8
Ngày hôm sau, khi đang lái xe trên xa lộ, Servaz nghĩ về hai gã bảo vệ. Cathy d’Humières cho biết họ không đến chỗ làm vào đêm hôm qua. Sau khi đợi chừng một tiếng, giám đốc nhà máy đã buộc phải gọi điện.
Anh ta gọi vào di động của họ. Hết cuộc này đến cuộc khác. Không ai trả lời. Vì thế Morane đã cấp báo với lực lượng sen đầm, họ liền cử vài người đến nơi ở của hai bảo vệ. Một người sống cách Saint-Martin 20 kilomet, người còn lại hơn 40 kilomet. Họ đều sống một mình và không được phép ở cùng một tỉnh với những đồng bọn trước đó, vì những người này đã bị họ dọa giết không chỉ một lần, một người trong số đó thậm chí còn phải nhập viện. Servaz biết rất rõ rằng, trên thực tế, cảnh sát không quá câu nệ trong việc thực thi những yêu cầu kiểu này. Lý do hiển nhiên là nó kéo theo quá nhiều thủ tục, có quá nhiều tội phạm, quá nhiều người đang trong thời gian quản chế, quá nhiều phán quyết để có thể thực hiện hết. Một trăm nghìn người lãnh án tù thực ra vẫn đang tự do và đợi đến lượt mình chấp hành án. Đó là trong trường hợp họ không cao chạy xa bay ngay thời điểm bước ra khỏi phiên tòa với hy vọng sẽ bị lãng quên trong thời hạn truy cứu trách nhiệm. Họ ý thức quá rõ ràng rất ít khả năng chính phủ Pháp sẽ dành tiền bạc và nhân lực để truy tìm mình.
Sau khi thông báo với anh về hai gã bảo vệ, bà trưởng công tố cũng cho biết Éric Lombard đang trên đường từ Mỹ trở về và anh ta muốn nói chuyện với điều tra viên ngay lập tức. Servaz suýt chút nữa thì nổi nóng. Anh đang phải xử lý một vụ án mạng, và ngay cả khi anh muốn tìm ra thủ phạm giết con ngựa, ngay cả khi anh có cảm giác đáng sợ rằng đây chỉ là màn dạo đầu cho một cái gì đó còn tồi tệ hơn, thì anh cũng không phải quân cờ để Éric Lombard tùy ý sai khiến.
“Tôi không biết mình có thể đến hay không,” anh xẵng giọng. “Vẫn còn nhiều việc ở đây liên quan đến cái chết của lão già vô gia cư.”
“Sẽ tốt hơn nếu đi gặp,” d’Humières vẫn khăng khăng. “Có vẻ Lombard đã gọi cho bộ trưởng Bộ Tư pháp, ông này gọi cho chánh án tòa án tỉnh, và chánh án lại gọi cho tôi. Giờ thì tôi gọi cho cậu. Một phản ứng dây chuyền bình thường. Dù sao thì chỉ một lát nữa thôi Canter sẽ nói với cậu điều tương tự, tôi dám chắc Lombard cũng có ảnh hưởng ở Bộ Nội vụ. Vả lại, tôi tưởng cậu đã nắm được thủ phạm vụ lão già vô gia cư rồi.”
“Lời khai chúng tôi có được không đủ thuyết phục,” Servaz miễn cưỡng thừa nhận, vì giờ anh không muốn đi sâu vào vấn đề này. “Và chúng tôi đang đợi kết quả giám định. Có một số manh mối ở hiện trường, dấu vân tay, dấu chân, máu…”
“Cậu không hổ danh là một người cung Ma kết nhỉ? Servaz, đừng nói với tôi cái câu cảnh sát phải làm việc quá tải, tôi không nghe đâu. Tôi không định nài nỉ cậu. Nhưng hãy giúp tôi việc này. Khi nào cậu có thể xuống đó? Éric Lombard sẽ đợi cậu ở lâu đài của mình tại Saint-Martin bất cứ lúc nào sau ngày mai. Anh ta sẽ ở đó qua cuối tuần. Cậu hãy sắp xếp thời gian nhé.”
“Được rồi. Nhưng tôi sẽ quay về đây ngay khi nói chuyện xong để giải quyết nốt vụ lão già vô gia cư.”
Trên đường cao tốc, anh đỗ lại một trạm xăng để tiếp nhiên liệu. Mặt trời đang tỏa nắng, và những đám mây đã trốn đi đâu mất. Anh tranh thủ gọi cho Ziegler. Cô có một cuộc hẹn lúc 9 giờ tại trại ngựa ở Tarbes về việc giải phẫu con ngựa. Cô đề nghị anh tham gia cùng. Servaz đã đồng ý nhưng nói rằng anh muốn đợi bên ngoài.
“Tùy anh,” cô nói, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên.
Anh biết giải thích thế nào với cô rằng anh rất sợ ngựa đây? Rằng đi xuyên qua một trang trại đầy những con quái thú ấy là một thử thách mà anh không thể chịu đựng nổi? Cô nói cho anh tên một quán rượu nhỏ gần đó, trên đại lộ Régiment-de-Bigorre. Cô sẽ gặp anh ở quán ngay sau khi xong việc. Khi anh đến Tarbes, ánh mặt trời tươi mới như nắng xuân đang chiếu sáng thị trấn. Ở rìa vườn quốc gia Pyrenees, dưới bầu trời xanh ngát, những tòa nhà cao vút lên giữa miền cây xanh như dựa lưng vào rặng núi trắng tinh không tì vết phía sau. Không một gợn mây. Bầu trời trong vắt, những đỉnh núi lấp lánh dường như nhẹ bẫng và hư ảo đến nỗi có thể bay lên như những quả bong bóng khí. Hệt như một chướng ngại tinh thần, Servaz nghĩ thầm khi ngâm nhìn khung cảnh ấy. Tâm trí con người va chạm với những chóp núi này như thể đập vào bức vách. Chúng để lại ấn tượng về một lãnh thổ hoàn toàn xa lạ với con người, một miền đất hoang, một nơi cùng trời cuối đất, theo nghĩa đen.
Anh đi vào quán Ziegler đã nói, ngồi xuống bàn gần cửa sổ rồi gọi một cốc cà phê sữa và một chiếc bánh sừng bò. Trong góc, gần quầy bar là chiếc tivi đang bật kênh tin tức, liên tục chiếu những phóng sự trực tiếp. Âm lượng tối đa và Servaz không thể nghĩ ngợi gì được. Anh đang định hỏi xem họ có thể vặn nhỏ tiếng đi không thì nghe thấy một phóng viên nhắc đến cái tên Éric Lombard. Anh ta đang đứng bên rìa một trường bay với chiếc micrô nằm trong tay. Đằng sau là những ngọn núi trắng y hệt ngoài kia. Anh chăm chú quan sát. Khi khuôn mặt của Éric Lombard choán kín màn hình, Servaz đứng dậy và lại gần quầy bar.
Nhà tỉ phú được phỏng vấn khi đang bước xuống từ chiếc máy bay riêng tại sân bay Tarbes. Sau lưng anh ta là một chiếc phi cơ màu trắng với dòng chữ LOMBARD xanh nước biển in trên phần thân. Lombard mang vẻ mặt trầm buồn của một người vừa mất đi người thân yêu. Phóng viên đang hỏi anh ta, “Có phải con ngựa này đặc biệt quan trọng với anh không?”
“Nó không chỉ là một con ngựa,” vị doanh nhân trả lời, giọng anh ta là sự pha trộn cẩn trọng giữa xúc cảm và sự cứng rắn. “Nó là một người đồng hành, một người bạn, một cộng sự. Những người thực sự yêu ngựa đều hiểu rằng chúng không đơn thuần là những con vật. Và Tự Do là một con ngựa kiệt xuất. Chúng tôi đặt hy vọng rất lớn vào nó. Nhưng trên hết, điều khiến tôi không thể chịu đựng nổi là cách nó bị giết. Tôi sẽ làm tới cùng để tìm ra kẻ phạm tội.”
Servaz quan sát thấy ánh mắt Éric Lombard nhìn thẳng vào máy quay phim và qua đó, nhìn thẳng vào khán giả truyền hình, một ánh mắt chuyển từ đau đớn sang phẫn nộ, thách thức và hăm dọa.
“Dù là kẻ nào đã làm việc này, tôi muốn chúng biết rằng, chúng sẽ không thoát tội được đâu, tôi là một người khao khát công lý.”
Servaz liếc nhìn xung quanh. Mọi người đều đang chăm chú vào màn hình tivi. Không tồi, anh nghĩ, diễn hay đấy. Rõ ràng đã có sự chuẩn bị từ trước, nhưng dù sao vẫn toát ra sự thành thật. Servaz tự hỏi một người đàn ông như Éric Lombard có thể ra tay đến mức nào để thực hiện lời đe dọa của mình. Anh dành ra hai giờ tiếp theo cố gắng kiểm lại những thông tin họ đã biết và chưa biết. Tất nhiên ở thời điểm này, ngu muội còn tốt hơn hiểu biết. Khi cuối cùng cũng thấy Irène Ziegler trên vỉa hè bên ngoài cửa sổ, anh đột nhiên câm lặng. Cô mặc bộ đồ đua xe bằng da màu đen với những tấm bảo vệ kim loại màu xám cứng cáp trên vai và đầu gối, cùng đôi bốt được bịt sắt ở mũi chân và gót, cầm chiếc mũ bảo hiểm trong tay. Một nữ tướng… Một lần nữa anh lại choáng váng trước vẻ đẹp của cô. Anh nhận thấy cô gần như chẳng thua kém gì Charlène Espérandieu, nhưng đẹp theo kiểu khác, khỏe khoắn hơn, bớt đi chút tinh tế. Charlène giống một biểu tượng thời trang, còn Irène Ziegler giống một nhà vô địch môn lướt sóng. Anh lại bồn chồn. Anh nhớ lại cảm giác khi thấy chiếc khuyên trên mũi cô. Không thể phủ nhận rằng Irène Ziegler là một phụ nữ lôi cuốn.
Servaz nhìn đồng hồ đeo tay. Đã 11 giờ.
“Thế nào?” Anh nói.
Cô giải thích rằng họ vẫn chưa tìm được gì nhiều từ việc giải phẫu phần thân, còn cái đầu thì đã được khám nghiệm trước đó rồi. Marchand cũng đến. Giám định viên cho rằng con ngựa đã bị đánh thuốc mê, kết quả phân tích độc chất sẽ xác nhận điều này. Khi họ ra ngoài, Marchand có vẻ nhẹ nhõm. Cuối cùng ông ta cũng đồng ý đưa con vật đến lò mổ. Ngoại trừ cái đầu vì Lombard muốn giữ lại. Theo Marchand, anh ta định nhồi nó để treo lên tường.
“Treo lên tường?” Servaz sửng sốt nhắc lại.
“Anh có nghĩ là họ phạm tội không?” Cô sen đầm hỏi.
“Ai?”
“Hai gã bảo vệ.”
“Tôi không biết.”
Servaz lấy di động ra và gọi đến số của lâu đài. Một giọng nữ trả lời.
“Tôi là sĩ quan chỉ huy Servaz thuộc tổ điều tra hình sự Toulouse. Vui lòng cho tôi gặp Éric Lombard.”
“Anh nói tên anh là gì cơ?”
“Servaz.”
“Vui lòng giữ máy.”
Một hồi chuông tưởng như vô tận. Rồi giọng của một người đàn ông trung niên vang lên.
“Alô?”
“Vui lòng cho tôi nói chuyện với Éric Lombard.”
“Cho hỏi ai gọi đó?”
“Sĩ quan chỉ huy Servaz, thuộc tổ hình sự.”
“Anh gọi về vấn đề gì?”
Servaz cảm thấy cơn giận đang trào lên. “Nghe này, ông chủ của các vị chính là người đã yêu cầu gặp tôi. Trong khi tôi đang có đủ chuyện phải giải quyết. Vì thế tôi không có thì giờ để lãng phí đâu!”
“Mời anh đánh vẫn rõ ràng tên mình và nhắc lại lý do anh gọi đến đây,” người đàn ông ở đầu dây bên kia vẫn điềm tĩnh. “Ngài Lombard cũng không có thì giờ để lãng phí.”
Sự ngạo mạn của người đàn ông khiến Servaz á khẩu. Suýt nữa thì anh gác máy, nhưng kịp thời trấn tĩnh lại.
“Servaz, S-E-R-V-A-Z. Tôi gọi để trao đổi về vụ án con ngựa của anh ta, con Tự Do.”
“Sao anh không nói sớm? Xin giữ máy.”
Người đàn ông trở lại sau hai mươi giây.
“Ngài Lombard sẽ đợi anh vào lúc 3 giờ chiều nay.”
Đó không phải một lời mời, mà là mệnh lệnh.
Lái xe vào tư dinh của Éric Lombard giống như đi vào xứ sở cổ tích. Họ đã bỏ ô tô và xe máy lại bãi đỗ xe của trụ sở sen đầm ở Saint-Martin và mượn một chiếc xe công vụ. Họ vẫn đi tuyến đường cũ, con đường dẫn đến trường luyện ngựa, nhưng thay vì rẽ trái vào rừng, họ tiếp tục đi thẳng. Sau đó băng qua vùng đồi núi quang đãng trồng sồi, du, đoan và lãnh sam trên những vạt cỏ. Mảnh đất bát ngát trải rộng ngút tầm mắt. Những hàng rào xuất hiện ở khắp nơi. Ngựa trên bãi cỏ. Và máy cày bên đường, sẵn sàng sử dụng. Vẫn còn vài mảng tuyết rải rác đây đó, nhưng không khí trong trẻo và rực rỡ. Servaz liên tưởng đến một trại gia súc ở Montana hay một đồn điền ở Argentina. Họ nhìn thấy những biển báo ĐIỀN SẢN TƯ NHÂN, CẤM VÀO ghim trên những thân cây hay hàng rào bao quanh cánh đồng. Nhưng tuyệt nhiên không có tường bao. Đi tiếp 5 kilomet nữa, họ thấy bức tường đá, cao 4 mét và chắn mất một phần phong cảnh. Bên kia là rừng cây gỗ lớn. Họ dừng xe lại bên ngoài cánh cổng. Một phiến đá hoa cương được gắn trên một trong những chiếc cột trụ. Servaz thấy dòng chữ LÂU ĐÀI TRẮNG được dát vàng.
Trên đỉnh cột là một chiếc camera đang xoay. Họ không cần ra khỏi xe để gọi cửa, cánh cổng gần như mở ra ngay lập tức. Họ đi thêm khoảng một kilomet nữa, hai bên đường trồng những cây sồi hàng trăm năm tuổi. Con đường thẳng tắp và lát phẳng hoàn hảo, lượn theo một triền dốc đen bên dưới những tán cây bện xoắn của hàng đại thụ. Servaz thấy ngôi nhà ở cuối mảnh đất đang dần tiến lại phía họ. Một lát sau, họ đỗ xe dọc rìa đường trồng những cây thạch nam và hoa trà hồng phấn phủ dây tuyết. Servaz thấy hơi thất vọng, tòa lâu đài không lớn như anh mong đợi. Nhưng nhìn lại lần thứ hai, anh lập tức rũ bỏ ấn tượng đó. Dinh thự này mang vẻ đáng yêu như một đứa trẻ, có lẽ được xây dựng vào cuối thế kỉ 19 hoặc đầu thế kỉ 20, nửa mang dáng dấp của những tòa lâu đài xứ Loire, nửa giống những dinh cơ oai vệ ở vùng quê nước Anh. Một tòa lâu đài cổ tích… Bên ngoài những ô cửa sổ ở tầng trệt là một hàng cây hoàng dương được tỉa thành hình thú, một con voi, một con ngựa, một con hươu cao cổ và một con hươu đực kiên trì đứng trong tuyết. Bên tay trái, về phía Đông, Servaz thấy một khu vườn tiêu chuẩn với những bồn nước và pho tượng trong dáng vẻ đăm chiêu. Một bể bơi được che lại và một sân quần vợt. Vườn cam bát ngát ở phía sau, lắp một loạt những chiếc ăng ten kì lạ.
Anh nhớ lại những gì mình đã đọc trên internet, Éric Lombard là một trong những người giàu và có ảnh hưởng lớn nhất nước Pháp. Anh ta đứng đầu một đế chế có mặt trên hơn bảy mươi quốc gia. Nhiều khả năng vườn cam đã biến thành một trung tâm thông tin liên lạc tối tân. Ziegler đóng sầm cửa xe.
“Xem kìa.”
Cô chỉ vào đám cây. Anh nhìn về phía đó, đếm được khoảng hơn ba mươi chiếc camera cố định trên những thân cây, giữa các cành nhánh. Chúng hẳn phải bao quát được toàn bộ khu đất. Không có điểm mù. Người ta đang quan sát họ từ đâu đó bên trong lâu đài. Bọn họ tiến về phía một con đường rải sỏi, băng qua những thảm hoa và hai chú sư tử cúi rạp mình được tạo hình từ cây hoàng dương. Mỗi con cao tới 5 mét. Lạ thật, Servaz nghĩ, đây giống như một khu vườn được thiết kế riêng để giải trí của bọn trẻ con nhà giàu. Nhưng anh chưa thấy ở đâu nhắc đến Éric Lombard đã có con. Trái lại, hầu hết các bài báo đều miêu tả về một anh chàng độc thân lâu năm với vô số những cuộc chinh phục. Hay những tác phẩm nghệ thuật bằng thực vật này đã có từ thời thơ ấu của anh ta? Đợi họ trên bậc tam cấp là một người đàn ông ngoài 60 tuổi, cao lớn, mặc đồ đen. Ông ta nhìn họ bằng ánh mắt lạnh băng. Mặc dù là lần đầu tiên gặp mặt, Servaz đã biết ngay đó là ai, người đàn ông trong điện thoại, và anh cảm thấy cơn giận dữ lại dâng lên. Người đàn ông không hề mỉm cười, chỉ bảo họ đi theo mình và quay gót. Một lần nữa, giọng ông ta biểu thị, đây không phải lời đề nghị mà là mệnh lệnh.
Họ bước qua cửa chính. Một dãy phòng tiếp khách dẫn từ gian này sang gian khác, xuyên suốt tòa nhà vì họ có thể thấy ánh sáng tự nhiên ở phía cuối, như thể họ đang đi qua một đường hầm rộng lớn, trống trải, và âm vang. Kiến trúc bên trong tòa nhà thật kì vĩ. Đại sảnh thực chất được chiếu sáng nhờ những khung cửa sổ ở tầng trệt, vì trần nhà rất cao. Người đàn ông mặc đồ đen dẫn họ đi dọc đại sảnh và qua phòng tiếp khách đầu tiên không hề có đồ đạc, rồi rẽ sang một cánh cửa đôi ở bên phải. Một thư viện với những bức tường kín chất đầy sách cổ, bốn cánh cửa ra vào kiểu Pháp cao tít mở ra ngoài cánh rừng. Éric Lombard đang đứng cạnh một cánh cửa. Servaz lập tức nhận ra, mặc dù anh ta quay lưng lại phía họ. Vị thương gia đang nói vào tai nghe.
“Cảnh sát đã đến,” người đàn ông mặc đồ đen nói, giọng ông ta nửa cung kính, nửa khinh miệt khi nhắc đến hai vị khách.
“Cảm ơn, Otto.”
Otto rời khỏi phòng. Lombard kết thúc cuộc đàm thoại bằng tiếng Anh, tháo tai nghe ra và đặt xuống một chiếc bàn gỗ sồi. Anh ta chậm rãi quan sát họ, đầu tiên là Servaz, rồi đến Ziegler. Ánh mắt dừng lại lâu hơn, anh ta có vẻ ngạc nhiên trước trang phục của cô, rồi mỉm cười ấm áp. “Vui lòng bỏ quá cho Otto. ông ấy bị lẫn lộn thời đại rồi. Thỉnh thoảng ông ấy lại đối xử với tôi như với hoàng tử hay một vị vua vậy, nhưng tôi biết mình có thể trông cậy vào ông ấy trong bất cứ hoàn cảnh nào.”
Servaz không nói gì. Anh đợi những lời tiếp theo.
“Tôi biết các vị rất bận rộn và không có thì giờ để lãng phí. Tôi cũng vậy. Tôi vô cùng yêu quý con ngựa đó. Một sinh vật tuyệt diệu. Tôi muốn đảm bảo các vị sẽ làm mọi điều, tất cả mọi điều để tóm được kẻ đã gây ra tội ác ghê tởm kia.”
Một lần nữa, anh ta lại chăm chú nhìn họ. Đôi mắt xanh lam tràn ngập nỗi buồn, cả sự cố chấp lẫn uy quyền. “Tôi muốn nói rõ thế này, các vị có thể gọi cho tôi bất kể ngày đêm, hỏi bất cứ điều gì các vị nghĩ là giúp ích cho cuộc điều tra, dù câu hỏi ấy nghe nực cười đến đâu. Tôi yêu cầu các vị đến đây để chắc chắn rằng các vị sẽ không bỏ qua bất kì chi tiết nào, rằng các vị sẽ làm mọi việc có thể để phá án. Những gì tôi muốn là truy tra tới cùng, và tôi đã được cam đoan rằng các vị đều là những điều tra viên xuất sắc.” Anh ta cười, rồi nụ cười nhạt dần. “Nếu kết quả chứng minh điều ngược lại, hoặc các vị lơ là trách nhiệm, hoặc chỉ xử lý vấn đề cho xong vì đây chỉ là một con ngựa thì đừng trách tôi quá đáng.”
Lời đe dọa thẳng thừng. Những gì tôi muốn… Người đàn ông này vô cùng thẳng thắn. Anh ta không lãng phí thời gian mà vào thẳng vấn đề. Servaz thấy như thế cũng dễ ưa. Cùng với tình yêu dành cho ngựa của anh ta nữa.
Nhưng Irène Ziegler rõ ràng không có cùng cảm nhận. Servaz nhận thấy mặt cô đã biến sắc.
“Anh có đe dọa chúng tôi cũng chẳng được ích gì,” cô lạnh lùng đáp trả.
Lombard trân trân nhìn cô. Nét mặt anh ta dịu lại và thể hiện sự hối lỗi chân thành.
“Thứ lỗi cho tôi. Tôi dám chắc cả hai vị đều tuyệt đối tận tâm và đủ năng lực. Cấp trên của các vị không ngớt lời khen ngợi. Tôi đúng là xuẩn ngốc. Nhưng… sự cố này quả thật đã khiến tôi rối bời. Xin hãy chấp nhận lời xin lỗi chân thành của tôi, đại úy Ziegler.”
Ziegler miễn cưỡng gật đầu nhưng không nói gì thêm.
Servaz nói, “Nếu anh không phản đối, tôi muốn bắt đầu luôn bằng vài câu hỏi dành cho anh, nhân lúc chúng ta đều ở đây.”
“Đương nhiên rồi. Đi theo tôi. Để tôi mời các vị cà phê.”
Éric Lombard mở một cánh cửa ở cuối căn phòng. Một phòng khách khác. Ánh nắng tràn vào qua cánh cửa kiểu Pháp rọi lên hai chiếc ghế bành bằng da và một bàn trà đã sắp sẵn khay đặt ba chiếc tách và một ấm cà phê. Servaz biết cái ấm kia hẳn phải là một món đồ cổ vô giá, cũng như các đồ đạc khác. Mọi thứ đều đã được bố trí sẵn, bao gồm cả đường, mấy chiếc bánh ngọt Đan Mạch, và một bình sữa.
“Câu hỏi đầu tiên,” Servaz mở đầu không chút do dự, “anh có đoán ra ai có khả năng gây ra chuyện này không, hoặc ít nhất là người có lý do để gây án?”
Éric Lombard đang rót cà phê. Anh ta ngừng lại, nhìn xoáy vào Servaz, mái tóc vàng phản chiếu trong tấm gương lớn phía sau. Anh ta mặc áo chui cổ tròn trắng sữa và quần màu xám, làn da cực kì rám nắng.
Anh ta trả lời không chớp mắt, “Có.”
Servaz rùng mình. Ziegler bên cạnh anh cũng vậy.
“Và không,” anh ta lập tức bổ sung. “Đó là hai câu hỏi trong một. Có, tôi biết rất nhiều người có lý do chính đáng để làm việc ấy. Không, tôi không biết ai thực sự có khả năng làm được.”
“Anh có thể nói cụ thể hơn không,” Ziegler tỏ ra hơi khó chịu. “Tại sao ai đó lại muốn giết con ngựa?”
“Để làm tổn thương tôi, trả thù tôi, đe dọa tôi. Tôi tin rằng nếu ở vào địa vị và sở hữu gia tài như tôi, chắc chắn cô cũng sẽ có kẻ thù. Cô khơi dậy sự đố kỵ ở người khác, cô xâm nhập thị trường của đối thủ, cô từ chối đề nghị của ai đó, cô dồn ép họ đến mức phá sản, cô sa thải hàng trăm con người… Nếu tôi buộc phải liệt kê danh sách tất cả những người khinh ghét tôi, nó có thể dày như một quyển danh bạ điện thoại.”
“Anh nói cụ thể hơn nữa được không?”
“Đáng tiếc là không. Tôi hiểu các vị đang hướng tới điều gì. Ai đó đã giết con ngựa yêu quý của tôi và treo nó lên đỉnh chiếc cáp treo của tôi. Vì thế bọn chúng đang cố nhằm vào tôi. Tất cả đều chĩa vào tôi. Tôi đồng ý, rõ ràng là thế. Nhưng tôi hoàn toàn không nghĩ ra người nào có thể làm việc đó.”
“Anh không nhận được bất cứ đe dọa nào qua lời nói hay văn bản sao, có thư nặc danh không?”
“Không.”
“Tập đoàn của anh kinh doanh trên bảy mươi lăm quốc gia…” Servaz nói.
“Bảy mươi tám!” Lombard sửa lại.
“Tập đoàn của anh có quan hệ với bất cứ tổ chức xã hội đen hay ổ nhóm tội phạm có tổ chức nào không, kể cả gián tiếp? Tôi có thể hình dung ở vài đất nước, loại… giao thiệp này ít nhiều không thể tránh khỏi.”
Một lần nữa, Lombard lại nhìn xoáy vào Servaz, nhưng ánh mắt lần này không chút hằn học. Anh ta thậm chí còn mỉm cười. “Anh rất thẳng thắn, sĩ quan. Có thể anh đang nghĩ đến cái đầu ngựa trong Bố già? Không, tổ chức của tôi không hề có quan hệ với các ổ nhóm tội phạm. Ít nhất là theo những gì tôi biết. Nhưng tôi không phủ nhận rằng ở vài nước, chúng tôi buộc phải giả câm giả điếc với một số hành vi nhất định, như ở châu Phi hay châu Á. Nhưng trong những trường hợp đó, thẳng thắn mà nói, chúng tôi bắt tay với chế độ độc tài, chứ không phải xã hội đen.”
“Và việc đó không khiến anh lo ngại?” Ziegler hỏi.
Lombard nhướng mày.
“Bắt tay với bọn độc tài,” cô giải thích.
Lombard lại cười, một cách khoan dung, nhưng là nụ cười của đấng quân vương đang lưỡng lự giữa việc nhạo báng sự xấc láo của thần dân hay là chém đầu cô ta ngay tại chỗ.
“Tôi không nghĩ trả lời câu hỏi đó sẽ có ích cho cuộc điều tra của các vị,” anh ta đáp. “Các vị cũng nên biết, tôi không phải là người duy nhất nắm quyền. Rất nhiều ngành chúng tôi có đối tác, đầu tiên và trước hết phải kể đến chính phủ Pháp. Đôi khi có những khía cạnh chính trị mà tôi không có quyền kiểm soát.”
Thẳng thắn, nhưng có khả năng luồn lách bằng mấy câu khuôn sáo khi cần.
“Có một điều tôi không hiểu, sao lại có chuyện không ai nghe hay nhìn thấy gì, kể cả ở trường luyện ngựa hay nhà máy điện? Chẳng ai có thể tha lôi một con ngựa đi loanh quanh giữa đêm mà không phát ra tiếng động được.”
Mặt Lombard tối sầm lại.
“Anh nói đúng. Bản thân tôi cũng thắc mắc điều này. Ai đó, ở đâu đó, chắc chắn đã nói dối. Và tôi tha thiết muốn tìm ra kẻ đó,” anh ta bổ sung, vẻ hăm dọa.
Lombard cục cằn đặt chiếc tách xuống khiến bọn họ giật mình.
“Tôi đã triệu tập tất cả mọi người, nhân viên ca ngày và ca đêm ở nhà máy điện, nhân viên trường luyện ngựa. Tôi đã trực tiếp tra hỏi họ, từng người một ngay khi về đây. Việc đó mất của tôi bốn tiếng. Tôi chắc chắn các vị sẽ tin khi tôi nói rằng mình đã gây áp lực lớn nhất có thể với họ. Không ai nghe thấy gì vào đêm hôm đó. Đương nhiên điều đó là vô lý. Tôi không nghi ngờ sự thành thật của Marchand và Hector. Họ chưa từng làm tổn thương bất cứ con ngựa nào của tôi và đã làm việc cho gia đình tôi từ rất lâu rồi. Cả hai đều trung thực, được việc và quan hệ của tôi với họ lúc nào cũng rất tốt. Có thể nói họ không khác gì người trong nhà. Vì thế, các vị có thể loại họ ra khỏi danh sách. Cả Hermine nữa. Con bé là một cô gái tốt, vô cùng yêu quý con Tự Do. Sự việc này đã làm con bé suy sụp.”
“Anh có biết mấy nhân viên bảo vệ đã biến mất không?” Servaz hỏi.
Lombard cau mày. “Có. Chỉ mình bọn họ là tôi chưa tra hỏi.”
“Họ có hai người, và cần tối thiểu hai người để treo con ngựa lên đó. Cả hai đều có tiền án.”
“Hai kẻ tình nghi lý tưởng,” Lombard ngờ vực nói.
“Có vẻ anh thấy giả thuyết này không mấy thuyết phục?”
“Tôi không biết… tại sao hai gã đó lại treo con Tự Do tại chính nơi làm việc của mình? Làm vậy chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này?”
Servaz gật đầu đồng tình. Rồi phản biện, “Nhưng bọn họ đã chạy trốn, cả hai người.”
“Hãy thử đặt mình vào địa vị của họ, với tiền án trong hồ sơ cảnh sát. Hy vọng không làm anh mất lòng, nhưng họ thừa biết nếu cảnh sát đã tìm ra nghi phạm rồi thì hiếm khi điều tra rộng ra nữa.”
“Ai đã thuê họ?” Ziegler hỏi. “Anh biết những gì về họ? Tôi cược anh đã tìm hiểu hết về bọn họ từ hôm qua rồi.”
“Chính xác. Marc Morane, giám đốc nhà máy điện đã thuê họ. Qua một chương trình tái hòa nhập cho phạm nhân của nhà tù ở Lannemezan.”
“Họ đã từng gây rắc rối gì ở nhà máy điện chưa?”
“Morane quả quyết là không.”
“Có nhân viên nào làm việc cho nhà máy điện hay tập đoàn của anh bị sa thải trong mấy năm gần đây không?”
Lombard lần lượt nhìn hai người khách. Với mái tóc, bộ râu và đôi mắt màu lam, anh ta thực sự toát ra vẻ hấp dẫn không thể cưỡng nổi, như một tay thủy thủ lão luyện, như những bức chân dung trên báo.
“Đây là tiểu tiết rồi. Tôi không dính dáng đến việc quản lý nhân sự, cũng như giải quyết các vấn đề nhỏ như nhà máy điện. Nhưng hai vị có toàn quyền truy cập tài liệu liên quan đến nhân sự. Và nhân viên của tôi cũng tùy ý các vị bố trí. Tất cả bọn họ đều đã được phổ biến vấn đề này. Thư kí của tôi sẽ gửi cho các vị một danh sách tên họ cùng số điện thoại. Đừng ngần ngại liên hệ với bất cứ ai. Nếu có kẻ nào trong số đó gây khó dễ cho các vị, cứ gọi cho tôi. Như tôi đã nói, trong tất cả các mối quan tâm hiện nay, đây là vấn đề được ưu tiên hàng đầu, và tôi cũng toàn tâm toàn ý giúp đỡ các vị 24/24.” Anh ta lấy ra một tấm danh thiếp và đưa nó cho Ziegler. “Còn nữa, các vị đã thấy nhà máy thủy điện rồi đấy. Nó đã xuống cấp và chẳng mấy sinh lời. Chúng tôi giữ nó lại chỉ vì lý do lịch sử và gia đình. Marc Morane, giám đốc hiện tại là người tôi biết từ nhỏ. Chúng tôi học cùng trường tiểu học. Nhưng tôi không gặp anh ta nhiều năm nay rồi.”
Servaz hiểu rằng lời lưu ý cuối cùng chính là muốn nhấn mạnh thứ bậc của tất cả những người liên quan. Đối với người thừa kế đế chế này, giám đốc nhà máy điện chỉ là một nhân viên như bao kẻ khác, ở tận nấc thang dưới cùng, chẳng khác công nhân của chính anh ta là mấy.
“Trung bình một năm anh dành bao nhiêu thời gian ở đây?” Ziegler hỏi.
“Khó nói lắm. Để tôi nghĩ xem… Có lẽ khoảng từ sáu đến tám tuần. Không hơn. Đương nhiên tôi dành nhiều thời gian ở căn hộ tại Paris hơn lâu đài cổ này. Tôi cũng thường xuyên ở lại New York. Thành thực mà nói, quá nửa thời gian của tôi đều là đi công tác. Nhưng tôi thích đến đây, đặc biệt vào mùa trượt tuyết và mùa hè, để vui đùa cùng lũ ngựa. Tôi cũng có những trại nuôi ngựa và trường luyện ngựa khác, chắc hẳn các vị cũng biết. Nhưng đây là nơi tôi đã trải qua phần lớn thời thơ ấu và niên thiếu của mình, trước khi bố tôi gửi tôi đi du học. Có thể các vị thấy nó u ám, nhưng với tôi nó rất thân thuộc. Tôi đã có quá nhiều trải nghiệm ở đây, cả tốt và xấu. Nhưng qua thời gian, ngay cả những kỉ niệm xấu rốt cuộc cũng dường như đẹp lên. Kí ức đã làm nhiệm vụ của nó…”
Giọng nói của anh ta khàn khàn về cuối câu. Servaz cứng người, mọi giác quan đều đề cao cảnh giác. Anh đợi Lombard nói tiếp, nhưng chỉ nhận về sự im lặng.
“Anh nói ‘trải nghiệm tốt và xấu’ là có ý gì?” Ziegler nhỏ giọng hỏi.
Lombard gạt câu hỏi đi bằng một cái phẩy tay. “Không quan trọng. Đã lâu quá rồi… Cũng chẳng liên quan gì đến cái chết của con ngựa.”
“Điều đó phụ thuộc vào đánh giá của chúng tôi,” Ziegler trả lời.
Lombard lưỡng lự. “Hẳn mọi người sẽ cho rằng đây là nơi thôn dã lý tưởng cho một cậu bé như tôi lớn lên, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại.”
“Thật sao?” Ziegler nói.
Servaz thấy Lombard nhìn cô cảnh giác.
“Nghe này, tôi không nghĩ là…”
“Nghĩ sao?”
“Dừng ở đây thôi. Không có gì thú vị cả.”
Servaz nghe thấy Ziegler thở dài, “Anh Lombard, anh đã gây áp lực nhất định cho chúng tôi, nói rằng nếu chúng tôi xem nhẹ vụ việc này, chúng tôi sẽ phải hối hận. Và anh cũng nhấn mạnh rằng, chúng tôi không được bỏ qua bất cứ manh mối nào, cho dù là nực cười nhất. Chúng tôi là điều tra viên, không phải thầy bói hay phù thủy. Chúng tôi cần biết mọi chi tiết có thể khai thác được. Biết đâu động cơ gây nên hành vi đẫm máu kia lại liên quan đến quá khứ thì sao?”
“Công việc của chúng tôi là tìm ra mối liên hệ và động cơ,” Servaz nhấn mạnh.
Lombard chăm chú nhìn hai người, họ biết anh ta đang cân nhắc thiệt hơn. Cả Ziegler và Servaz đều ngồi yên. Vị thương gia do dự thêm một lát, rồi nhún vai.
“Để tôi kể với các vị về Henri và Édouard Lombard, bố và ông nội tôi,” anh ta đột ngột lên tiếng. “Đây là một câu chuyện khá khác biệt. Hãy để tôi nói cho các vị biết Henri Lombard thực sự là ai. Một người đàn ông lạnh như băng và cứng như đá. Bạo lực và ích kỉ. Một người cuồng tín với lối sống ngăn nắp trật tự, giống như bố mình.”
Ziegler vô cùng sửng sốt, Servaz cũng đang nín thở. Lombard một lần nữa ngừng lại và nhìn họ một lúc. Hai điều tra viên im lặng chờ anh ta tiếp tục, sự im lặng dường như kéo dài vô tận.
“Chắc các vị đã biết, doanh nghiệp Lombard thực sự bắt đầu ăn nên làm ra kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự thật là bố và ông tôi không ngại sự có mặt của người Đức. Bố tôi chỉ vừa bước sang tuổi hai mươi và ông tôi điều hành công ty, ở đây và ở Paris. Một trong những giai đoạn phồn thịnh nhất suốt chiều dài lịch sử của tập đoàn, họ làm ăn cực kì tốt với khách hàng Đức Quốc xã.”
Anh ta ngả người tới trước. Từng cử động phản chiếu trong chiếc gương sau lưng, như một bản sao không muốn dính líu đến những gì bản chính định nói.
“Khi quân giải phóng đến, ông nội tôi bị xử tội đồng minh với phát xít, kết án tử hình nhưng cuối cùng được khoan hồng. Ông bị giam ở Clairvaux, tình cờ Rabatet cũng bị giam bên cạnh. Ông được thả vào năm 1952, một năm sau thì mất vì trụy tim. Trong khoảng thời gian này, con trai ông là Henri lên tiếp quản. Bố tôi quyết định mở rộng việc kinh doanh của gia đình, theo hướng đa dạng hóa và hiện đại hóa. Khác với cha mình, hoặc có lẽ chính vì tuổi còn trẻ, ông đã cảm nhận được gió đã đổi chiều ngay từ năm 1943 trong khi ông nội tôi không hề hay biết. Bố tôi kết giao với quân kháng chiến và những người theo phe tổng thống de Gaulle. Hầu như không vì bất kì lý tưởng nào, chỉ đơn thuần là cơ hội. Ông là một người sáng suốt, với tầm nhìn rộng. Sau trận Stalingrad[1], ông hiểu rằng thời đại của Đức Quốc xã chỉ còn được tính bằng ngày nên đã lợi dụng triệt để cả hai phe. Một bên là quân Đức, một bên là quân kháng chiến. Chính bố tôi là người gây dựng nên cơ đồ ngày nay của Lombard, từ thập niên 1950-60 đến 1970. Sau chiến tranh, ông dứt khoát phát triển một mạng lưới quan hệ giữa giới lãnh đạo của phe de Gaulle và cựu chiến binh kháng chiến vốn nắm giữ các vị trí quan trọng. Trên thương trường, ông là thủ lĩnh xuất sắc của ngành công nghiệp, một người xây dựng đế chế, một người có tầm nhìn vĩ mô, nhưng ở nhà, ông là một bạo chúa, một người chồng, người cha tàn bạo, xa cách và vô tình. Vẻ ngoài của ông vô cùng oai nghiêm, cao, gầy, luôn mặc đồ đen. Người dân ở Saint-Martin không tôn trọng cũng không coi thường ông, nhưng tất cả đều sợ ông. Ông là một người yêu bản thân quá mức và không còn gì cho người khác nữa. Dù là vợ con…”
Éric Lombard đứng lên. Servaz và Ziegler nhìn anh ta đi tới một cái tủ buýp phê. Anh cầm lên tấm ảnh được lồng khung và đưa cho Servaz. Một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt nghiêm khắc, đôi mắt sắc của loài chim săn mồi, mũi dài và mái tóc trắng, mặc một bộ vét sẫm màu bên ngoài chiếc sơ mi trắng tinh không tì vết. Trông Henri Lombard không có điểm gì giống với con trai mình, mà giống một người truyền giáo, một thuyết giả cuồng tín. Servaz không thể không nghĩ tới bố anh, người đàn ông gầy nhỏ, ưu tú có khuôn mặt mà trí nhớ của anh không ghi lại được.
“Cả ở nhà và ở công ty, bố tôi đều để lại ấn tượng như kẻ bạo chúa. Ông dùng bạo lực tinh thần và thậm chí cả thể chất với nhân viên, vợ và con của mình. (Servaz thấy rõ giọng Lombard hơi nghẹn lại. Một nhà thám hiểm thời hiện đại, một thần tượng tạp chí dường như đã trở thành một người hoàn toàn khác). Mẹ tôi mất vì ung thư ở tuổi 49. Bà là người vợ thứ ba của ông. Trong suốt mười chín năm chung sống, bà luôn là nạn nhân của sự bạo hành, của nắm đấm giận dữ, và những trận đánh đập. Ông cũng sa thải rất nhiều người giúp việc và nhân viên. Tôi thuộc về một kỉ nguyên mà sự hà khắc chính là đức hạnh. Nhưng sự hà khắc của bố tôi đã vượt xa mức độ có thể chấp nhận được. Tâm trí ông bị xâu xé bởi bóng tối.”
Servaz và Ziegler lén nhìn nhau. Cả hai đều ý thức được rằng đây là một câu chuyện không tưởng mà người thừa kế của đế chế đang phơi bày trước mặt họ. Chắc chắn cánh phóng viên sẽ đồng ý trả bất cứ giá nào để có được câu chuyện này. Có vẻ Éric Lombard đã quyết định sẽ tin tưởng họ. Và tại sao? Bỗng nhiên Servaz hiểu ra. Theo diễn biến của hai mươi tư giờ vừa qua, vị trùm tư bản chắc hẳn đã gọi hàng tá cuộc điện thoại. Servaz nhớ lại những con số đáng giật mình đã thấy trên web, một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng anh. Éric Lombard thừa đủ tiền và quyền lực để có được bất cứ thông tin nào anh ta muốn. Đột nhiên anh tự hỏi, không biết Lombard có mở một cuộc điều tra song song hay không. Một cuộc điều tra bên trong một cuộc điều tra, không chỉ để tìm ra nguyên nhân cái chết của con ngựa, mà còn để theo dõi sát sao những nhân viên điều tra chính thức. Điều đó là đương nhiên. Lombard chắc chắn hiểu rõ về họ cũng như họ biết về anh ta.
“Đây là thông tin quan trọng,” Ziegler cuối cùng cũng nói. “Anh đã đúng khi chia sẻ điều đó với chúng tôi.”
“Cô nghĩ thế à? Tôi ngạc nhiên đấy. Tất cả đã bị chôn vùi quá lâu. Hiển nhiên toàn bộ những gì tôi vừa nói với hai vị là tuyệt mật.”
“Nếu đó là sự thật, chúng tôi nhận thấy một động cơ, căm ghét, trả thù. Có thể từ phía một cựu nhân viên, một mối quan hệ nào đó trước đây, hay kẻ thù cũ của bố anh chẳng hạn.” Servaz nói.
Lombard lắc đầu vẻ hoài nghi. “Nếu vậy, tại sao họ phải đợi lâu đến thế? Bố tôi mất đã mười một năm.”
Anh ta đang định nói thêm gì đó thì điện thoại của Irène Ziegler rung lên. Cô kiểm tra số gọi tới rồi nhìn họ. “Tôi xin phép.”
Cô đứng dậy và đi tới một góc phòng.
“Bố anh sinh năm 1920, nếu tôi không nhầm,” Servaz tiếp tục. “Và anh sinh năm 1972. Ít nhất có thể nói, ông ấy sinh anh khi đã có tuổi. Ông còn người con nào khác nữa không?”
“Em gái tôi, Maud. Em ấy sinh năm 1976, kém tôi bốn tuổi. Cả hai chúng tôi đều là kết quả từ cuộc hôn nhân thứ ba và cuối cùng của ông. Trước đó bố tôi chưa có con. Tại sao thì tôi không biết. Lời giải thích chính thức là ông gặp mẹ tôi ở Paris, tại một rạp hát nơi bà làm diễn viên…”
Một lần nữa, Lombard dường như đang băn khoăn liệu mình có thể tin tưởng hai người họ đến đâu. Anh ta nhìn thẳng vào mắt Servaz, có ý thăm dò, và đi đến quyết định.
“Mẹ tôi thực ra là một diễn viên giỏi, nhưng bà không bao giờ bước chân lên sân khấu, cũng như chưa từng xuất hiện trong bộ phim nào. Đúng hơn, tài năng của bà chỉ được phô bày cho một số người xem, các đại gia lớn tuổi sẵn sàng chi trả một số tiền lớn để có được bà bên cạnh. Có vẻ bà đã sở hữu một lượng khách hàng trung thành là những thương gia giàu có. Đòi hỏi của bà rất cao. Bố tôi là một trong những người kiên trì nhất. Hẳn ông đã sớm cảm thấy ghen tuông. Ông muốn bà chỉ thuộc về mình. Cũng như với tất cả mọi chuyện, ông phải là số một và phải loại bỏ đối thủ của mình bằng mọi giá. Vì thế, ông cưới bà. Hay đúng hơn, theo cách ông nhìn nhận, là ông mua bà, ông chưa bao giờ thôi nghĩ bà là một… ả điếm, dẫu đã lấy bà. Lúc hai người kết hôn, ông 50 tuổi, còn bà 30. Về phần mẹ tôi, chắc hẳn bà cho rằng ‘sự nghiệp’ của mình đang xuống dốc và đã đến lúc nghĩ đến một thứ gì đó khác. Nhưng bà không hề biết người đàn ông mình sắp cưới lại tàn bạo đến thế. Bà đã phải trải qua một quãng thời gian kinh khủng.”
Éric Lombart chợt trở nên ủ dột. Anh ta chưa bao giờ tha thứ cho bố mình, Servaz rùng mình nhận ra rằng, giữa Lombard và anh có một sự tương đồng khá lớn. Với cả hai, kỉ niệm về gia đình đều là một mớ hỗn độn vui sướng và khổ sở, với những giây phút tươi sáng và bao khoảnh khắc kinh hoàng. Anh quan sát Ziegler qua khóe mắt. Cô vẫn đang nói chuyện điện thoại ở đầu kia của căn phòng, lưng xoay về phía hai người đàn ông.
Cô bất ngờ quay lại và bắt gặp ánh mắt Servaz. Anh lập tức cảnh giác, cuộc điện thoại có gì đó khiến cô bất an.
“Làm sao anh biết chuyện về bố mẹ mình?”
Lombard bật cười vô cảm. “Vài năm trước, tôi có thuê một nhà báo để đào xới lịch sử gia đình mình.” Anh ta ngập ngừng trong chốc lát. “Suốt một thời gian dài, tôi đã muốn biết thêm về bố mẹ. Ít nhất từ góc nhìn của đứa con, tôi cũng cảm nhận được cuộc hôn nhân của họ chẳng hề yên ấm. Nhưng tôi không ngờ tới những gì mình khám phá ra. Tôi mua sự im lặng của tay nhà báo đó. Tốn kém. Nhưng xứng đáng.”
“Từ bấy đến nay, có nhà báo nào khác lượn lờ thăm dò không?”
Lombard nhìn Servaz chằm chằm. Một lần nữa, anh ta lại là một doanh nhân không biết nhượng bộ.
“Đương nhiên là có. Tôi đã mua chuộc tất cả bọn họ. Từng người một. Tốn kém cả gia tài nhưng… qua một ngưỡng nhất định, ai cũng đều bán mình…”
Lombard nhìn Servaz, và người cảnh sát hiểu ngay ra thông điệp. Cả anh cũng vậy. Một cơn giận trào dâng. Sự ngạo mạn quá mức thật khiến người ta điên tiết. Nhưng cùng lúc, anh cũng biết, người đàn ông này nói đúng. Có lẽ bản thân anh đủ khả năng từ chối nhờ những đạo lý mà anh luôn theo đuổi kể từ khi tham gia lực lượng cảnh sát. Nhưng giả sử, nếu anh là một trong những nhà báo đó, và cũng chính người đàn ông đang ngồi đối diện kia đưa ra lời đề nghị, nhân danh con gái anh, các trường học tốt nhất với những giáo viên tốt nhất, rồi đến trường đại học danh tiếng nhất và là một vị trí đảm bảo trong ngành nghề mơ ước của con bé, liệu anh có đủ dũng khí để chối từ một tương lai như thế cho Margot không? Ở một phương diện nào đó, Lombard đã đúng. Qua một ngưỡng nhất định, ai cũng đều bán mình… Người cha đã mua vợ của ông ta, đứa con mua cánh nhà báo, và rõ ràng, cả các chính trị gia. Éric Lombard giống bố mình hơn anh ta tưởng.
Servaz không hỏi thêm gì nữa. Anh đặt chiếc cốc đã cạn xuống. Ziegler quay lại chỗ ngồi. Anh liếc mắt nhìn cô. Trông cô căng thẳng và lo lắng.
Lombard lạnh lùng nói tiếp, “Được rồi, giờ tôi muốn biết các vị đã có manh mối gì chưa?”
Cảm tình Servaz vừa dành cho anh ta một khác trước lập tức tan biến. Người đàn ông này lại nói chuyện với họ như thể họ là đầy tớ của anh ta.
“Tôi rất tiếc,” anh nhanh chóng trả lời với nụ cười của một viên kiểm toán thuế. “Ở thời điểm này, chúng tôi muốn tránh tiết lộ về cuộc điều tra với những người liên quan.”
Lombard nhìn anh một lúc lâu. Servaz thấy rõ anh ta đang lưỡng lự giữa hai lựa chọn, Tiếp tục đe dọa họ hoặc tạm thời rút lui. Anh ta chọn phương án thứ hai. “Tôi hiểu. Dù sao, tôi cũng biết phải tìm ở đâu. Cảm ơn vì đã dành thời gian đến đây.”
Anh ta đứng lên. Cuộc nói chuyện chấm dứt.
Họ trở về theo đúng lối vào ban nãy. Bóng tối dần buông khi hai người đi xuyên qua dãy phòng tiếp khách. Bên ngoài, trời đã nổi gió, những hàng cây đang đung đưa rên rỉ. Có thể tuyết sẽ lại rơi. Anh nhìn đồng hồ. 16:40. Mặt trời lặn dần, đám động vật tạo hình bằng cây cảnh đổ bóng trên mặt đất. Anh hơi ngoái lại và thấy Éric Lombard đang đứng bất động bên một trong các khung cửa sổ tầng trệt và dõi theo họ. Cạnh anh ta là hai người nữa, trong đó có Otto. Servaz nhớ lại giả thuyết của mình, rằng các điều tra viên cũng là đối tượng của một cuộc điều tra khác. Trong khung cửa sổ hình chữ nhật tối tăm, Lombard và hai người hầu cận trông như hình ảnh phản chiếu qua một tấm gương. Mọi chi tiết đều kì lạ, lặng im và đáng sợ. Vừa vào đến xe, Servaz liền quay sang hỏi Ziegler, “Chuyện gì thế?”
“Là Rosny-sous-Bois. Họ đã được trả mẫu DNA.”
Anh ngờ vực nhìn cô. Mẫu phẩm được lấy chưa đầy bốn mươi tám tiếng. Phân tích DNA không thể hoàn thành trong thời gian ngắn như thế được. Các phòng thí nghiệm đều ngập đầy việc! Chắc chắn ai đó ở địa vị rất cao đã đẩy vụ án này lên hàng đầu.
“Hầu hết dấu vết DNA được tìm thấy trong cabin, tóc, nước bọt, móng tay, đều khớp với các công nhân hoặc nhân viên nhà máy điện. Nhưng họ cũng tìm thấy dấu nước bọt trên một cửa sổ cabin. Nó là của một người bên ngoài nhà máy, người có hồ sơ trong FNAEG. Một người không bao giờ được phép ở đó…”
Servaz cứng người. FNAEG là viết tắt của Fichier national des empreintes génétiques (kho dữ liệu DNA quốc gia). Một cơ quan gây tranh cãi. Nó không chỉ lưu giữ hồ sơ DNA của những tên cưỡng hiếp, giết người và ấu dâm, mà của cả những người đã phạm đủ loại tội lớn bé, tất tần tật từ ăn cắp vặt cho đến tàng trữ vài gam cần sa. Do đó, số hồ sơ lưu trong kho dữ liệu năm ngoái đã đạt tới 470.492 bộ. Có thể nói, kho dữ liệu này nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ nhất tại Pháp, nhưng con số khổng lồ ấy là nỗi lo chính đáng với các luật sư và thẩm phán. Trong khi đó, khuynh hướng vượt quá phạm vi bình thường của kho dữ liệu lại giúp các điều tra viên bắt giữ được nhiều tội phạm quan trọng. Hành vi phạm pháp thường được xác định theo những mối liên quan nhất định. Một tên ‘yêu râu xanh’, từ lóng thường dùng để chỉ can phạm hiếp dâm, cũng có thể là một tên đào tường khoét vách hay cướp giật. Minh chứng là những dấu DNA được tìm thấy ở hiện trường các vụ trộm đã giúp bắt giữ không chỉ một tên tội phạm hiếp dâm hàng loạt.
“Là ai?” Anh hỏi.
Ziegler bối rối nhìn anh. “Anh đã bao giờ nghe đến cái tên Julian Hirtmann chưa?”
Những bông tuyết lại bắt đầu lác đác rơi trong bầu không khí lạnh giá. Một cơn giận mang hơi hướng của sự điên rồ đột ngột trào dâng. Không thể nào, bộ não của anh gào lên.
Servaz nhớ đã đọc vài bài báo trên tờ La Dépêche du Midi vào thời điểm tên sát nhân hàng loạt khét tiếng người Thụy Sĩ được đưa lên dãy Pyrenees. Bài báo miêu tả chi tiết những biện pháp an ninh đặc biệt đã được sử dụng cho chuyến áp tải. Làm sao Hirtmann có thể leo qua những bức tường của viện tâm thần, thực hiện hành vi điên rồ đó, rồi trở lại phòng giam được?
“Không thể nào,” Ziegler lẩm bẩm.
Đó cũng là suy nghĩ của chính anh.
Anh quay sang nhìn cô với vẻ ngờ vực, rồi lại nhìn những bông tuyết qua kính chắn gió.
“Credo quia absurdum,” cuối cùng anh nói.
“Lại tiếng La tinh,” cô đáp. “Nó có nghĩa là gì?”
“‘Tôi tin điều đó vì nó vô lý.’”
❀ ❀ ❀
[1] : Trận đánh quyết định trong chiến tranh Xô-Đức.