Đoàn xe đám cưới đi thật thong thả, lên Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, qua chợ Đồng Xuân thì rẽ sang Hàng Khoai, quay về Hàng Cót, Hàng Gà, Hàng Điếu, đến bãi chợ Hàng Da thì rẽ sang Ngõ Trạm, để quặt về Hàng Lờ, Hàng Bông cây đa cửa quyền, Hàng Bông đệm, Hàng Hài, sang Hàng Trống, đến nhà Thư viện thì dọc theo Bờ Hồ, đến ga xe điện, rồi quặt về Hàng Tiện.
Từ Phòng thuốc nhà giàu đến nhà cô đốc có năm thước. Từ Phòng thuốc nhà giàu đến nhà thuê tạm hai hôm để cưới ở đầu phố Hàng Tiện, cách nhau độ hai trăm thước. Nhưng đám cưới đã tiến tước quanh co gần khắp các phố chính của Hà Nội. Một tràng pháo dài treo từ sân gác thượng, rủ xuống quá mái hiên, nổ ran, kêu giòn, tỏa khói thơm và tung xác lăn tăn đỏ như rắc cánh hoa xuống mặt đất.
Hàng phố đổ ra xem đông nghịt. Ai cũng chờ xem mặt tân lang và tân giai nhân.
Xe cuối cùng dừng bánh. Ai nấy trầm trồ nhìn. Cô phù dâu giương phứt cái ô máy lợp lụa tím che trước mặt cô dâu. Rồi nâng dắt tay cô đứng dậy. Cạnh hè, lúc ấy, một cô, dễ thường là em chồng, đứng chờ sẵn, giơ tay, đỡ cô dâu xuống đất.
Ba cô phải đứng lại, chờ cho pháo nổ hết. Cái ô được kéo rụt lại cho kín cái mặt đương thẹn thò. Hàng phố được dịp nghiêng ngó, dòm vào tận mặt con người sung sướng. Tiếng thì thào bình phẩm:
- Đẹp quá! Trẻ quá! Thơm quá! Sang quá!
Có người xông xáo dám hất mạnh cái ô lên cao để cho cái mặt phải lộ ra.
Nhưng họ không thấy được. Mặt cô dâu còn được cô che lần nữa bằng cái quạt nan trầm, phết giấy tàu trắng, vẽ sơn thủy xanh đỏ.
Khi tiếng pháo dứt, ba cô bắt đầu vào nhà. Cô dâu đi giữa hai cô dìu hai bên.
Hàng phố còn cãi nhau. Người bảo nước da cô dâu tự nhiên. Người rằng cô có đánh phấn.
Tuy đã giấu mặt thật kín sau cái ô và cái quạt, nhưng cô dâu cũng cúi gằm xuống. Cô rỉ rén, tiến từng bước, y như là bẩm sinh ra không biết đi nhanh. Cô theo hai người đi hai bên, nâng hai cánh tay để dắt.
Ba cô bước lên hè. Ô cụp lại. Nhưng cô dâu vẫn che quạt trước mặt, cúi gằm, đi giữa đám họ hàng đứng lố nhố, đương yên lặng nhìn cô. Cô theo hai người dẫn vào buồng ở lớp nhà trong. Ngồi xuống ghế, cô đặt quạt lên bàn, thở đánh phào, tủm tỉm nhìn bạn.
Chừng mười lăm phút sau, cô em chồng mời cô dâu ra sân tế Tơ Hồng. Cô lè quả ô mai đương ngậm ở miệng ra, rướn mình, nhảy thật cao, để vứt hột qua cái lỗ cửa nhỏ. Cô đánh lại phấn, kẻ lại môi, bôi thêm tí nước hoa, rồi mặc áo thụng bằng nhiễu hoa đỏ xong, cô xòe quạt để che mặt, thong thả bước theo hai cô dìu hai cánh tay, mặt lại cúi gằm.
Bàn cúng Tơ Hồng bày ở sân, quay chếch về hướng nam. Cô không dám nhìn ai, nhưng cô thấy những ống quần và những giày dép. Quần lĩnh dài lượt thượt quét đất, quần chúc bâu là đứng nép, quần tây dạ hẹp ống, dép cong quai nhung, dép Nhật có quả bông đỏ, giày Gia Định mũi vuông, giày mõm nhái mũi nhọn, giày tây vàng mũi cồng, giày ban da láng mũi dẹt. Cô được dắt đến mép cái chiếu hoa mới. Cô thấy giữa chiếu có một người đứng rồi. Cô hơi ngẩng lên. Thấy cái gấu áo thụng lam, đôi ống quần nhiễu trắng, đôi bít tất tơ kẻ màu hạt dẻ, cô biết đó là chàng.
Cô bước chân vào chiếu, định tiến lên cạnh chồng, bỗng có tiếng ông già nói:
- Thôi!
Rồi đến tiếng:
- Cô dâu phải ngồi dưới chú rể một tí mới phải phép.
Cô ngồi, mặt vẫn nấp sau quạt, xếp hai chân bằng tròn cho gọn. Cô phù dâu cúi xuống, kéo cho cô cái vạt áo sau, rải lại vuông vắn, và xếp cái vạt áo trước, che kín hai vế đùi.
Lúc này, xung quanh im lặng, một sự im lặng thiêng liêng. Văn tế chữ nho đọc ngân nga từng tiếng xong, bỗng cô nghe loạt soạt bên cạnh. Cô liếc mắt, vừa thấy chàng bắt đầu lễ, thì có bàn tay ấn đầu cô xuống:
- Lễ đi!
Cô làm theo. Hai tay cô chắp, nhưng vẫn che được quạt trước mặt. Cô cúi lưng, gục xuống chiếu, thì cái quạt từ từ xếp lại. Khi cô thẳng lưng, ngồi dậy, cái quạt lại xòe dần ra mà che kín mặt cô.
Có người thì thào:
- Tây lai mà lễ khéo nhỉ!
Cô thong thả lễ, không rõ đã mấy lần rồi, khi toan cúi lưng lần nữa, thì có cái tay ghìm đầu cô lại. Cô hiểu là đã đủ bốn lễ. Cô đứng dậy, cúi vái ba vái, rồi lùi ra mép chiếu.
Cô toan xỏ chân vào đôi văn hài, thì cô phù dâu níu lại:
- Còn hợp cẩn đã.
Một ông cụ tháo dây thép chằng nút chai sâm banh, lấy ngón tay cái ấn cho cái nút ra dần. Có tiếng nhắc:
- Nghiêng nghiêng cái chai, kẻo rượu phụt ra hết nhé.
Lại có tiếng cười:
- Thời buổi văn minh có khác, hợp cẩn ở ngoài sân, lại bằng rượu sâm banh.
Tất cả mọi người hồi hộp nhìn cái nút chai. Bỗng một tiếng nổ bốp! Ai nấy nảy đánh thót. Riêng cô dâu, tuy không trông thấy, nhưng không giựt mình.
Hai cốc pha lê được rót gần đến miệng. Bọt ngầu ngầu tan dần, hạ thấp mặt rượu xuống. Ông cụ lại rót thêm cho đầy. Rượu vàng sóng sánh trong cốc, in vào thành pha lê những màu quần áo ở xung quanh.
Ông cụ cầm hai tay hai cốc, đưa một cốc cho chú rể, một cốc cho cô dâu.
Cô dâu đương lúng túng vướng cái quạt che mặt, thì cô phù dâu giật phắt lấy. Mặt cô bây giờ thành lộ thiên.
Cô suýt phì cười, vội vàng đưa mắt nhìn xuống, giơ hai tay cầm cốc rượu. Lại có cái tay ấn vào vai cô:
- Ngồi xuống.
Cô ngồi.
- Quay lại chú rể chứ!
Cô quay lại.
Cái tay dí mạnh vào đầu cô. Hai tay cầm cốc rượu, cô lạy chồng hai lạy. Chồng cô cầm rượu, vái trả cô một vái.
Có người nhắc:
- Đứng dậy.
Cô đứng lên.
- Mời rượu chú rể đi.
Cô giơ cốc bằng hai tay, đôi mắt vẫn gằm xuống chiếu. Chú rể đỡ lấy, rồi đưa cốc của mình cho cô.
- Uống đi.
Cô thong thả kề thành cốc vào môi. Mấy chục con mắt nhìn theo. Vì lễ hợp cẩn là quan trọng, cho nên cô dâu nào cũng bắt buộc phải nhấp một tí rượu, nhưng bị cay, cô nào cũng nhăn nhó, nhổ phì phì, trông đến buồn cười. Mọi người cũng chờ để cười đây. Nhưng cô dâu này uống, uống một hơi, cạn hết cốc sâm banh. Cô nhấp môi, đưa cốc cho cô phù dâu.
Người ta không được cười thì trố mắt nhìn nhau. Một tràng pháo nổ ran, reo mừng đôi trẻ thành vợ chồng.
Ông Tơ bà Nguyệt đã làm xong nhiệm vụ. Chàng và nàng đã trao cho nhau cốc rượu xe duyên, nguyện sống với nhau đến đầu bạc răng long. Bây giờ hai người mới lễ mừng tuổi cha mẹ.
Nhưng tuy là chỗ thế gia vọng tộc, đáng lẽ đám cưới cần phải theo nhiều nghi lễ phiền phức, song vì thấy nhà gái tinh giảm, miễn cho nhiều lệ, nên nhà trai cũng noi gương. Hai cụ Hàn là bố mẹ chồng, bởi vì anh Thừa tố lên thế, ngồi trên sập, cụ ông nói với con trai và con dâu bằng giọng dõng dạc:
- Thầy mẹ thì già, việc trăm năm của hai con, thầy mẹ để quyền cho hai con. Thầy mẹ chỉ biết mừng cho hai con thôi. Đáng lẽ theo con là người đã du học bên Tàu lâu năm, đám cưới phải làm đúng như tục lệ bên Tàu. Hợp cẩn xong, hôm nay các con lễ mừng tuổi thầy mẹ, rồi mai, vợ chồng về quê nhà, bái yết gia tiên ở từ đường, và ngày kia, sang nhạc gia làm lễ nhị hỉ. Thầy mẹ cũng nhận rằng thế mới hợp lý, bởi vì thế mới đúng trật tự. Sau đêm động phòng hoa chúc, thấy vợ là người trinh bạch, thì chồng mới về nhạc gia nhận cha mẹ vợ, nhận họ hàng, tổ tiên của vợ là của mình, nhưng vì cụ bên ấy là người giản dị, cụ đã miễn cho từ lễ chạm ngõ, cho đến lễ vấn danh, cụ cũng xin thôi cả lễ nhị hỉ, cho nên thầy mẹ rất phục cụ, tuy là đàn bà, nhưng thức thời, ở thời đại văn minh, thì theo tục lệ văn minh. Vì vậy, thầy mẹ bắt chước cụ, cũng miễn cho hai con không phải lạy. Thầy mẹ mong hai con thương yêu nhau, bách niên giai lão, con độc đẻ cháu đàn, nối dõi tông đường, ngày sau, đứa nào cũng khoa hoạn đều hiển đạt, làm rạng rỡ gia đình, nối nghiệp các cụ nhà ta. Thầy đã hèn không làm quan được, con lại ưa đường thực nghiệp cũng là tốt, nhưng đến đời các cháu, thì nhất định phải nối gót tổ tiên cho thầy mẹ vui lòng. Thầy mẹ nghèo, không có nhà của, ruộng nương cho hai con, chỉ gọi là có tí chút này, cho hai con để kỷ niệm ngày vui vẻ nhất đời của hai con.
Cụ ông nói xong, cụ bà há tròn miệng, nhón hai ngón tay lau vết quết trầu ở đầu mép, rồi đưa cho Ma-ri một cái hộp màu hồng. Cụ mở ra cho mọi người nom thấy. Có hai cái vòng vàng, bọc trong giấy bóng, một cái chạm, một cái trơn. Cụ hỏi:
- Mợ thích cái nào, mẹ đeo ngay cho.
Nhưng không chờ con trả lời, cụ lấy cái vòng chạm mở rộng ra, đeo vào cổ cho Ma-ri.
Cô dâu chắp hai tay, mắt nhìn xuống, miệng tủm tỉm. Cụ gật gật:
- Đẹp! Đẹp!
Rồi cụ mở một hộp nhỏ, lấy ra hai cái nhẫn trơn, vừa cười vừa nói:
- Đáng lẽ nhẫn ba-dê thì cậu tặng cho mợ, mợ tặng cho cậu mới đúng phép văn minh. Nhưng cậu ấy bắt thầy mẹ sắm để cho, thì thầy mẹ cũng chiều lòng. Nào, trước mặt thầy mẹ và hai họ, cậu đeo cho mợ, mợ đeo cho cậu đi!
Cụ đưa cho con trai một chiếc, con dâu một chiếc. Ma-ri nắm bàn tay lại, dựng ngón thứ tư lên để anh Thừa đeo nhẫn cho. Rồi hắn đeo nhẫn vào ngón tay của anh Thừa. Nhưng vì ngượng, hắn chỉ để hờ vào đến giữa đốt thứ hai thôi. Tiếng nói đùa:
- Phải một tay nắm ngón, một tay ấn nhẫn vào mới chặt.
Một nhịp cười rộ vang như để chế cô gái ngây thơ, chưa bao giờ biết da thịt người đàn ông vậy.
Cụ Hàn bà cũng cười để ái ngại cho con dâu đương thẹn:
- Nhà ta có phúc kén được nàng dâu hiền. Trông con bé hiền lành, trung hậu, giống cụ đốc như đúc.
Cụ gọi cụ đốc để chỉ người đẻ ra cô đốc, tức là mẹ Ma-ri, dâu gia của cụ.
Rồi quan viên hai họ chuyện trò với nhau rất vui vẻ, thân mật. Bên nhà trai có hai cụ hàn là bố mẹ chồng, thì bên nhà gái có cụ hậu là cô ruột cô dâu. Quan huyện chú của chàng, tiếp quan tham là cậu của nàng. Cô giáo Chính con bà dì chú rể ngồi cạnh cô đỡ Hoa Tâm gọi cô dâu là chị con bà bác. Cô Mai, em anh Thừa xoắn xuýt lấy cô Tuyết phù dâu. Tóm lại, họ nhà trai có vị danh giá thế nào, thì họ nhà gái cũng tố ngay một ngài danh giá không kém. Hai gia đình đăng đối, danh giá thật xứng đáng với danh giá của tiên sinh y sĩ Trung Hoa dân quốc và cô đốc.
Chừng bốn giờ rưỡi, họ nhà gái xin cáo lui. Cụ hậu thay mặt cụ đốc, khuyên bảo cháu bằng một vài câu luân lý. Cả hai cụ hàn và đôi vợ chồng mới cùng ra cửa tiễn khách.
Ba chiếc song mã còn chờ đó. Bốn người lên một xe, ngồi đối diện với nhau ở hai ghế. Ra đến đầu phố, chiếc ngược lên Hàng Đào, chiếc đi thẳng sang cầu Gỗ, chiếc quặt lại Hàng Gai. Bởi vì ba xe phải đổ khách về từng nhà, ở những phố khác nhau. Ví dụ chiếc thứ nhất qua rạp Quảng Lạc, cho cụ hậu xuống, rồi sang Chợ Gạo là chỗ ở của quan tham, đoạn lên Hàng Giấy, dừng ở nhà cô đỡ Hoa Tâm, mới quặt lên đầu Hàng Đậu, đỗ trước cửa nhà săm, cho cô Tuyết phù dâu về thay quần áo.
Xe thứ hai và thứ ba đại khái cũng thế.
Vào lúc sáu giờ, đèn phố bật, Ma-ri mới không phải ngồi hầu chuyện họ hàng nhà chồng. Hắn vào buồng, cởi khăn áo cô dâu ra, quấn tóc trần, mặc áo thường, bảo với anh Thừa:
- Em về đàng nhà một tí nhé.
- Mấy giờ em lại, ngộ khách ăn tới, em không trang điểm kịp?
- Kịp. Hai mươi phút thôi.
Nói đoạn, hắn đi liền.
Là vì hắn đã hẹn giờ để gặp gỡ những người đã đi đưa dâu, tại nhà hắn.
Hắn đến nhà, thì thấy những người ấy đã đủ mặt. Hắn khen khéo, móc ví trả mỗi người hai đồng. Riêng cụ đốc, hắn thưởng cho thêm đồng nữa là ba. Bọn nhà gái kè nhè xin thêm. Nhưng hắn không cho, nói nửa ngọt nửa xẵng:
- Có mất công khỉ gì, còn được đi song mã, được tiếp đãi như thật, sướng mê, còn muốn thêm nữa à?
Rồi hắn nói với cụ đốc:
- Hôm nay thì vui vẻ cả, nhưng tôi chỉ phàn nàn có một tí là bà cụ hàn lại gọi bà cụ tôi là cụ đốc.
Cụ đốc hỏi:
- Bẻ họe! Còn gọi là gì sang trọng hơn nữa?
- Trừ phi chồng không có chức tước gì mới phải gọi bằng chức tước của con chứ? Sao không gọi bà cụ tôi là cụ cố.
- Sao lại cụ cố?
- Tại ông cụ tôi là cố đạo.
Cụ đốc cười:
- Khỉ, thế cố đạo có vợ à?
Cô đốc nghĩ ra:
- Ừ nhỉ. Thế thì tôi không phàn nàn nữa.
Ma-ri sai cụ đốc đem ngay bốn con lợn quay trả cho hai hiệu cao lâu Đông Hưng Viên và Nhật Tân, cùng bốn buồng cau tươi trả cho nhà An Ký ở phố Hàng Gạo. Hắn dặn cẩn thận là những cửa hàng hoa, phải gượng nhẹ, còn tiền thuê thế nào, hắn với nhà hàng đã thỏa thuận với nhau rồi. Những quả phù trang rỗng không, rước đi đường ban nãy làm vì, thì hắn giao cho quan tham đưa lại hãng xe ngựa, bắt người chủ xem lại cho cẩn thận là không sứt lở tí sơn nào.
Vừa đúng hai mươi phút, hắn đã có mặt tại nhà phố Hàng Tiện. Ở đây, họ nhà trai cũng không còn ai ở lại.
Nhân lúc Ma-ri đi vắng, anh Thừa cũng vội vàng trang trải với những người mà anh thuê. Họ đòi thưởng thêm, nhất là hai vai cụ hàn, không chịu mỗi người chỉ được ba đồng. Hai cụ dọa nếu chú rể không nghe, thì đi mách họ nhà gái ngay lập tức. Anh Thừa không dám găng. Và anh muốn tống họ đi ngay, kẻo Ma-ri về biết thì lộ tẩy. Anh đành chịu họ bắt bí, cho thêm mỗi người hai hào, riêng hai cụ, mỗi cụ năm hào. Anh bực mình:
- Thế này thì bận sau bố ai dám mượn nữa!
* * *
Khách đến dự tiệc cưới chừng hơn ba chục người. Trái với bọn đi đám cưới, những người này là khách thật. Vì họ là bạn hữu của anh Thừa và Ma-ri.
Đàn bà mười người, ngồi hai mâm ở gian trong. Ma-ri tiếp họ. Đàn ông, quây quanh ba cái bàn dài bày theo hình chữ U ở gian giáp hè phố. Trên bậc hè, ngổn ngang độ hơn một chục kẻ ăn mày.
Khách đàn ông có nhiều hạng. Thầy lang có. Bệnh nhân có. Thầu khoán có. Buôn bán có. Ông tham, ông đốc có. Vô danh tiểu tốt, vô nghệ nghiệp, du thủ du thực cũng có.
Anh Thừa và Ma-ri giới thiệu khách với nhau. Toàn những tên lạ. Duy có mấy ông nhà báo, nhà văn là người ta đã thuộc tên, bây giờ mới biết mặt. Đó là ông Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, tác giả tập thơ Ngọn đèn khuya, bỉnh bút Đông Dương tạp chí và báo Đuốc nhà Nam; ông Hạc Thần Nguyễn Thượng Huyền, cử nhân, làm thơ và làm báo; ông Quán Chi Đào Trinh Nhất, viết văn nghị luận; ông Biền Xa Hoàng Tích Chu, trợ bút tạp chí Nam Phong; ông Kính Đài Nguyễn Thống, tác giả cuốn thơ Tấm lòng son, lấy tên đàn bà là Nguyễn Huệ Kiều; và ông Hoài Tân Tử, nhà thơ, nhà tiểu thuyết. Giới thiệu anh này, anh Thừa có nhã ý giấu tên cuốn Tình muôn thuở của ông.
Năm cô đầu rượu ở Hàng Giấy và ở Ấp, cô Nguyệt, cô Hoa, cô Trà, cô Phụng, cô Mai, được đón đến giúp vui. Chị Bích Ngô và chị Bốn là danh ca, thì hiến các quan giọng hát.
Có hơi rượu và hơi gái, chuyện nở như cơm gạo vàng. Đủ các thứ chuyện. Chuyện đứng đắn. Chuyện nhảm nhí. Chuyện làm ăn. Chuyện ăn chơi. Nịnh hót, tâng bốc nhau, xỏ xiên, dìm dập nhau. Vây vo, hợm hĩnh, huênh hoang, khụng khượng. Chuyện xuê nhất là ở chỗ mấy ông nhà văn, nhà báo mồm mép vốn lém lỉnh. Các nhà ngôn luận ngồi gần nhau, tiếng cười từ chỗ ấy tỏa ra hai bên. Không ai kịp nói xen vào một lời nào với các ngài. Và cũng không ai muốn nói. Họ nhường cho các ngài tán, để được cười cho hả rượu.
Nhà thơ kiêm nhà tiểu thuyết Hoài Tân Tử là cái đích làm cho chúng bạn mua vui. Không biết mấy ông bịa ra hay nói thực, mà các ông làm cho mọi người đau cả bụng.
Bỗng có tiếng ngâm:
- Mối sầu trung bối rối lung tung,
Bối rối lung tung gỡ giúp cùng
Gỡ giúp cùng nhau cho khỏi rối,
Cho nhau khỏi rối mối sầu trung.
Mọi người yên lặng nhìn. Thì ra ông Hoài Tân Tử đọc thơ. Ông Mân Châu ha hả cười, gọi:
- Chị Nguyệt, chị mời Hoài Tân Tử tiên sinh một chén, hãm bằng cái câu hôm nọ ấy nhé.
Cô Nguyệt mỉm cười lên giọng:
- Hôm xưa yên đổ một lần,
Mà anh phú quốc vô ngần thế nao!
Xin cạn chén đào.
Người hiểu chuyện phá lên cười. Ông Kính Đài giảng:
- Thưa các ngài, dân đi hát chúng tôi gọi chầu chay chi ba đồng là yên đổ, vì ba đồng là tam nguyên. Phú quốc nghĩa đen là giầu nước. Ông bạn tôi hát một chầu chay, nhưng sau nhân huynh đệ cứ lên gạ chuyện, trạc của nhân tỉ muội giầu nước mãi, cho nên chị Nguyệt hãm mừng thế đấy ạ.
Tất cả mọi người đều khanh khách. Ông Đào Trinh Nhất bảo:
- Đặt câu hãm mà phải dùng điển tích là kém. Phải hát câu khác.
Người cô đầu đằng hắng hai ba lượt, rồi cầm chén rượu, ngân nga:
- Có anh vừa đen vừa cao,
Ngất nga ngất nghểu tối nào cũng lên.
Xin tặng bạn hiền.
Tiếng cười lại như vỡ nhà.
Ông Hoài Tân Tử mặt đã đen, càng xám lại vì xấu hổ. Ông đứng lêu đêu dậy, đỡ lấy chén. Chị Nguyệt chỉ cao đến vai ông, dốc ập cốc rượu vào mồm ông cho tung tóe ra cả ngoài mép, rồi khẽ hỏi:
- Thế nào, anh vừa đen vừa cao còn thề nữa, hay vẫn ngất nga ngất nghểu tối nào cũng lên?
Ông Biền Xa vỗ đùi, át cả tiếng cười và lời nói xỏ ngọt của chị Nguyệt:
- À lại còn cái chuyện nhà thi sĩ của tôi hết tiền, cứ thề mãi là ai mà còn trông thấy mình lên Hàng Giấy nữa, thì mình thế nọ thế kia. Nhưng rút cuộc, ngài vẫn lên hát chịu.
Ông cử Huyền đứng dậy:
- Tôi nhờ chị Bích Ngô ngâm cho tôi bài thơ này mừng ông Hoài Tân Tử nhé. Trước hết tôi xin giảng hai chữ cho chị nghe đã. Chị ở Hàng Giấy. Tiếng Tây, giấy là pa-pi-ê. Chị muốn mua chịu hàng ở nhà quen, chị viết hai tiếng Bon pour có phải không?
- Vâng.
Ông Hạc Thần lên giọng:
- Nghe nói hôm qua lại mới thề,
Thề rằng chẳng đến pa-pi-ê,
Thế mà ông cứ Bông pua mãi,
Chui ống, ơ kìa, con cá trê!
Cả mấy chục người vỗ tay, reo lên ồn ào. Bỗng có tiếng ở ngoài cửa:
- Lạy các ông các bà, chả mấy khi có đám có xá, các ông các bà thí bỏ cho kẻ nghèo đồng cơm bát cháo!
Không muốn tiếng xin ăn xen lẫn với tiếng đọc thơ, anh Thừa sai người đuổi bọn hành khất đi, và đóng chặt cửa lại.
Ông Mân Châu ghi bài thơ đưa cho người đào hát. Tiếng phách dồn lách cách. Tiếng đàn thử dây từng tưng tứng. Trống chầu giục ba tiếng tông tông tông.
Ông Đào Trinh Nhất nhại tiếng phách, tiếng đàn và tiếng trống:
- Cô đầu gõ phách gọi kép: “Khách khách khách khách khách!”. Kép lên dây đàn hỏi: “Thằng nào đấy, thằng nào đấy?” Khách đập vào trống đáp: “Ông, ông, ông!”.
Lại hô hố một tràng cười.
Nghe hát, uống rượu. Ăn vã. Hút thuốc lá. Ai cũng cố nghĩ ra một chuyện để khoe là mình có duyên.
Ông Tham Bính đứng dậy, xoa hai tay vào nhau:
- Xin phép các tiên sinh văn sĩ cho tôi kể một câu chuyện cũng là đánh trống qua cửa nhà sấm thôi. Nghe được, thì các tiên sinh bỏ vào tai. Không nghe được, xin các tiên sinh kể như là tôi không nói.
Mọi người thấy lời giáo đầu ngộ nghĩnh thì mủm mỉm và lắng nghe.
- Thưa các ngài, ngày xưa, cái hương án có tám chân, con vịt có một chân, con chó có ba chân, và cô đầu… không có chân nào.
Ông nhìn các cô đầu, làm bộ sợ hãi, lè lưỡi, rồi nói:
- Xin lỗi các chị nhé!
Ông Kính Đài bóp vào đùi cô Trà:
- Nào xem có chân không nào!
Cô Trà kêu đánh oái. Ông tham tiếp tục:
- Thưa đấy là ngày xưa ạ. Một hôm, con vịt đi qua cái hương án. Thấy cái này có nhiều chân, vịt bèn xin một cái. Hương án cho nhưng nói: “Chân này là chân thờ, không được để nó uế tạp”. Thế là con vịt có thêm một chân nữa. Con vịt gặp con chó. Chó hỏi lấy chân ở đâu. Vịt mách đến hương án mà xin. Chó đến xin hương án. Hương án cho chó một chân, và cũng dặn là chân thờ không được để uế tạp. Đến lượt cô đầu gặp vịt và chó. Cô đầu hỏi, rồi cũng đến xin hương án cho hai chân. Hương án lại cho, lại cũng dặn như đã dặn vịt và chó.
Nói đến đây, ông tham ngừng một lát, hút xong hơi thuốc lào mới nói:
- Thế là từ đó, hương án còn bốn chân, nhưng vịt có hai chân, chó có bốn chân, và cô đầu có hai chân.
- Chuyện có thế thôi à?
Có tiếng hỏi như vậy. Ông Tham Bính lại hút xong hơi thuốc nữa, mới trả lời:
- Vâng, chuyện có thế thôi. Cho nên cũng từ đó, khi ngủ vịt sợ mất cái chân thờ, phải rụt nó lên, và khi đái sợ chân thờ bị bẩn, chó phải co một cẳng. Còn, thưa các ngài, khi cô đầu nằm với quan viên, các cô cũng phải dạng hai đùi ra cho chân thờ khỏi uế tạp!
Dứt lời, những tiếng phát đen đét vào lưng ông Tham:
- Phải gió cái anh này! Phải gió! Phải gió! Nhảm! Nhảm! Nhảm!
Cô đầu xúm lại đánh ông Tham đến năm phút. Và tiếng cười cũng ran lên đến năm phút.
Các bà ăn ở mâm trong, thấy nhà ngoài nhộn quá, thì ra cười góp. Nhưng từ lúc đó, không ai dám nhảm nhí nữa. Họ xoay ra chuyện đứng đắn.
Ông Nguyễn Mạnh Bổng có ý kiến tổ chức một thư xã, mua nhà in, xuất bản tùng thư. Ông Đào Trinh Nhất phàn nàn cái nạn khách trú nắm quyền kinh tế ở Nam kỳ, ông đề xuất vấn đề di dân Bắc kỳ vào Nam.
Ông Hoàng Tích Chu nói muốn sang Pháp nghiên cứu nghề làm báo để về nước thay đổi lại từ bộ mặt tờ nhật trình cho đến câu văn. Ông Nguyễn Thượng Huyền làm mặt ưu thời mẫn thế, nói muốn sang Quảng Đông học trường Võ bị Hoàng Phố. Ông Nguyễn Thống ngỏ ý lập mộ sở làm đơn, giúp quốc dân những việc kiện cáo. Riêng ông Hoài Tân Tử bàn về chuyện văn chương, ông định xin ra tờ báo, lấy tên là Văn chương An-nam, mục đích là yêu cầu nhà nước cấm tiệt các báo không được đăng mục Bình phẩm sách mới.
Chuyện đứng đắn dễ trở thành nhạt. Cho nên chưa đến mười giờ, khách khứa đã lục tục xin về.
Anh Thừa giữ năm cô đầu rượu ở lại để tiêm thuốc phiện hầu khách. Năm bàn đèn đặt trên năm cái phản ở hai gác. Ai muốn hưởng thú đi mây về gió thì cứ tự ý. Rồi mặc cho khách tự do với nhau, anh bấm Ma-ri, bảo về nhà bên phố Bờ Hồ để nghỉ kẻo mệt.