Curdie vẫn cảnh giác như mọi khi, nhưng gần như đã cảm thấy mệt mỏi vì sự vô ích trong các nỗ lực của mình. Cứ cách khoảng một đêm, cậu lại theo đuôi đám yêu tinh khi chúng đi đào bới và đục khoét, cố gắng bám theo sát nhất có thể và quan sát chúng từ đằng sau những tảng đá; thế nhưng, dường như cậu vẫn chẳng tiến gần hơn chút nào tới việc tìm hiểu xem chúng đang mưu tính điều gì. Giống như lúc đầu, cậu luôn giữ chặt lấy một đầu sợi dây, trong khi chiếc cuốc chim để ngay bên ngoài cái lỗ mà cậu dùng để đột nhập vào vương quốc của lũ yêu tinh từ mỏ đá vẫn tiếp tục đóng vai trò như một cái neo giữ chặt lấy đầu dây bên kia. Lũ yêu tinh, không còn nghe thấy tiếng động nào phát ra từ hướng đó nữa, đã thôi lo sợ về một cuộc tấn công cận kề và không còn cắt cử người canh gác.
Một đêm nọ, sau khi luồn lách và lắng nghe đến mức suýt thiếp đi vì mệt mỏi, cậu bắt đầu cuộn tròn sợi dây lại với ý định về nhà ngủ. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc cậu đã bắt đầu cảm thấy hoang mang. Hết ngôi nhà yêu tinh này đến ngôi nhà khác—chính xác hơn là những hang động do các gia đình yêu tinh sinh sống—lần lượt lướt qua trước mắt, và cuối cùng cậu chắc chắn rằng số lượng chúng còn nhiều hơn rất nhiều so với những gì cậu đã đi qua lúc đến. Cậu phải hết sức cẩn trọng để đi qua mà không bị phát hiện, bởi chúng nằm sát rạt bên nhau. Liệu sợi dây có dẫn đường sai cho cậu không? Cậu vẫn vừa lần theo sợi dây vừa cuộn nó lại, và nó vẫn cứ dẫn cậu dấn sâu hơn vào những khu vực dân cư đông đúc hơn, cho đến khi cậu trở nên vô cùng bất an, thậm chí lo lắng thực sự; bởi dù không sợ lũ yêu tinh lùn, cậu lại sợ việc mình không tìm được lối ra. Nhưng cậu biết làm thế nào đây? Ngồi xuống và chờ trời sáng chẳng ích gì—nơi đây làm gì có sự khác biệt giữa ngày và đêm. Trời tối, và lúc nào cũng tối thui; và nếu sợi dây phản chủ, cậu sẽ hoàn toàn bất lực. Cậu thậm chí có thể đi đến cách miệng mỏ chỉ một thước mà chẳng hề hay biết. Thấy rằng chẳng còn cách nào tốt hơn, cậu đành phải tìm cho bằng được đầu mút của sợi dây, và nếu có thể, tìm hiểu xem vì sao nó lại chơi khăm mình một vố đau thế. Dựa vào kích thước của cuộn dây, cậu biết mình sắp sửa đi đến đoạn cuối của nó thì bỗng cảm thấy có lực giật và kéo mạnh ở đầu dây. Chuyện gì thế này nhỉ? Vừa rẽ ngoặt qua một khúc cua, cậu chợt nghe thấy những âm thanh kỳ lạ. Tiếng động ấy lớn dần lên theo từng bước chân của cậu, biến thành những tiếng vật lộn, gầm gừ và rít lên khe khẽ; và tiếng ồn cứ thế tăng dần, cho đến khi, sau khúc cua gắt thứ hai, cậu thấy mình rơi tõm vào giữa một đám hỗn độn, và ngay khoảnh khắc đó vấp phải một khối thịt nhầy nhụa đang giãy giụa mà cậu thừa biết chính là một bầy sinh vật của đám yêu tinh. Chưa kịp chồm dậy, mặt cậu đã lãnh trọn mấy vết cào cấu rách tơi tả cùng vài cú cắn đau điếng ở chân và tay. Nhưng khi cậu quơ quạng định đứng lên, tay cậu chạm phải chiếc cuốc chim, và trước kịp để lũ quái vật ấy kịp gây ra tổn hại nghiêm trọng nào, cậu đã vung cuốc bổ thẳng tay sang trái sang phải trong bóng tối. Những tiếng kêu réo hãi hùng vang lên sau đó mang lại cho cậu sự thỏa mãn khi biết rằng mình đã trừng phạt đám yêu tinh khá thích đáng vì sự hỗn láo của chúng, và qua những tiếng rên rỉ thối lui cùng tiếng chúng tháo chạy thục mạng, cậu nhận ra mình đã đánh tan tác chúng. Cậu đứng lặng một lát, cân nhắc chiếc búa chiến trong tay như thể nó là khối kim loại quý giá nhất trên đời—nhưng quả thực vào thời điểm đó, chẳng có khối vàng nào có thể trân quý bằng cái công cụ tầm thường ấy—rồi cậu tháo đầu sợi dây ra khỏi chiếc cuốc, nhét cuộn dây vào túi, và vẫn đứng tần ngần suy nghĩ. Rõ ràng là lũ quái vật của đám yêu tinh đã tìm thấy chiếc cuốc của cậu, hùa nhau khiêng nó đi, và nhờ thế mà dẫn dụ cậu đi đến cái xó xỉnh nào chẳng rõ. Thế nhưng dẫu có vắt óc suy nghĩ đến đâu, cậu cũng chẳng biết mình nên làm gì tiếp theo, cho đến khi bất chợt cậu nhận ra có một vệt ánh sáng leo lét ở đằng xa. Không mảy may do dự, cậu lao thẳng về phía ánh sáng ấy, nhanh nhất có thể trên con đường gập ghềnh xa lạ. Rẽ thêm một khúc cua nữa, bị dẫn đường bởi ánh sáng mờ ảo, cậu kinh ngạc phát hiện ra một thứ hoàn toàn mới mẻ trong trải nghiệm về các vùng đất dưới lòng đất—một vật nhỏ bé có hình thù kỳ dị đang lấp lánh thứ ánh sáng phản chiếu. Tiến lại gần, cậu nhận ra đó là một mảnh mica, hay còn gọi là kính Muscovy, ở Scotland thường được gọi là bạc cừu, và ánh sáng đang nhấp nháy tựa như có ngọn lửa cháy bập bùng ở phía sau nó. Sau một hồi vô vọng tìm kiếm lối vào nơi ngọn lửa đang cháy, cuối cùng cậu cũng tìm thấy một căn phòng nhỏ với một cái lỗ nằm ở trên cao trên vách tường, hé lộ thứ ánh sáng rực rỡ bên ngoài. Cậu tìm cách trèo lên được cái lỗ đó, và rồi đập vào mắt cậu là một cảnh tượng kỳ lạ.
Ngay phía dưới là một nhóm nhỏ yêu tinh đang quây quần bên đống lửa, làn khói tỏa ra từ đó tan biến vào bóng tối mịt mùng ở tận tít trên cao. Vách hang lấp lánh những khoáng chất sáng rực giống như mấy thứ trong sảnh điện; và đám người này rõ ràng thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu, bởi ai nấy đều đeo những viên đá lấp lánh các sắc màu rực rỡ trầm mặc trên đầu, trên tay, hoặc quanh eo dưới ánh lửa. Curdie cũng chẳng mất nhiều thời gian để nhận ra chính nhà vua, và hiểu rằng mình đã đột nhập thành công vào gian phòng bên trong của hoàng gia. Cậu chưa bao giờ có cơ hội nào tốt nhường này để nghe ngóng tin tức. Cậu nhẹ nhàng hết mức có thể lách người qua cái lỗ, trèo xuống một đoạn dài dọc theo vách tường hướng về phía chúng mà không thu hút bất kỳ sự chú ý nào, rồi ngồi bệt xuống và lắng nghe. Nhà vua, rõ ràng là hoàng hậu, và có lẽ cả hoàng thái tử cùng tể tướng đang trò chuyện với nhau. Cậu chắc chắn đó là hoàng hậu nhờ vào đôi giày của bà, bởi khi bà sưởi ấm đôi chân bên đống lửa, cậu nhìn thấy chúng một cách rõ mồn một.
– Thế thì vui phải biết! – kẻ mà cậu đoán là hoàng thái tử lên tiếng. Đó là câu hoàn chỉnh đầu tiên cậu nghe được.
– Ta chẳng thấy có gì mà phải coi đó là một chuyện to tát cả! – hoàng hậu đáp, ngoắt đầu ra phía sau.
– Trẫm khanh phải nhớ rằng, ái thê của ta, – nhà vua chêm vào, ra điều biện hộ cho con trai mình, – nó mang trong mình dòng máu ấy. Mẫu thân nó...
– Đừng có nhắc đến con mụ mẫu thân nó trước mặt ta! Chính bệ hạ là kẻ dung túng cho những sở thích quái đản của nó đấy. Bất cứ thứ gì thuộc về người mẹ đó đều phải được cắt bỏ khỏi con người nó.
– Khanh quên mất mình đang nói gì rồi đấy, mình ạ! – nhà vua nhắc nhở.
– Thiếp không quên, – hoàng hậu đáp, – mà bệ hạ cũng chẳng quên. Nếu bệ hạ mong thiếp phải tán thành những sở thích thô tục ấy, thì bệ hạ đã lầm to rồi. Thiếp mang giày đâu phải để làm cảnh.
– Tuy nhiên, khanh cũng phải thừa nhận rằng, – nhà vua thở dài khe khéo, – chuyện này ít ra không phải là một cơn hứng ẩm ương của Harelip, mà là một vấn đề trọng đại của triều đình. Khanh thừa biết rằng sự thỏa mãn của nó hoàn toàn bắt nguồn từ niềm vui khi được hy sinh vì lợi ích chung.
Đúng thế phải không, Harelip?
– Vâng, thưa phụ vương; đương nhiên là thế rồi. Chỉ là sẽ rất thú vị khi làm cho ả ta phải khóc thét lên. Con sẽ lóc sạch lớp da giữa các ngón chân ả, rồi buộc chặt chúng lại cho đến khi chúng dính liền vào nhau. Khi ấy bàn chân của ả sẽ giống như bao người bình thường khác, và sẽ chẳng còn lý do gì để ả phải mang giày nữa.
– Ý ngươi muốn ám chỉ là ta có ngón chân chắc, cái đồ quái thai vô ơn này? – hoàng hậu thét lên giận dữ; rồi bà đùng đùng tiến về phía Harelip. Tuy nhiên, vị tể tướng đứng giữa hai người đã nhoài người về trước để ngăn không cho bà chạm vào hoàng tử, nhưng lại ra vẻ như chỉ để hướng lời tới ngọn ngành.
– Tâu Điện hạ, – ông ta nói, – có lẽ ngài cần được nhắc nhở rằng chính ngài cũng có ba ngón chân—một ở bàn chân này, hai ở bàn chân kia.
– Ha! ha! ha! – hoàng hậu cất tiếng cười đắc thắng.
Được thể khích lệ bởi sự sủng ái này, vị tể tướng tiếp tục nói.
– Thần thiết nghĩ, thưa Điện hạ, điều đó sẽ khiến ngài trở nên vô cùng gần gũi với thần dân tương lai của mình, chứng minh cho họ thấy rằng ngài cũng chẳng khác gì họ dù có bất hạnh sinh ra từ một người mẹ-mặt-trời, nếu ngài hạ lệnh tự thực hiện lên bản thân một cuộc phẫu thuật tương đối nhỏ mà, dưới một hình thức lớn lao hơn, ngài đang vô cùng sáng suốt dự tính áp dụng cho vị công nương tương lai của mình.
– Ha! ha! ha! – hoàng hậu cười lớn hơn cả lúc nãy, và nhà vua lẫn vị tể tướng cũng hùa theo tiếng cười ấy. Harelip gầm gừ tức tối, và trong chốc lát những kẻ còn lại tiếp tục tận hưởng niềm vui trước sự bẽ bàng của hắn.
Hoàng hậu là người duy nhất mà Curdie có thể nhìn rõ tường tận. Bà ngồi nghiêng người về phía cậu, và ánh lửa chiếu rọi thẳng vào khuôn mặt bà. Cậu không thể nào coi bà là người đẹp được. Mũi của bà phần chóp quả nhiên bè ra rộng hơn cả chiều dài của nó, và đôi mắt của bà, thay vì nằm ngang, lại dựng ngược lên trông giống như hai quả trứng đặt thẳng đứng, quả nọ chồng lên đầu quả kia. Miệng bà chẳng lớn hơn cái khuyết áo là bao cho đến khi bà cười, lúc ấy nó kéo dài ngoác ra tận mang tai—chỉ có điều, tai của bà lại nằm gần như ở giữa hai bên má.
Sót ruột muốn nghe cho hết mọi điều chúng nói, Curdie liều mình trượt xuống một đoạn đá trơn trượt ngay dưới chân, hướng về một mỏm đá nhô ra phía dưới mà cậu đinh ninh sẽ đứng vững được. Nhưng ngặt nỗi hoặc vì cậu không đủ cẩn thận, hoặc do mỏm đá ấy bị sập xuống, cậu rơi ào xuống sàn hang với một tiếng động rền vang kéo theo cả một trận mưa đá cuội lở tung tóe.
Lũ yêu tinh giật mình đứng phắt dậy với nỗi phẫn nộ nhiều hơn là sự hoảng sợ, bởi trước nay chúng chưa từng thấy có thứ gì trong cung điện khiến chúng phải sợ hãi. Thế nhưng khi trông thấy Curdie tay lăm lăm chiếc cuốc, sự tức giận của chúng liền hòa lẫn với nỗi sợ hãi, vì chúng đinh ninh cậu là kẻ tiên phong trong một cuộc xâm lược của thợ mỏ. Dù vậy, nhà vua vẫn ngẩng cao đầu hết cỡ với chiều cao bốn thước, ưỡn ngực rộng hết cỡ với bề ngang ba thước rưỡi—bởi ngài là kẻ khôi ngô và vuông vức nhất trong số tất cả lũ yêu tinh—rồi nghênh ngang tiến đến trước mặt Curdie, dang rộng hai chân đứng chắn và uy nghi cất giọng hỏi:
– Ngươi có quyền gì mà dám bén mảng đến cung điện của ta?
– Quyền của sự ngặt nghèo, tâu Bệ hạ, – Curdie đáp. – Thần bị lạc đường và chẳng hay mình đang lang thang về đâu nữa.
– Ngươi vào bằng cách nào?
– Bằng một cái lỗ trên vách núi.
– Nhưng ngươi là một gã thợ mỏ! Nhìn cái cuốc chim của ngươi kìa!
Curdie liền nhìn xuống chiếc cuốc và đáp:
– Thần bắt gặp nó nằm trên mặt đất cách đây không xa. Thần đã vấp phải mấy con dã thú đang đùa nghịch với nó. Xin Bệ hạ xem đây. – Và Curdie giơ cho nhà vua thấy những vết cào cấu và chi chít dấu răng trên người mình.
Nhà vua vô cùng hài lòng khi thấy cậu cư xử lịch sự hơn nhiều so với những gì đám bề tôi đã kể cho ngài nghe về lũ thợ mỏ, bởi ngài cứ ngỡ đó là nhờ uy quyền ngút trời của chính mình; dẫu vậy, điều đó không có nghĩa là ngài cảm thấy thân thiện hơn với kẻ đột nhập.
– Ngươi hãy làm ơn xéo khỏi lãnh địa của ta ngay lập tức, – ngài nói, dù thừa biết những lời ấy mang sự mỉa mai đến nhường nào.
– Thần rất sẵn lòng, nếu Bệ hạ ban cho thần một người dẫn đường, – Curdie đáp.
– Ta sẽ ban cho ngươi cả ngàn người, – nhà vua thốt lên với cái giọng nhạo báng mang vẻ hào phóng vĩ đại.
– Một người là quá đủ rồi, – Curdie nói.
Nhưng nhà vua bỗng cất lên một tiếng thét kỳ lạ, nửa như tiếng reo hò, nửa như tiếng gầm rú, và thế là lũ yêu tinh từ tứ phía ùn ùn kéo vào chật ních cả hang động. Ngài thì thầm gì đó với tên đứng đầu và nó lại truyền tai nhau cho đến khi chỉ trong chớp mắt, kẻ đứng ở góc xa nhất trong đám đông rõ ràng đã nghe và hiểu rõ lệnh. Chúng bắt đầu vây quanh cậu theo cách mà cậu chẳng lấy gì làm thích thú, và cậu lùi dần về phía vách tường. Chúng lấn tới sát rạt.
– Lùi lại! – Curdie quát lên, tay siết chặt chiếc cuốc chim ngang gối.
Chúng chỉ nhe răng cười nhăn nhở rồi dồn ép càng lúc càng gần hơn. Curdie sực nhớ ra điều gì và bắt đầu cất giọng đọc vè.
– Mười, hai mươi, ba mươi,
Đứa nào đứa nấy nhơ nhớp lười!
Hai mươi, ba mươi, bốn mươi,
Mặt mũi béo múp hậm hực hôi!
Ba mươi, bốn mươi, năm mươi,
Hơi thở phì phò ngẩng cao mũi!
Bốn mươi, năm mươi, sáu mươi,
Quỷ sứ với người lẫn lộn trôi!
Năm mươi, sáu mươi, bảy mươi,
Lùm xùm lếu thếch nhộm nhoạm đời!
Sáu mươi, bảy mươi, tám mươi,
Má hồng xám xịt tựa đá thui!
Bảy mươi, tám mươi, chín mươi,
Bàn tay cứng ngắc sắc lạnh bùi!
Tám mươi, chín mươi, một trăm,
Lũ lượt kéo đến tối tăm đầm!
Lũ yêu tinh lùi lại một chút khi cậu bắt đầu cất giọng, và làm những điệu bộ nhăn nhó gớm ghiếc suốt bài vè, hệt như đang nhai phải thứ gì đó đắng ngắt khiến chúng ghê răng và nổi da gà; nhưng chẳng biết là do phần lớn các từ trong bài vè chẳng có nghĩa gì sất, bởi vì một bài vè ứng khẩu sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nên Curdie đã tự bịa ra ngay tại chỗ, hay là vì sự hiện diện của nhà vua và hoàng hậu đã tiếp thêm cho chúng can đảm, thì tôi cũng không rõ; chỉ biết là ngay khi bài vè vừa dứt, chúng lại ào lên vây kín lấy cậu, và hàng trăm cánh tay dài ngoằng phóng ra, với tua tủa những ngón tay dày cộp không móng ở đầu mút, chồm tới định tóm lấy cậu. Đoạn, Curdie giơ cao chiếc cuốc. Nhưng vì vốn dĩ là một kẻ vừa dũng cảm vừa nhân hậu, không muốn tước đoạt mạng sống của bất kỳ tên nào trong số chúng, cậu bèn quay đầu có phần gùn và cùn như cái búa xuống dưới, và giáng một cú trời giáng vào đầu tên yêu tinh đứng gần cậu nhất. Dù đầu của lũ yêu tinh có cứng đến đâu đi chăng nữa, cậu nghĩ thế nào nó cũng phải thấm thía cú này. Và quả nhiên là thế; nhưng tên đó chỉ ré lên một tiếng kinh hoàng rồi lao thẳng vào cổ họng Curdie. May thay, Curdie đã kịp né người ra sau đúng vào khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, và chợt nhớ ra điểm yếu chí mạng trên cơ thể lũ yêu tinh. Cậu lao bổ tới chỗ nhà vua và giẫm mạnh hết cỡ lên đôi chân của bệ hạ. Nhà vua ré lên một tiếng hú chẳng giống vua chúa chút nào và suýt ngã ngửa vào đống lửa. Curdie liền xông thẳng vào giữa đám đông, tung cước giẫm đạp trái phải. Lũ yêu tinh hốt hoảng lùi dạt ra, tru lên oai oái từ mọi hướng khi cậu tiến đến, nhưng vì quá đông đúc nên rất ít kẻ bị cậu nhắm đến có thể né tránh được những bước chân của cậu; và tiếng thét gào vang dội cả hang động suýt chút nữa đã khiến Curdie khiếp vía nếu như nó không đem lại cho cậu một tia hy vọng tràn trề. Chúng đang xô đẩy, dẫm đạp lên nhau thành từng đống vì quá nôn nóng muốn tháo chạy khỏi hang, thì bất thình lình một đối thủ mới xuất hiện chắn ngang đường cậu—hoàng hậu với đôi mắt đỏ ngầu rực lửa và hai bên cánh mũi phập phồng, mái tóc dựng ngược cả lên nửa đầu, lao thẳng về phía cậu. Bà ta đặt trọn niềm tin vào đôi giày của mình: chúng làm bằng đá hoa cương—được khoét rỗng hệt như những đôi ủng gỗ của Pháp. Curdie thà chịu đựng trăm cay ngàn đắng chứ không muốn làm tổn thương một người phụ nữ, dẫu cho ả ta có là yêu tinh đi chăng nữa; nhưng ngặt nỗi đây lại là tình thế ngàn cân treo sợi tóc: quên bén đi đôi giày của bà ta, cậu giáng một cú giẫm thật mạnh lên một bên chân hoàng hậu. Thế nhưng bà ta lập tức trả đũa bằng một đòn chí mạng với hiệu quả hoàn toàn khác, gây cho cậu những cơn đau đớn tột cùng và suýt nữa làm cậu mất hết sức kháng cự. Cơ hội duy nhất của cậu lúc này là dùng cuốc chim tấn công đôi giày đá hoa cương của hoàng hậu, nhưng trước khi cậu kịp nghĩ đến điều đó, bà ta đã chộp lấy cậu nhấc bổng lên tay và lao đi như bay across căn hang. Bà ta ném phắt cậu vào một cái hốc trên vách tường với một lực mạnh đến mức suýt làm cậu ngất lịm. Nhưng dẫu không thể nhúc nhích, cậu vẫn chưa đến nỗi bất tỉnh nhân sự để không nghe thấy tiếng thét gào kinh thiên động địa của mụ, tiếng hàng loạt bước chân mềm mại chạy ào ào, nối tiếp theo sau là âm thanh của thứ gì đó đang được chất đống đè nặng lên vách đá; để rồi ngay sau đó là vô số tiếng đá lục bục rơi lả tả xuống ngay gần chỗ cậu. Âm thanh cuối cùng vừa dứt thì cậu cũng lả đi vì kiệt sức, bởi phần đầu đã bị thương tích khá nặng, và cuối cùng thì cậu bất tỉnh nhân sự.
Khi tỉnh lại, xung quanh cậu là một sự tĩnh mịch tuyệt đối cùng màn đêm đen đặc quánh, ngoại trừ một tia sáng leo lét nhỏ như hạt cải ở một góc tí xíu. Cậu lê lết bò tới đó, và phát hiện ra rằng chúng đã bẫy một phiến đá lớn bịt kín miệng hang, lách qua khe hở ở mép phiến đá là một vệt sáng yếu ớt le lói hắt ra từ đống lửa. Cậu không thể nhúc nhích nó dù chỉ một mảy may, bởi chúng đã chất cả một đống đá to tướng chèn chặt bên ngoài. Cậu lê thân lết lườn bò ngược về chỗ nằm ban nãy, với hy vọng mong manh là tìm lại được chiếc cuốc chim. Thế nhưng sau một hồi tìm kiếm trong vô vọng, cuối cùng cậu buộc phải thừa nhận rằng mình đang lâm vào cảnh khốn cùng. Cậu ngồi bệt xuống và cố suy nghĩ, nhưng chẳng mấy chốc đã chìm sâu vào giấc ngủ.