại sau lưng trên mặt nước một dải ruy băng bọt trắng tan biến ngay tức khắc, tựa như bóng ma của vết bánh xe vẽ trên một vùng biển vô tri bởi bóng ma của một con tàu hơi nước.

Mỗi buổi sáng, mặt trời, như thể đang chạy đua trong những vòng quay của mình với tiến trình của cuộc hành hương, nhô lên với một luồng ánh sáng bừng lên lặng lẽ đúng tại một khoảng cách phía sau tàu, bắt kịp nó vào lúc ban trưa, trút ngọn lửa tập trung của những tia nắng lên những mục đích thành kính của con người, lướt qua trên đường lặn xuống, và chìm một cách bí ẩn vào lòng biển hết buổi chiều này đến buổi khác, duy trì đúng khoảng cách ở phía trước mũi tàu đang tiến lên. Năm người da trắng trên tàu sống ở khu vực giữa tàu, cách ly hoàn toàn với đám đông con người. Những tấm bạt che biến boong tàu thành một mái nhà trắng từ mũi đến lái, và một tiếng vo ve yếu ớt, một thứ âm thanh thì thầm trầm buồn của những giọng nói, là thứ duy nhất hé lộ sự hiện diện của đông đảo con người giữa đại dương rực lửa. Những ngày tháng cứ thế trôi qua, tĩnh lặng, oi ả, nặng nề, lần lượt chìm khuất vào quá khứ, tựa như rơi vào một vực thẳm luôn mở hoác ở phía sau đuôi tàu; và con tàu, đơn độc dưới một lọn khói, vẫn kiên định lướt đi trong lớp màu đen và âm ỉ giữa một không gian la liệt vô tận, tựa như bị thiêu đốt bởi ngọn lửa búng ra từ một bầu trời vô tình.

Đêm sà xuống con tàu tựa như một lời chúc phúc.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.