“Muộn vào buổi tối, tôi bước vào phòng làm việc của ông, sau khi đi qua một phòng ăn uy nghi nhưng trống vắng và mờ ảo ánh đèn. Căn nhà chìm trong tĩnh lặng. Dẫn đường cho tôi là một lão gia nhân người Javan sắc sảo, mặc bộ đồng phục kiểu cách gồm áo khoác trắng và xà-rông vàng; lão đẩy cửa bước vào, cất tiếng khẽ khàng, ‘Thưa ông chủ!’, rồi né sang một bên, biến mất một cách huyền bí như thể chỉ là một bóng ma hiện hình trong chốc lát vì mục đích phục vụ riêng ấy. Stein quay ghế lại, và theo cùng cử động đó, cặp kính của ông dường như trượt lên trán. Ông chào đón tôi bằng giọng nói trầm tĩnh và đượm chút hài hước. Chỉ có một góc của căn phòng rộng lớn, cái góc đặt chiếc bàn viết, là được chiếu sáng rực rỡ bởi chiếc đèn đọc sách có chụp, còn phần còn lại của gian phòng mênh mông chìm vào bóng tối vô định như một hang động. Những chiếc kệ hẹp đựng đầy các hộp tối màu có hình dáng và kích thước đồng nhất chạy dọc theo các bức tường, không phải từ sàn đến trần, mà thành một vành đai ảm đạm rộng khoảng bốn thước. Những hầm mộ chứa côn trùng. Những tấm bảng gỗ được treo phía trên ở các khoảng cách không đều. Ánh sáng chiếu tới một trong số chúng, và từ “Coleoptera” viết bằng chữ vàng lấp lánh đầy huyền bí giữa khoảng không gian mờ mịt rộng lớn. Những chiếc tủ kính chứa bộ sưu tập bướm được xếp thành ba hàng dài trên những chiếc bàn nhỏ chân mảnh. Một trong những chiếc tủ ấy đã được nhấc khỏi vị trí và đặt trên bàn làm việc, nơi đang rải rác những mảnh giấy hình chữ nhật phủ đen những dòng chữ viết tay li ti.
‘“Thế là anh thấy tôi—như thế đấy,” ông nói. Bàn tay ông lơ lửng phía trên chiếc tủ kính, nơi một con bướm đơn độc mang vẻ uy nghi tuyệt mỹ đang giương rộng đôi cánh màu đồng sẫm, sải rộng từ bảy inch trở lên, với những đường gân trắng tinh tế và viền đốm vàng rực rỡ. “Ở London của các anh, họ chỉ có đúng một tiêu bản thế này, và rồi—hết. Bộ sưu tập này của tôi, tôi sẽ để lại cho thị trấn nhỏ quê hương tôi. Một phần con người tôi. Phần tuyệt nhất.”
‘Ông chồm người tới trước trên chiếc ghế, chăm chú nhìn đăm đăm, cằm tựa lên thành trước của chiếc tủ. Tôi đứng sau lưng ông. “Kỳ diệu thật,” ông thì thầm, và dường như quên mất sự hiện diện của tôi. Cuộc đời ông thật ly kỳ. Ông sinh ra ở Bavaria, và khi là một thanh niên tuổi hai mươi hai, ông đã tham gia tích cực vào phong trào cách mạng năm 1848. Bị truy nã gắt gao, ông xoay sở trốn thoát, và thoạt đầu tìm được nơi trú ẩn tại nhà một người thợ sửa đồng hồ theo trường phái cộng hòa nghèo túng ở Trieste. Từ đó, ông tìm đường đến Tripoli với một vốn đồng hồ giá rẻ để mang đi rao bán khắp nơi,—thực ra không phải là một khởi đầu quá lớn lao, nhưng lại tỏ ra khá may mắn, bởi chính tại đó ông đã tình cờ gặp một nhà thám hiểm người Hà Lan—tôi tin là một nhân vật khá nổi tiếng, nhưng tôi không nhớ tên. Đó chính là nhà tự nhiên học nọ, người đã thuê ông làm một thứ trợ lý rồi đưa ông phương Đông. Họ cùng nhau và tách riêng đi du lịch khắp vùng Quần đảo để thu thập côn trùng và chim chóc trong suốt bốn năm hoặc hơn thế. Rồi nhà tự nhiên học trở về nước, còn Stein, vì chẳng có nhà để về, nên đã ở lại với một nhà buôn già mà ông từng gặp trong những chuyến hành trình sâu trong nội địa Celebes—nếu có thể coi Celebes là nơi có vùng nội địa. Lão người Scotland già nua này, người da trắng duy nhất được phép sinh sống tại xứ sở ấy vào thời điểm đó, là một người bạn có đặc quyền của vị thủ lĩnh tối cao bang Wajo, vốn là một phụ nữ. Tôi thường nghe Stein kể lại cách mà gã đàn ông ấy, người bị liệt nhẹ một nửa người, đã giới thiệu ông với triều đình bản địa ngay trước khi một cơn đột quỵ khác cướp đi mạng sống lão. Lão là một người to lớn với bộ râu trắng gia trưởng và vóc dáng uy nghi. Lão bước vào phòng hội nghị nơi tất cả các rajah, pangeran và tộc trưởng đã tề tựu, cùng với nữ vương, một phụ nữ béo phì nhăn nheo (ăn nói rất big bô thoải mái, Stein bảo thế), đang nằm ngả ngốn trên một chiếc sập cao dưới lọng che. Lão lê cái chân, nện cây gậy xuống sàn, và nắm lấy tay Stein, kéo thẳng ông đến trước chiếc sập. “Kính thưa nữ vương và các vị rajah, đây là con trai ta,” lãoõ dõng dạc tuyên bố bằng một giọng vang như sấm. “Ta đã buôn bán với cha các người, và khi ta chết, nó sẽ buôn bán với các người và con trai các người.”
‘Nhờ thủ tục đơn giản ấy, Stein đã thừa hưởng vị thế đặc quyền của lão người Scotland cùng toàn bộ hàng hóa trong cửa hiệu, kèm theo một ngôi nhà kiên cố bên bờ con sông duy nhất có thể đi thuyền được trong xứ sở đó. Chẳng bao lâu sau, vị nữ vương già vốn ăn nói bộc trực ấy qua đời, và đất nước rơi vào cảnh rối ren do những kẻ tranh giành ngai vàng nổi dậy. Stein gia nhập phe của người con trai út, người mà ba mươi năm sau ông chưa bao giờ nhắc đến với cái tên nào khác ngoài “tội nghiệp Mohammed Bonso của tôi.” Cả hai trở thành anh hùng trong vô số chiến tích; họ trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ diệu, và có lần từng chống chọi một cuộc vây hãm trong ngôi nhà của lão người Scotland suốt một tháng trời, chỉ với hai mươi tay súng chống lại cả một quân đoàn. Tôi tin là người bản địa vẫn còn nhắc đến cuộc chiến đó cho đến tận ngày nay. Trong khi đó, dường như Stein chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội chớp lấy bất kỳ con bướm hay con bọ cánh cứng nào mà ông có thể chạm tay vào cho riêng mình. Sau khoảng tám năm chiến tranh, đàm phán, những hiệp ước hờ, những cuộc bùng nổ bất ngờ, hòa giải, phản bội, v.v., và ngay khi hòa bình tưởng chừng cuối cùng đã được vãn hồi vĩnh viễn, “tội nghiệp Mohammed Bonso” của ông lại bị ám sát ngay cổng dinh cơ hoàng gia của hắn trong lúc đang hào hứng nhảy xuống ngựa sau một chuyến đi săn hươu thành công. Sự kiện này khiến cho địa vị của Stein trở nên vô cùng bấp bênh, nhưng có lẽ ông đã ở lại nếu không vì một thời gian ngắn sau đó, ông lại mất đi người chị của Mohammed (“người vợ thân yêu của tôi là công chúa,” ông thường trang trọng gọi như vậy), người đã sinh cho ông một đứa con gái—cả mẹ và con đều qua đời chỉ cách nhau ba ngày vì một cơn sốt truyền nhiễm nào đó. Ông rời khỏi xứ sở mà sự mất mát tàn nhẫn này đã khiến ông không sao chịu đựng nổi. Thế là khép lại chương đầu đầy phiêu lưu trong cuộc đời ông. Những gì diễn ra sau đó khác biệt đến mức, nếu không vì nỗi đau thực sự vẫn còn đọng lại trong ông, thì quãng đời kỳ lạ này hẳn đã giống như một giấc mơ. Ông có một ít tiền; ông bắt đầu lại cuộc đời, và qua năm tháng đã tích lũy được một gia tài đáng kể. Thoạt đầu, ông đi lại rất nhiều giữa các hòn đảo, nhưng tuổi tác đã len lỏi đến, và dạo gần đây ông hiếm khi rời khỏi ngôi nhà rộng rãi cách thị trấn ba dặm của mình, nơi có khu vườn rộng lớn, xung quanh bao quanh bởi chuồng ngựa, văn phòng và những dãy nhà tranh tre cho đám gia nhân cùng người phụ thuộc mà ông có rất nhiều. Mỗi buổi sáng, ông lái chiếc xe ngựa nhẹ vào thị trấn, nơi ông có một văn phòng với các nhân viên người da trắng và người Trung Quốc. Ông sở hữu một đội tàu buôn nhỏ cùng thuyền bè bản địa, và buôn bán sản vật hải đảo với quy mô lớn. Ngoài ra, ông sống cô độc nhưng không hề căm ghét con người, cùng những cuốn sách và bộ sưu tập của mình, phân loại và sắp xếp các tiêu bản, thư tín với các nhà côn trùng học ở châu Âu, viết biên mục miêu tả về những báu vật của ông. Đó là lịch sử của con người mà tôi đã đến để xin ý kiến về trường hợp của Jim mà chẳng mang theo chút hy vọng chắc chắn nào. Chỉ cần được nghe ông nói gì thôi cũng đã là một sự giải tỏa. Tôi vô cùng lo lắng, nhưng tôi tôn trọng sự đắm chìm mãnh liệt, gần như say đắm của ông khi ngắm nhìn một con bướm, như thể trên ánh đồng của đôi cánh mỏng manh ấy, trong những đường nét trắng tinh, trong những họa tiết rực rỡ, ông có thể nhìn thấy những điều khác, hình ảnh của một thứ vừa dễ tàn lụi lại vừa thách thức sự hủy diệt như những mô mỏng manh vô tri đang khoe sắc vẻ lộng lẫy không bị cái chết làm vấy bẩn.
‘“Kỳ diệu!” ông lặp lại, ngước nhìn tôi. “Nhìn kìa! Vẻ đẹp—nhưng điều đó chẳng là gì—hãy nhìn sự chính xác, sự hài hòa. Mà lại vô cùng mỏng manh! Và vô cùng mạnh mẽ! Lại vô cùng chuẩn xác! Đây chính là Tự nhiên—sự cân bằng của những lực lượng khổng lồ. Mọi vì sao đều như thế—và mọi ngọn cỏ đều đứng vững như thế—và Vũ trụ hùng vĩ trong thế cân bằng hoàn hảo đã sản sinh ra—điều này. Kỳ quan này; kiệt tác của Tự nhiên—người nghệ sĩ vĩ đại.”
‘“Chưa từng nghe một nhà côn trùng học nào nói năng thế này,” tôi vui vẻ nhận xét. “Kiệt tác! Thế còn con người thì sao?”
‘“Con người thật đáng kinh ngạc, nhưng nó không phải là một kiệt tác,” ông nói, dán mắt vào chiếc tủ kính. “Có lẽ người nghệ sĩ đã có chút điên rồ chăng? Hử? Anh nghĩ sao? Thỉnh thoảng tôi có cảm giác con người xuất hiện ở nơi họ không được chào đón, nơi chẳng có chỗ cho họ; bởi nếu không, tại sao họ lại cứ muốn chiếm đoạt tất cả không gian? Tại sao họ cứ chạy đôn chạy đáo gây ra bao tiếng động lớn về bản thân, bàn chuyện tinh tú, làm xáo trộn những ngọn cỏ? . . .”
‘“Bắt bướm,” tôi chêm vào.
‘Ông mỉm cười, ngả người ra sau ghế và duỗi thẳng chân. “Ngồi xuống đi,” ông nói. “Chính tôi đã bắt được tiêu bản quý hiếm này vào một buổi sáng rất đẹp trời. Và tôi đã dâng trào một cảm xúc vô cùng lớn lao. Anh không biết cảm giác của một nhà sưu tập khi bắt được một tiêu bản quý hiếm như thế nào đâu. Anh không thể biết được đâu.”
‘Tôi thong thả mỉm cười trên chiếc ghế bập bênh. Ánh mắt ông dường như nhìn xuyên qua bức tường trước mặt; và ông kể lại chuyện một đêm nọ, có sứ giả từ chỗ “tội nghiệp Mohammed” của ông đến, yêu cầu sự hiện diện của ông tại “residenz”—theo cách gọi của ông—cách đó chừng chín hoặc mười dặm qua một lối mòn ngựa chạy băng qua một vùng đồng bằng canh tác, rải rác những khoảng rừng thưa. Sáng sớm tinh sương, ông lên đường từ ngôi nhà kiên cố của mình, sau khi ôm từ biệt bé Emma nhỏ bé và để “công chúa”, người vợ của ông, ở lại cầm quyền. Ông miêu tả cách bà đi cùng ông ra tận cửa, vừa đi vừa đặt một tay lên cổ con ngựa của ông; bà mặc chiếc áo khoác trắng, cài trâm vàng trên mái tóc, và mang một thắt lưng da màu nâu vắt qua vai trái với khẩu súng lục giắt trong đó. “Bà ấy nói năng như những người phụ nữ hay nói,” ông kể, “dặn dò tôi phải cẩn thận, cố gắng quay về trước khi trời tối, và việc tôi đi một mình là một điều vô cùng dại dột. Chúng tôi đang có chiến tranh, và xứ sở không hề an toàn; người của tôi đang dựng những tấm chắn đạn cho ngôi nhà và lên đạn súng trường, còn bà ấy thì nài nỉ tôi đừng lo lắng cho bà ấy. Bà ấy có thể bảo vệ ngôi nhà chống lại bất kỳ ai cho đến khi tôi trở về. Và tôi mỉm cười sung sướng một chút. Tôi thích nhìn thấy bà ấy dũng cảm, trẻ trung và mạnh mẽ đến vậy. Hồi đó tôi cũng còn trẻ. Đến cổng, bà nắm lấy tay tôi, siết mạnh một cái rồi lùi lại. Tôi nài cho con ngựa đứng yên bên ngoài cho đến khi nghe tiếng thanh chắn cổng được sập lại sau lưng. Có một kẻ thù lớn của tôi, một nhà quý tộc lớn—đồng thời cũng là một tên đểu cá lớn—đang lảng vảng cùng một băng nhóm ở vùng phụ cận. Tôi phi nước đại chừng bốn năm dặm; ban đêm trời có mưa, nhưng sương mù đã bay cao, bay cao lên—và mặt đất thật sạch sẽ; nó nằm mỉm cười với tôi, tươi tắn và ngây thơ biết bao—như một đứa trẻ. Bất chợt ai đó khai hỏa một loạt đạn—tôi thấy ít phát phải tới hai mươi phát. Tôi nghe tiếng đạn rít bên tai, và chiếc mũ của tôi văng tuốt ra sau gáy. Hóa ra đó là một âm mưu nhỏ, anh hiểu chứ. Chúng dụ được tội nghiệp Mohammed của tôi phái người gọi tôi đến rồi giăng sẵn ổ phục kích đó. Tôi hiểu ra tất cả chỉ trong một khoảnh khắc, và tôi nghĩ—Việc này đòi hỏi phải xử lý khéo léo đây. Con ngựa lùn của tôi khịt mũi, chồm lên, đứng khựng lại, và tôi từ từ ngả gập người về phía trước với cái đầu tựa lên bờm nó. Nó bắt đầu bước đi, và bằng một con mắt, tôi có thể nhìn qua cổ nó một làn khói mờ ảo lơ lửng trước một lùm tre bên trái. Tôi nghĩ—À nầy! các bạn của tôi ơi, sao các vị không đợi thêm chút nữa rồi hãy bắn? Việc này chưa gelungen đâu nhé. Ồ không! Tôi đưa tay phải vớ lấy khẩu súng lục—rất khẽ—rất khẽ. Suy cho cùng, lũ vô loại này chỉ có bảy tên. Chúng vùng dậy khỏi thảm cỏ và bắt đầu chạy với vạt áo xarông được giắt lên cao, vẫy vẫy giáo lợn trên đầu và la hét bảo nhau trông chừng và bắt lấy con ngựa, bởi vì tôi đã chết rồi. Tôi để chúng đến sát cửa như chỗ này đây, rồi bòm, bòm, bòm—lại còn nhắm cẩn thận mỗi phát bắn nữa chứ. Tôi bắn thêm một phát vào lưng một tên, nhưng trượt mất. Ở xa quá rồi. Và thế rồi tôi ngồi một mình trên lưng con ngựa với mặt đất tinh sạch đang mỉm cười với mình, và đằng kia là xác ba kẻ đang nằm trên mặt đất. Một tên cuộn tròn như con chó, tên thứ hai nằm ngửa với một cánh tay gác lên mắt như thể để che nắng, và tên thứ ba từ từ co chân lại rồi đá thẳng ra một cách dứt khoát. Tôi chăm chú quan sát hắn từ trên lưng ngựa, nhưng không còn động tĩnh gì nữa—bleibt ganz ruhig—cứ im lặng thế nhé. Và khi tôi nhìn vào khuôn mặt hắn để tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu sự sống nào, tôi chợt nhận thấy một thứ giống như chiếc bóng mờ nhạt lướt qua trán hắn. Đó là cái bóng của con bướm này. Hãy nhìn hình dáng của cánh xem. Loài này bay cao với những nhịp vỗ cánh mạnh mẽ. Tôi ngước mắt lên và nhìn thấy nó đang chao lượn bay đi. Tôi nghĩ—Liệu có thể thế được ư? Và rồi tôi mất dấu nó. Tôi xuống ngựa và đi rất chậm, dắt theo con ngựa, một tay cầm súng lục còn mắt đảo lên xuống, sang phải sang trái, khắp mọi nơi! Cuối cùng tôi thấy nó đang đậu trên một đống đất nhỏ cách đó mười thước. Trái tim tôi lập tức đập rộn lên. Tôi buông cương ngựa, một tay giữ súng, tay kia chộp lấy chiếc mũ phớt mềm trên đầu. Một bước. Vững vàng. Thêm bước nữa. Bịch! Tôi túm được nó rồi! Khi đứng dậy, tôi run như lá trước sự phấn khích, và khi tôi mở đôi cánh đẹp đẽ ấy ra để chắc chắn rằng mình vừa có được một tiêu bản quý hiếm và vô cùng hoàn hảo biết bao, đầu óc tôi quay cuồng và chân cẳng mụ mẫm vì xúc động đến mức tôi phải ngồi bệt xuống đất. Tôi từng rất ao ước sở hữu một tiêu bản thuộc loài đó khi đi thu thập cho vị giáo sư. Tôi đã thực hiện những chuyến đi dài và chịu đựng bao gian khổ; tôi từng mơ về nó trong giấc ngủ, và giờ đây bất ngờ tôi lại nắm nó trong những ngón tay mình—cho chính tôi! Lược theo lời nhà thơ” (ông phát âm là “boet”)—
“‘So halt’ ich’s endlich denn in meinen Handen,
Und nenn’ es in gewissem Sinne mein.’”
Ông nhấn mạnh từ cuối cùng bằng một giọng đột nhiên trầm xuống, và từ từ rời mắt khỏi khuôn mặt tôi. Ông bắt đầu nhồi tẩu có cán dài một cách bận rộn và lặng lẽ, rồi khựng lại với ngón cái bịt lấy miệng bát tẩu, ngước lên nhìn tôi đầy ý nghĩa.
‘“Vâng, người bạn tốt của tôi ạ. Ngày hôm đó tôi chẳng còn gì để khao khát; tôi đã chọc giận kẻ thù chính của mình một vố đau; tôi trẻ trung, mạnh mẽ; tôi có tình bạn; tôi có tình yêu” (ông phát âm là “lof”) “của người phụ nữ, tôi có một đứa con để làm trái tim mình tràn ngập—và thậm chí cả điều tôi từng mơ thấy trong giấc ngủ nay cũng đã nằm trong tay tôi rồi!”
‘Ông quẹt một que diêm, ngọn lửa bùng lên dữ dội. Khuôn mặt trầm ngâm, bình thản của ông giật nhẹ một cái.
‘“Bạn bè, vợ, con,” ông nói chậm rãi, dán mắt vào ngọn lửa nhỏ—“phụt!” Ngọn lửa diêm bị thổi tắt. Ông thở dài và quay lại nhìn chiếc tủ kính. Đôi cánh mỏng manh và xinh đẹp khẽ rung lên, như thể hơi thở của ông vừa kéo gọi trở lại sự sống cho tuyệt phẩm lộng lẫy trong những giấc mơ của ông.
‘“Công việc,” ông chợt cất lời, chỉ tay về phía những mẩu giấy rải rác, với giọng điệu ôn tồn và vui vẻ quen thuộc, “đang tiến triển rất tốt. Tôi vừa miêu tả cái tiêu bản quý hiếm này xong. . . . Na! Thế còn tin vui gì từ anh?”
‘“Thật tình mà nói, Stein,” tôi nói với một nỗ lực khiến chính mình ngạc nhiên, “tôi đến đây để miêu tả một tiêu bản. . . .”
‘“Bướm à?” ông hỏi, với vẻ háo hức đầy hoài nghi và hài hước.
‘“Không có gì hoàn hảo đến thế,” tôi đáp, bỗng cảm thấy chán nản với đủ loại hoài nghi. “Một con người!”
‘“Ach so!” ông lẩm bẩm, và vẻ mặt đang mỉm cười quay sang tôi chợt trở nên nghiêm nghị. Rồi sau khi nhìn tôi một lúc, ông chậm rãi nói, “Thế thì—tôi cũng là một con người.”
‘Ở đây, anh có thể thấy con người ông là vậy đấy; ông biết cách khuyến khích một cách đầy hào phóng đến mức khiến một kẻ e dè phải chần chừ trước ngưỡng cửa của sự thổ lộ; nhưng nếu tôi có chần chừ thì cũng chẳng kéo dài lâu.
‘Ông lắng nghe tôi đến cùng, ngồi khoanh chân. Thỉnh thoảng đầu ông lại biến mất hoàn toàn trong một đám khói dày đặc, và một tiếng gầm gừ đồng cảm phát ra từ màn khói ấy. Khi tôi dứt lời, ông buông chân ra, đặt tẩu xuống, hướng người về phía tôi đầy vẻ nghiêm túc với hai khuỷu tay tì lên tay ghế, các đầu ngón tay chạm vào nhau.
‘“Tôi hiểu rất rõ. Cậu ấy là một kẻ lãng mạn.”
‘Ông đã chẩn đoán bệnh trạng cho tôi, và thoạt đầu tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nó đơn giản làm sao; và quả thực buổi hội chuẩn của chúng tôi giống hệt một cuộc hội chẩn y khoa đến mức—Stein, với vẻ uyên bác, ngồi trên chiếc ghế bầy tay trước bàn làm việc; còn tôi, đầy lo lắng, ngồi trên chiếc ghế khác đối diện ông, nhưng lệch sang một bên một chút—khiến việc cất lời hỏi trở nên thật tự nhiên—
‘“Thuốc nào trị được bệnh đó?”
‘Ông giơ ngón trỏ dài lên.
‘“Chỉ có một phương dược duy nhất! Duy chỉ có một thứ mới cứu chúng ta khỏi việc phải làm chính mình!” Ngón tay giáng xuống mặt bàn một cái thật kêu. Căn bệnh mà ban nãy ông làm cho có vẻ đơn giản hóa nay lại càng trở nên đơn giản hơn—và hoàn toàn vô phương cứu chữa. Có một khoảng lặng. “Vâng,” tôi nói, “nói một cách nghiêm túc, vấn đề không phải là làm sao để chữa khỏi, mà là làm thế nào để sống.”
‘Ông gật đầu tán thành, có vẻ hơi buồn rầu. “Ja! ja! Nói chung, phỏng theo lời nhà thơ vĩ đại của các anh: Đó là vấn đề. . . .” Ông tiếp tục gật đầu đầy thông cảm. . . . “Làm thế nào để hiện hữu! Ach! Làm thế nào để hiện hữu.”
‘Ông đứng dậy với các đầu ngón tay tì lên mặt bàn.
‘“Chúng ta muốn hiện hữu theo rất nhiều cách khác nhau,” ông bắt đầu lại. “Con bướm lộng lẫy này tìm thấy một đống đất nhỏ và đậu yên trên đó; nhưng con người thì chẳng bao giờ chịu ngồi yên trên đống bùn của mình. Họ muốn thế này, rồi lại muốn thế kia. . . .” Ông đưa tay lên, rồi hạ xuống. . . . “Họ muốn làm thánh nhân, và họ muốn làm ma quỷ—và mỗi lần nhắm mắt lại, họ lại thấy mình là một kẻ tuyệt vời—tuyệt vời đến mức không bao giờ có thể đạt tới. . . . Trong một giấc mơ. . . .”
‘Ông hạ nắp kính xuống, chiếc ổ khóa tự động kêu rắc một tiếng sắc bén, rồi ôm lấy chiếc hộp bằng cả hai tay, cung kính mang nó cất về chỗ cũ, bước ra khỏi vòng sáng của ngọn đèn để chìm vào vành sáng mờ nhạt hơn—rồi cuối cùng bước vào bóng tối vô định. Hiệu ứng thật kỳ lạ—như thể chỉ vài bước chân ấy đã đưa ông rời khỏi thế giới cụ thể và đầy rắc rối này. Vóc dáng cao lớn của ông, như thể đã bị tước đi phần chất thể, lướt đi không tiếng động trên những vật thể vô hình với những chuyển động khom lưng và không rõ hình thù; giọng nói của ông, vang lên từ chốn xa xăm nơi người ta chỉ có thể thấp thoáng thấy ông đang bận rộn một cách huyền bí với những bận tâm phi vật chất, nay không còn sắc bén nữa, mà dường như cất lên vang dội và trầm mặc—được làm cho dịu ngọt bởi khoảng cách.
‘“Và bởi vì các anh không thể lúc nào cũng nhắm mắt lại được nên rắc rối thực sự mới kéo đến—nỗi đau của trái tim—nỗi đau của thế gian. Tôi nói cho anh biết, bạn của tôi ạ, việc nhận ra mình không thể biến giấc mơ thành hiện thực chẳng có gì là tốt đẹp cả, lý do là vì các anh không đủ mạnh mẽ, hoặc không đủ thông minh. . . . Ja! . . . Và trong suốt thời gian đó các anh lại là một kẻ tuyệt vời biết bao! Wie? Was? Gott im Himmel! Làm sao có thể thế được chứ? Ha! ha! ha!”
‘Cái bóng đang lảng vảng giữa những nấm mồ loài bướm cất tiếng cười vang sảng khoái.
‘“Đúng thế! Điều khủng khiếp này thật là rất buồn cười. Một con người sinh ra là rơi vào một giấc mơ giống như kẻ rơi xuống biển. Nếu hắn cố trèo lên không trung như những kẻ thiếu kinh nghiệm vẫn hay gắng sức làm, hắn sẽ chết đuối—nicht wahr? . . . Không! Tôi nói cho các anh biết! Con đường là hãy phó mặc bản thân cho yếu tố hủy diệt, và bằng sức vẫy vùng của đôi tay đôi chân dưới làn nước, hãy bắt đại dương sâu thẳm, sâu thẳm kia phải nâng anh nổi lên. Thế nên nếu anh hỏi tôi—làm thế nào để hiện hữu?”
‘Giọng ông bỗng vút lên mạnh mẽ đến kỳ lạ, như thể đằng kia trong bóng tối, ông vừa được truyền cảm hứng bởi một lời thì thầm của tri thức. “Tôi sẽ chỉ cho anh! Cho việc đó cũng chỉ có duy nhất một con đường.”
‘Với một tiếng sột soạt gấp gáp của đôi dép lê, ông lững thững hiện ra trong vành sáng mờ, rồi đột ngột xuất hiện trong vòng sáng rực rỡ của ngọn đèn. Bàn tay vươn ra của ông chĩa thẳng vào ngực tôi như một khẩu súng lục; đôi mắt sâu thẳm của ông dường như nhìn thấu qua tôi, nhưng đôi môi đang giật giật không thốt lên lời nào, và vẻ phấn khích thanh cao của một niềm xác tín nhìn thấy trong bóng tối đã biến mất khỏi khuôn mặt ông. Bàn tay nãy giờ chĩa vào ngực tôi hạ xuống, rồi một lát sau, tiến lại gần thêm một bước, ông nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi. Có những điều, ông buồn bã nói, có lẽ không bao giờ có thể kể ra được, chỉ là ông sống cô độc quá lâu nên thỉnh thoảng ông quên mất—ông quên mất. Ánh sáng đã phá hủy sự quả quyết từng truyền cảm hứng cho ông trong những bóng râm xa xôi. Ông ngồi xuống và, với cả hai khuỷu tay tì lên bàn làm việc, dùng tay xoa trán. “Thế mà đó lại là sự thật—đó là sự thật. Hãy đắm mình vào yếu tố hủy diệt.” . . . Ông nói với giọng trầm buồn, không nhìn tôi, mỗi tay đặt bên má. “Đó chính là con đường. Cứ theo đuổi giấc mơ, và lại theo đuổi giấc mơ—và cứ thế—ewig—usque ad finem. . . .” Tiếng thì thầm của niềm tin quyết liệt nơi ông dường như mở ra trước mắt tôi một không gian mênh mông và mờ mịt, tựa như một chân trời chạng vạng trên cánh đồng vào lúc bình minh—hay phải chăng là vào thời khắc màn đêm buông xuống? Người ta không đủ dũng khí để định đoạt; nhưng đó là một ánh sáng vừa quyến rũ vừa đánh lừa, phủ lên những chiếc hố ngầm—những ngôi mồ—thơ ca ảo ảnh của sự mờ mịt. Cuộc đời ông đã bắt đầu trong sự hy sinh, trong niềm nhiệt thành vì những lý tưởng cao đẹp; ông đã đi rất xa, qua nhiều ngả đường, trên những lối đi kỳ lạ, và bất cứ thứ gì ông theo đuổi thì đều không mảy may dao động, và do đó không hề hổ thẹn cũng chẳng mảy may hối tiếc. Xét về điểm đó, ông đã đúng. Đó chính là con đường, không còn nghi ngờ gì nữa. Thế nhưng dẫu vậy, cánh đồng hoang vu rộng lớn nơi con người lang thang giữa những nấm mồ và hố ngầm vẫn trở nên vô cùng cô quạnh dưới thứ ánh sáng chạng vạng mang nét thơ ca ảo ảnh, bị che khuất ở chính giữa, được bao quanh bởi một vành viền sáng chói như thể được vây quanh bởi một vực thẳm ngập tràn lửa đỏ. Khi cuối cùng tôi phá vỡ sự im lặng, đó là để bày tỏ quan điểm rằng chẳng có ai lãng mạn hơn chính bản thân ông.
‘Ông chậm rãi lắc đầu, rồi sau đó nhìn tôi bằng một ánh mắt kiên nhẫn và dò hỏi. Thật là đáng tiếc, ông nói. Ở đó chúng tôi đang ngồi và trò chuyện như hai cậu thiếu niên, thay vì chụm đầu lại để tìm kiếm thứ gì đó thiết thực—một phương thuốc thiết thực—cho cái ác—cho cái ác vĩ đại—ông lặp lại, với nụ cười hài hước và khoan dung. Dẫu vậy, cuộc trò chuyện của chúng tôi chẳng hề trở nên thiết thực hơn chút nào. Chúng tôi tránh nhắc đến tên Jim như thể đang cố giữ cho bằng xương bằng thịt khỏi cuộc tranh luận của mình, hoặc như thể anh ta chẳng là gì ngoài một linh hồn lầm lỗi, một cái bóng chịu đựng không tên. “Na!” Stein đứng dậy nói. “Đêm nay anh ngủ lại đây, và vào buổi sáng chúng ta sẽ làm điều gì đó thiết thực—thiết thực. . . .” Ông châm một ngọn nến hai nhánh rồi đi trước dẫn đường. Chúng tôi bước qua những căn phòng tối trống vắng, được hộ tống bởi những tia sáng từ ngọn nến Stein đang cầm. Chúng lướt dọc theo những sàn nhà đánh sáp, quét qua quét lại trên bề mặt đánh bóng của chiếc bàn, chồm lên đường cong gãy khúc của một món đồ nội thất, hoặc lóe lên theo chiều thẳng đứng ra vào những chiếc gương xa xăm, trong khi bóng dáng của hai con người và ngọn lửa bập bùng của hai cây nến có thể được nhìn thấy trong chốc lát đang len lỏi lặng lẽ băng qua chiều sâu của một khoảng không trong suốt như pha lê. Ông bước đi chậm rãi, đi trước một bước với vẻ cúi chào lịch thiệp; trên khuôn mặt ông hiển hiện một vẻ tĩnh mịch sâu sắc, tựa như đang lắng nghe; những lọn tóc vàng dài pha lẫn những sợi bạc thưa thớt rải trên tấm cổ hơi chùng xuống của ông.
‘“Cậu ta lãng mạn lắm—lãng mạn lắm,” ông lặp lại. “Và điều đó rất tồi tệ—rất tồi tệ. . . . Nhưng cũng rất tuyệt,” ông nói thêm. “Nhưng có thực là vậy không?” tôi gặng hỏi.
‘“Gewiss,” ông nói, và đứng im cầm cây chân nến, nhưng không nhìn tôi. “Hiển nhiên! Thứ gì khiến cậu ta qua nỗi đau nội tâm mà nhận thức được chính mình? Thứ gì khiến cậu ta—tồn tại đối với anh và tôi?”
‘Vào khoảnh khắc ấy, thật khó lòng tin nổi sự tồn tại của Jim—bắt đầu từ một xứ đạo đồng quê, bị làm mờ nhòe bởi đám đông con người như bởi những đám mây bụi, bị làm cho câm lặng bởi những đòi hỏi xung đột giữa sự sống và cái chết trong một thế giới vật chất—nhưng thực tại bất diệt của cậu ta đã đến với tôi bằng một sức mạnh thuyết phục, một sức mạnh không thể cưỡng lại! Tôi nhìn thấy nó một cách sống động, như thể trong cuộc hành trình qua những căn phòng cao lớn tĩnh mịch giữa những tia sáng thoáng qua và những sự bộc lộ bất ngờ của các hình bóng con người đang len lỏi với những ngọn lửa bập bùng trong những tầng sâu thẳm và trong trẻo, chúng ta đã đến gần hơn với Chân lý tuyệt đối, thứ mà tựa như bản thân Cái Đẹp, cứ trôi nổi ẩn hiện, mơ hồ, nửa chìm nửa nổi, trong làn nước tĩnh lặng trầm mặc của điều huyền bí. “Có lẽ là vậy,” tôi thừa nhận với một tiếng cười nhẹ, thứ âm thanh vang dội bất ngờ lớn đến mức khiến tôi phải hạ thấp giọng ngay lập tức; “nhưng tôi chắc chắn rằng ông thì đúng là như thế.” Với cái đầu gục xuống ngực và ngọn nến giơ cao, ông lại bắt đầu bước đi. “Thường thì—tôi cũng tồn tại mà,” ông nói.
‘Ông đi trước dẫn đường. Mắt tôi dõi theo từng chuyển động của ông, nhưng thứ tôi nhìn thấy không phải là vị giám đốc điều hành, vị khách quý trong các buổi tiếp tân buổi chiều, người thư tín của các hội khoa học, kẻ thết đãi những nhà tự nhiên học lang thang; tôi chỉ nhìn thấy thực tại về định mệnh của ông, thứ mà ông đã biết cách bước theo với những bước chân không hề dao động, cuộc đời bắt đầu trong chốn tầm thường, phong phú những niềm nhiệt thành cao đẹp, trong tình bạn, tình yêu, chiến tranh—trong tất cả những yếu tố thăng hoa của sự lãng mạn. Trước cửa phòng tôi, ông quay mặt lại phía tôi. “Vâng,” tôi nói, như thể đang tiếp tục một cuộc tranh luận, “và trong số những thứ khác, ông từng dại dột mơ về một loài bướm nào đó; nhưng khi một buổi sáng đẹp trời giấc mơ ấy xuất hiện trên con đường của ông, ông đã không để lỡ mất cơ hội huy hoàng đó. Phải không nào? Trong khi anh ta thì…” Stein giơ tay lên. “Và anh có biết tôi đã để lỡ bao nhiêu cơ hội; bao nhiêu giấc mơ từng đến trên đường mà tôi đã đánh mất không?” Ông tiếc nuối lắc đầu. “Tôi có cảm giác một số trong đó hẳn đã rất tuyệt—nếu như tôi biến chúng thành sự thật. Anh có biết bao nhiêu cái không? Có lẽ chính tôi cũng chẳng biết.” “Dù giấc mơ của anh ta có tuyệt hay không,” tôi nói, “anh ta biết rõ về một thứ mà anh ta chắc chắn đã không bắt được.” “Ai mà chẳng biết một hoặc hai thứ như thế,” Stein nói; “và đó chính là rắc rối—rắc rối lớn đấy. . . .”
‘Ông bắt tay tôi ở ngưỡng cửa, ngó vào phòng tôi dưới cánh tay đang giơ lên. “Ngủ ngon nhé. Và ngày mai chúng ta phải làm điều gì đó thiết thực—thiết thực. . . .”
‘Dù phòng của ông nằm quá phòng tôi, tôi vẫn thấy ông quay lại theo lối cũ. Ông đang quay lại với những con bướm của mình.’