Em khổ với nó mấy tháng trời đấy, mình ạ. Mình chữa nó khỏi, thật là phúc cho em. Bệnh hoạn như thế, mà nó có tha em đâu. Sau em sợ lây, phải lấy mồm thay. Cực hơn nữa, là độ ấy lâu ngày không biết đàn ông, em đứng trên gác, trông thấy mình ở dưới ngon quá, em ghét lạ!
- Ghét thế nào?
- Tại sao mình chỉ trò chuyện với vợ mình?
Anh Thừa nhếch mép cười, để lộ chiếc răng vàng óng ánh:
- Em sếp phó ạ…
- Không, gọi tên của em cơ!
- Thế thì gọi là gì?
- Là em Ma-ri của mình!
Nói đoạn Ma-ri lắc tay anh Thừa, nũng nịu hỏi:
- Thế hôm nay mình có trò chuyện với em không, hay cũng như cái hôm nào ấy?
Muốn cho tiểu thuyết này khỏi đứt quãng từ chỗ anh Thừa chắp tay thưa bẩm với bà lớn sếp phó, đến chỗ anh say sưa “trò chuyện” với Ma-ri, ta nên quay ngược lại thời gian từ mấy tháng trước.
Tu-nô khỏi bệnh. Vài hôm sau, nó phải đưa một đoàn kỹ sư từ Pháp mới sang, vào Vinh nghiên cứu đoạn từ Vinh đến Đông Hà để đặt nốt quãng đường sắt cho liền Hà Nội - Đà Nẵng.
Được chủ đi vắng, anh Thừa lén nghỉ ở nhà. Anh nằm vắt tay lên trán, suy nghĩ đến đời anh. Anh như nhìn thấy trước mắt những bạn bồi bếp mới của anh, họ rủng rỉnh có tiền, thỉnh thoáng thết anh cốc xê-cấu. Anh nhớ lại thái độ và hành động của thằng Tây lai đối với anh. Không lẽ anh cứ làm cu-li kéo quạt suốt đời. Anh hối hận vì đã trót nói liều “thà thằng Tây nó chửi, nó đánh còn không nhục bằng An-nam nó nói một câu”. Bực với ông Thìn thì anh tưởng thế. Chứ bây giờ anh mới rõ. Kẻ làm cho anh nhục là thằng Tây nó phát lương cho anh. Cái làm cho anh nhục, là cái nghèo không có tiền, phải chịu hèn đi làm đầy tớ. Cha anh ở làng vì nghèo, nên hèn, anh cũng phải khổ vì bị nhục lây. Cha anh ước ao anh được sang giàu. Ở đời này, có ai dám khinh người giàu. Nhưng anh làm gì để giàu, cho kẻ khác trọng? Cha anh muốn anh dẹp giặc để lập công. Nhưng anh nhát, sợ chết. Thằng Tu-nô khuyên anh làm thuốc, vì nó tưởng anh biết thuốc. Nhưng sự thực anh có biết gì đâu?
Anh Thừa vùng ngồi dậy, lấy tấm bằng nhận chằng mở rộng ra trước mặt để ngắm. Anh đặt mồi thuốc lào vào điếu, châm lửa. Anh vừa hút, vừa chăm chắm nhìn ba chữ tên của anh. Anh nghĩ đến lời khuyên của người tự xưng là văn quan. Hắn nói đúng. Thời buổi này khó khăn thật. Anh không phải người ngu đần. Vậy anh có nên lợi dụng cái bằng vô giá trị này để xoay xở mà sống hay không?
Chợt ở buồng cạnh có tiếng hát véo von giọng sa mạc, làm anh đứt mối suy nghĩ.
Mấy lời moa xu-hết a-mua,
Xăng-tê thì cứ túa-dua phe-bồng.
Anh lắng tai. Rõ rằng là tiếng bà sếp phó:
Ác-dăng giàu cẩm Đờ-mông,
Hon-nơ mắm-xốt cái ông Bảy xồm.
Anh tủm tỉm cười một mình. Tiếng hát to hơn trước:
Đơ nu đơ phận phăm om,
Cu-xoong cái kiếp chồng Phăng-xe, vợ A-na-mít, xăng tăng tí ti vài tháng, mà ôm hận sầu![1]
Tiếng kim như rót vào tai. Anh Thừa sực nhớ đến hình ảnh người đầm lai trẻ này, trắng nõn, phây phây, đã một lần nhìn anh bằng con mắt dịu dàng, và cười với anh bằng cái miệng tươi tắn. Người ấy không xuống bếp bao giờ. Bây giờ chồng đi vắng, lại đến bên anh để hát, là có ý gì? Cô Bé Ty còn thế nữa là! Vậy có nên bắt lời không? Anh cố moi óc để nhớ cho đủ hai câu mà bây giờ anh quên biến đi mất. Hai câu ấy như hệ cảnh của anh và người ôm hận sầu, có bốn tiếng kín cổng cao tường. Giá mà anh nhớ hết, anh quyết hát trả lời. Nhưng anh nghĩ trái lại. Chẳng rõ là con mụ biết có người ở bên này, nên hát trêu, hay vì không biết có người nghe thấy, mà hát chơi một mình? Anh tưởng tượng đến bà chủ anh, lúc vào bàn giấy của chồng, qua mặt anh thì nhìn thẳng, đáp tiếng chào của anh, thì khẽ gật, và nếu có nói với anh, thì chỉ trống không. Anh vẫn trông trộm. Lần nào cũng vậy. Thôi, chớ có vuốt râu hùm mà oan gia! Anh bèn đằng hắng. Anh cho cách đánh tiếng bâng quơ này là khôn ngoan. Vì nó có hai ý nghĩa. Một là có tôi nghe đây, cứ hát đi. Hai là có tôi nghe đấy, đừng hát nữa.
Ai muốn hiểu thế nào, tùy ý.
- Anh Thừa có nhà đấy à?
Người đầm lại hỏi thế, rồi cười khanh khách một mình.
- Thưa vâng ạ.
Anh vừa nói xong, bỗng anh sửng sốt. Ma-ri đã hiện ra trước cửa buồng anh, thoang thoảng mùi nước hoa và mùi phấn thơm phưng phức.
Từ thuở bé, chưa bao giờ mắt anh được trông thấy một thứ tươi đẹp và khêu gợi như thế này. Không khác ảnh Mê-li-a một tí nào, mà lại là người thật! Tấm mình cá trê ấy mặc bộ đồ ngủ bằng nhiễu tây, đen nhánh. Áo may chét vào lườn, hở cổ, hở cánh tay, trắng nõn. Quần may chét vào mông, không hở chỗ nào, nhưng hình như chả chỗ nào là không hở. Tóc không búi, lòa xòa rũ xuống hai vai. Trông y như người vừa mới nằm dậy, hoặc sắp đi nằm.
Anh Thừa như lạc trí, không biết hai tay nên làm cái cử chỉ gì cho đúng việc của nó lúc này. Giá phải là Múi hay Châu trên Đồng Đăng nhỉ! Nhưng đây là bà vợ ông chủ. Anh luống cuống, cuốn cái bằng lại. Nhưng Ma-ri xông đến, giật lấy, mở ra xem.
- Cái gì thế này?
Anh toan giật lại, cho hai tay đụng chạm vào nhau, để tiến từ cái đụng chạm nhỏ và nhanh dần sang cái đụng chạm lớn và lâu hơn. Nhưng anh không dám.
- Thưa, cái bằng làm thuốc của tôi ạ.
Chưa dám tiến bằng cử chỉ, thì anh tiến bằng lời nói. Anh đã không dùng tiếng bẩm bà lớn và không xưng là con.
Lúc này, không phải lúc nên tự hạ. Biết đâu, cô đầm lai lại chẳng muốn nâng anh lên ngang hàng!
Ma-ri đứng yên mấy phút như để chờ đợi một cái gì. Anh cũng đứng yên để chờ đợi một dịp mà tiến. Ma-ri nhìn anh. Anh cũng nhìn Ma-ri. Tình trong như đã. Nhưng không ai khơi ngòi. Ma-ri mới hỏi thăm anh về gia đình. Thấy anh đáp là vợ anh về quê để đẻ, anh ở một mình, hắn cười:
- Thế thì buồn nhỉ!
Rồi hắn nói hết chuyện nọ đến chuyện kia. Anh cũng khoe những điều anh biết, để tỏ ra mình là thạo đời.
Sau hết, Ma-ri thở dài, chào anh, rồi đi ra. Nhưng đến cửa, bỗng hắn quay lại:
- À, anh Thừa! Tôi sực nhớ ra điều này. Phải thì anh nghe. Không phải thì anh bỏ ngoài tai nhé.
- Vâng.
Đôi mắt anh đắm đuối nhìn hắn.
- Chẳng giấu gì anh, tôi chơi một bát họ một nghìn. Mỗi tháng đóng bốn chục. Hôm nay là ngày nhà cái đến thu, nhưng hôm qua tôi quên khuấy đi mất, không bảo ông ấy để tiền ở nhà. Anh vừa mới có hai trăm, chắc chưa tiêu hết, anh cho tôi giật lửa bốn chục, vài hôm nữa ông ấy về, tôi sẽ trả anh, có được không?
Máu sĩ diện làm anh Thừa đáp nhanh nhẩu:
- Tưởng bao nhiêu, chứ bốn chục có là mấy. Bao giờ bà cho lại cũng được.
Anh mở hòm, đếm tiền.
Trong khi chờ, Ma-ri lại véo von khẽ:
- Đơ nu đơ phận phăm om.
Cu-xoong cái kiếp chồng Phăng-xe, vợ A-na-mít, xăng-tăng tí ti vài tháng mà ôm hận sầu.
Hát xong, hắn cười ngặt nghẽo. Rồi thêm:
- Vợ mê-tít[2] mới đúng, anh nhỉ!
Hắn nhắc đi nhắc lại:
- Mê-tít, mê-tít! Anh hiểu không?
Anh Thừa gật gật:
- Vâng, vâng tôi hiểu, tôi hiểu.
Nhưng hình như người đầm lai thấy anh chẳng hiểu gì cả. Hắn giơ tay:
- Thôi, cảm ơn anh nhé.
Anh nắm vào tay hắn. Nóng hôi hổi, hay mát rười rượi? Hắn cầm tay anh thật chặt, rung mấy cái, rồi buông ra, vừa tủm tỉm, vừa thong thả lắc đầu:
- Còn nhút nhát lắm!
Nói đoạn hắn đi.
Anh Thừa đứng một mình, bâng khuâng. Rõ rằng là người tiếc món ăn ngon kề đến tận miệng mà không biết ăn.
Một lúc, lại hồn, anh thở dài. Anh nằm sóng soài trên giường, ôn lại cái phút thần tiên vừa qua. Thật là đồng tiền của anh làm anh được hưởng cảnh sung sướng.
Bốn hôm sau, Tu-nô về. Anh Thừa lại đi làm việc. Đến gần cuối buổi, nó gọi anh, hất hàm hỏi:
- Thế nào, mày muốn lĩnh lương ba đồng hay sáu đồng?
Anh cười cười:
- Xin quan lớn sáu đồng.
- Được, sáu đồng, nhưng mà…
Nó im để nhìn anh, rồi cũng cười cười, nó nói nhỏ:
- Mày bảo vợ mày đến với tao.
Anh Thừa tức điên ruột. Anh không lẽ phép nữa:
- Tôi không làm thế.
Nó nhún vai, mắng:
- Dại như chó!
Anh im lặng. Nó cũng im lặng. Bỗng nó trừng trừng vào mặt anh:
- À, vợ mày về quê. Mày sống một mình ở đây. Thế thì mấy hôm tao đi vắng, thế nào mày cũng ngủ với vợ tao! Đồ khốn nạn!
Nói xong nó hầm hầm cầm cái thước kẻ cạnh đồng, vụt túi bụi vào mặt anh:
- Bước! Bước! Mày không được ở trong sở này một phút!
Anh Thừa vừa giơ hai tay ra đỡ đòn, vừa chạy. Nó đuổi theo anh đến tận hành lang, rồi vào, đóng sầm cửa lại.
Bị đòn oan, anh tức quá. Anh biết không thể làm với cái thằng có máu điên này mãi được. Phải bỏ việc thôi, về chỗ ở, anh dọn dẹp đồ đạc vào hòm. Anh nhớ đến món tiền con mụ vay anh. Phải lên gác để đòi. Nhưng suy đi tính lại, anh không dám đến với vợ nó, trong lúc vắng nó. Máu ghen nó lại nổi lên, thì nó bắn anh chứ không tha. Vả lại, dù là đòi nợ thì việc ấy cũng đủ làm tang chứng rằng anh đã gặp riêng vợ nó. Anh nghĩ lại. Không biết thật vợ nó vay anh, hay chính nó xui vợ nó làm thế, để rồi sinh sự đuổi anh, quỵt nợ. Anh muốn sự thực là nó lừa anh, để được đổ cho nó là thằng ăn cắp. Nó bảo anh là ăn cắp. Nhưng chính nó mới là thằng ăn cắp. Đã vậy, anh không thèm đòi nợ, để khắc sâu vào trong lòng, tin rằng lũ Tây là đồ ăn cắp.
Ngay tối hôm đó, anh khênh hòm, rời khỏi bếp nhà thằng Tu-nô.
Anh không thèm cầu cứu dì anh. Anh biết những hạng làm đĩ với Tây chỉ bẻo lẻo cái mồm, chứ không giúp đáp được gì. Nói với chúng, chỉ tổ phí lời, còn làm cho chúng lên mặt được.
* * *
Muốn giữ kín tiếng bị đuổi, anh Thừa vẫn ở lại Hà Nội đến trọ ở một quán cơm trước cửa ga, tên là Đông Phương khách sạn. Vì thấy nhà Đông Phương ế hàng, anh mặc cả với chủ là nếu anh giới thiệu được khách, thì chủ trả cho anh mười phần trăm hoa hồng. Việc này kiếm ăn được. Vì tất cả các chuyến xe lửa từ Na Sầm, Lao Cai, Hải Phòng, Vinh tới ga, hoặc các chuyến tàu thủy từ Tuyên Quang, Chợ Bờ, Nam Định, Hải Phòng… tới bến, anh đều có mặt và mời được người đến đây để trọ.
Cũng vì làm nghề chào khách cho hàng cơm, mà một hôm anh gặp Múi trên chuyến xe lửa Na Sầm về. Anh không thể tránh mặt người mà anh muốn phụ. Trái lại, Múi rất mừng rỡ, nói rằng định xuôi tìm anh, đương chưa biết hỏi thăm thế nào, thì trời dun dủi anh đi đón.
Anh đưa Múi về Đông Phương, nói dối chủ nhà là vợ. Múi kể rằng bây giờ bụng to rồi, mà ở Đồng Đăng dư luận xôn xao đã đến tai ông bà đội. Cha mẹ Múi dỗ dành Múi xem Múi đã trót dại với ai. Múi phải thú thật, ông bà mới cho Múi xuống Hà Nội tìm anh, để khuyên anh nên cưới xin tử tế, che mắt thế gian. Không những ông bà cho không người, mà tốn kém bao nhiêu tiền, nếu anh không lo nổi, ông bà cũng cho hết.
Anh Thừa rất khó nghĩ. Anh chưa biết nói với Múi thế nào cho ổn thỏa. Vợ anh mới đẻ con trai. Chắc ít lâu nữa, chị sẽ bế con ra ở với anh. Nếu anh lấy Múi nữa, thì tất là không thể được. Đành rằng anh không phải nuôi Múi, mà chắc chắn là Múi có của, còn bù đắp cho anh nhiều, nhưng mà…
- Được, mợ đừng lo.
Múi lau nước mắt:
- Sao cậu lại bảo em đừng lo. Em không lo sao được? Cậu ở Đồng Đăng đổi về Hà Nội, cậu có chào hỏi, dặn dò em một nửa lời nào không? Rõ rằng là cậu trốn em. Rồi từ ngày ấy đến giờ, cậu có thư từ giấy má lên hỏi thăm em sống chết thế nào không? Bây giờ em bàn với cậu tính toán cho em, cậu nghe thầy mẹ em làm cái cách giữ cho vuông tròn tiếng tăm, thì cậu im, mãi mới nói: “Được, mợ đừng lo”. Đấy, xem thế, thì cậu bảo em không lo sao được. Nếu thật cậu định bụng bỏ em, thì em nhờ cậu kiếm cho em một chỗ ở Hà Nội. Để tạm lánh Đồng Đăng, cho đến ngày đẻ xong, em sẽ liệu. Chứ em không có chồng mà chửa hoang, ai chịu cái nhục ấy cho em?
Múi lại rưng rức khóc.
Anh Thừa để tay lên vai Múi, an ủi:
- Đàn ông chúng anh không hay nói ra miệng, nhưng nghĩ trong óc thì nhiều, ông bà có lòng tốt như thế, thế nào anh chả xin vâng. Sở dĩ anh chưa nói gì, vì anh còn đương tính toán xem đôi ta làm cách nào để hưởng cho hoàn toàn hạnh phúc. Mợ hiểu chưa? Còn cái việc trước kia, sở dĩ anh đổi về Hà Nội mà không cho mợ biết, là không phải lỗi ở anh. Dù sao thì anh cũng đã có vợ. Còn mợ thì còn cha mẹ. Vợ anh nó cấm anh đến với mợ, ông bà cũng ngăn không cho anh gặp mợ. Vị chi anh như con chạch bỏ giỏ cua, mang tiếng oan là thằng trai sở khanh mà không than thở với ai được.
Múi sụt sịt, không đáp. Anh Thừa tiếp:
- Thôi, em đừng khóc mãi. Cứ tin anh. Một lời anh đã hứa là bất di bất dịch. Anh hứa là chúng ta sẽ gây hạnh phúc cho nhau. Mai mợ về nhà nói với ông bà là đã gặp anh và bàn bạc xong công việc rồi. Mợ xin ông bà giúp anh lo cưới, và cho chút ít để mợ làm vốn. Cái đó tùy bụng ông bà, thương con nhiều thì con được nhiều, và giữ được tiếng với thế gian, mà thương con ít, anh cũng không dám oán thán.
- Nhưng cưới xong cậu định cho em ở đâu?
- Đã là vợ chồng thì ở với nhau một nhà, chứ ở đâu. Còn con mụ mặt sắt đến xương, anh sẽ bắt nó ở nhà quê nuôi con.
- Nhưng liệu nó có chịu không?
- Mợ tin ở tài anh.
Múi vẫn nói giọng đay nghiến:
- Phải, em tin tài cậu, tán cứ ngọt xót, cho nên em mới nhỡ nhàng thế này. Em chỉ sợ cậu lạy van nó không nổi, lại làm em nhỡ nhàng thêm.
Anh Thừa cương quyết:
- Đối với nó, bảo tử tế mà không chuyển, thì đã có roi vọt. Hẳn mợ đã biết là vì mợ, nó bị bao nhiêu trận đòn nên thân rồi.
Múi cười, âu yếm nhìn anh.
* * *
Do cái nghề kiếm ăn bằng quảng cáo, anh Thừa biết thêm được một nghề mới nữa, hợp với khả năng của anh hơn. Đó là nghề diễn thuyết để bán thuốc. Trước giờ một chuyến xe lửa chuyển bánh, trước giờ một chuyến tàu thủy nhổ neo, trong khi xe điện đợi nhau ở chỗ đường tránh, hoặc lợi dụng chỗ đông người, như trong chợ, trước cửa rạp hát, rạp chiếu bóng, người bán hàng chỉ việc đọc thuộc lòng bài quảng cáo, đọc cho rõ rằng, dõng dạc, trơn tru, thế là bán nổi một ít thuốc. Anh Thừa làm thêm nghề này. Anh đắt hàng hơn bạn đồng nghiệp, vì anh khôn ngoan. Anh biết nhấn mạnh lời, khi kể đến những biến chứng của bệnh, khiến người nghe phải chú ý, và biết bịa thêm công hiệu của thứ thuốc mà anh bán. Trong bài quảng cáo, hiệu thuốc đã hoàn tán vào đó nhiều chất nói phét. Nhưng anh cho là chưa đủ liều. Anh đã rút được nhiều kinh nghiệm trong nghề. Khi diễn thuyết, anh để ý nhìn mọi người. Ai nghe hờ hững thì anh mặc. Nhưng ai mà nhìn anh, anh biết là người ấy lắng tai. Hẳn người ấy có bệnh, hoặc quen người có bệnh mà anh đương quảng cáo thuốc. Thế là anh chỉ quay lại nói với những người ấy. Trong lúc này, anh còn tùy nét mặt của họ mà tăng vào lời thêm nhiều chất dọa dẫm để khủng bố và thêm nhiều chất nói phét để làm họ ngã lòng.
* * *
Một lần anh Thừa bị sốt rét ba hôm liền. Anh đã thử uống mấy thứ thuốc mà anh vẫn quảng cáo là công hiệu. Nhưng chẳng ăn thua gì. Thế là đã tiêu hết lãi, anh lại ăn vào vốn. Bữa chiều qua anh chưa trả ông chủ tiền cơm. Bữa sáng nay, tất ông không cho chịu. Bây giờ nhóc nhách được, anh phải đi bán thuốc để kiếm tiền ngay. Nhưng từ sáng đến giờ, anh bị ế hàng. Anh lo quá. Không còn một xu dính túi! Đành phải nhịn đói mất! Anh lang thang đi. Thì tình cờ, đến đầu phố Hàng Khay, anh gặp một người làng anh, tên là Xi, đang lững thững dắt một cái xe cao su nhà. Anh Thừa và anh Xi vốn là đôi bạn thân và cùng một cảnh gia đình, nên gặp nhau thì mừng lắm. Hai người rủ nhau đến ngồi trên chiếc ghế đá, trước cửa hiệu Gô-đa, kể thật công việc làm ăn của mình cho nhau nghe. Anh Xi nói:
- Tớ trốn đi chào mào, cho nên tớ ra đây, kéo xe cho cái Ĩnh con, cơm nuôi, một năm hai bộ quần áo.
Anh Thừa cau mặt:
- Tội đếch gì mà đi ở không công, để nó tưởng mình đói, nó khinh cho. Đằng ấy khỏe, nên kiếm việc khác mà làm.
Anh Xi cười:
- Nếu không có lợi khác thì tớ không làm đâu. Nói về việc kéo nó, thì mỗi ngày tớ chỉ mất độ một giờ, đi thong thả ở các phố tây. Tớ hiểu là nó đi rấm sẵn nhân tình để phòng khi chồng nó bỏ. Còn cả ngày, tớ chỉ chơi. Vì nó giao cho tớ phải giữ xe cẩn thận, cho nên tớ bảo nó để tớ mang xe về nhà tớ trọ. Thế là tớ tự do làm chủ cái xe này. Ngoài giờ phải kéo nó, tớ cho thuê. Ai thuê xe không, hay thuê cả tớ kéo, tớ cũng đi.
Anh Thừa trố mắt nhìn bạn:
- Xe nhà cũng có người thuê?
- Vô khối. Này, muốn sang trọng, khi đám cưới, cô dâu phải ngồi xe nhà nhé. Đám ma, ông sư phải ngồi xe nhà nhé. Vả lại, ở Hà Nội còn vô số thằng muốn lòe ta giàu, ta sang, có xe nhà đây. Thì nó thuê của tớ. Chẳng ngày nào tớ không có khách. Tớ phát tài rồi, cho nên chả nghĩ đến đòi công.
Nhìn thấy khách qua lại tấp nập, Việt Nam, Hoa Kiều, Tây, đầm, người nào cũng ăn mặc sang trọng, có người đỗ ô tô ở đầu phố, để đi bộ vào các cửa hiệu sắm hàng. Anh Thừa trỏ tay, nói với anh Xi:
- Trông ngứa mắt chưa! Ở nhà quê có cái ngứa mắt ở nhà quê, ở tỉnh có cái ngứa mắt ở tỉnh. Thằng nghèo như chúng mình, ở đâu cũng khổ, chịu bắt nạt đủ cách.
Anh Xi tặc lưỡi:
- Chà! Chỉ hào nhoáng bề ngoài chứ túi rỗng tuếch đấy. Tớ biết hết. Con Ĩnh con cũng vậy, lắm tối thua bạc, tớ biết là hết cả tiền, thế mà hôm sau đi diện phố, vẫn õng ẹo cái ví bẹp cắp ở nách.
- Hà Nội vẫn tin cái hào nhoáng bề ngoài. Ngay như tớ, tớ cũng phải bóp bụng mà sắm quần áo, để lúc cần thì thắng bộ vào, trông ra phết công tử. Chẳng thằng chó nào dám khinh.
Anh Xi cười. Một lát, anh Thừa hỏi:
- Nó đánh bạc?
- Phải, cái giống ấy, vô công rồi nghề, nên hay làm hai việc. Một là đánh chắn. Hai là đi lễ. Thỉnh thoảng, thằng Phi-lô-mát đi vắng xa, con Ĩnh con lại vào sòng, định ăn to kia.
- Hà Nội cũng có sòng?
Anh Xi gật đầu:
- Thiếu giống! Có một lần, tớ theo nó vào để xem.
- Xem chứ không đánh à?
Anh Xi lắc đầu:
- Chịu! Mình quê mùa, dúng vào đó mà mê thì chết! Nhưng ngất lên về của, đằng ấy ạ. Trên chiếu, trắng xóa những bạc. Đứng nhìn, có lúc mình ngứa ngáy, giá không kiên gan, không chịu được.
Anh Thừa cười:
- Tớ cũng máu mê. Nghe đằng ấy nói, tớ cũng ngứa ngáy rồi. Chỉ còn có cách đánh bạc, mới kiếm nhanh được nhiều tiền. Lúc nào đằng ấy đưa đằng này đi nhé.
Anh Xi lắc đầu:
- Đằng này không biết hiệu gọi cửa. Phải gọi đúng thì sòng mới mở cho vào. Để lần nào tớ kéo cái Ĩnh con đi sòng, tớ mấy cho đằng ấy theo.
Anh Thừa thở dài:
- Ước ao vậy, chứ đằng này làm gì có tiền.
Anh than thở với anh Xi, nói thật tình cảnh hiện tại, vừa mới ốm khỏi, còn yếu, mà vẫn phải đi bán hàng, nhưng mà có thể phải nhịn đói sáng nay. Anh Xi thương hại, nhanh nhẩu móc túi lấy ra vừa xu, vừa chinh, đếm vừa đủ hai hào:
- Không may cho đằng ấy, tớ vừa gửi tiền về nhà hôm qua. Còn có ngần này để diêm thuốc, đằng ấy cầm lấy mà tiêu, rồi về nhà mà nghỉ, kẻo ốm nữa thì khốn.
Anh Thừa cảm động.
- Đằng ấy ăn bằng gì?
- Kệ tớ. Tớ còn gạo. Ngày kia tớ lại có độ dăm hào. Đằng ấy có cần, tớ giúp.
Anh Thừa mỉm cười như mếu, tay run run, bỏ món tiền vào túi.
* * *
Múi về Hà Nội, cô đánh dây thép trước cho anh Thừa biết. Đúng giờ xe lửa đến, anh Thừa diện quần áo tây, ra đón ở ga.
Hôm ấy, Múi chít khăn nhưng màu nâu, kiểu vành dây, chải tóc rất công phu. Món ở đường ngôi tụt xuống nửa trán, che lấp thái dương và tai. Món ở gáy, xòe ra như lưỡi trai. Trong lần áo sa tây mỏng, óng ánh màu hoa lý của cái áo dài lụa. Trong lần áo dài lụa hoa lý, có bóng ra hai giọt thắt lưng hoa đào, thõng xuống gần đến gấu áo. Dưới hai ống quần lĩnh, tuy buông chùng đến gót, nhưng vẫn hở đôi chân đi bít tất trắng, và đôi mũi giày dát cườm.
Múi đưa va li cho anh Thừa xách, và tuy mặt trời đã lặn, Múi cũng lấy kính đen ra để đeo, và giương ô lục soạn cánh trả ra để che.
Hai anh chị mới tập ăn mặc, đi song song với nhau, trông như đôi uyên ương bằng gỗ.
Anh Thừa không dẫn Múi đến nhà trọ Đông Phương như lần trước. Ở đấy, chỗ ăn chỗ nằm luộm thuộm lắm. Bây giờ anh có tiền, và chắc Múi cũng nhiều tiền, nên anh thuê buồng nhà săm Đồng Lợi, ở phố Hàng Lọng. Buồng số tám, trên gác, rất xinh, cửa mở ra phố, có cây cao, lá um tùm, thẳng vút.
Múi ngắm cái giường lò xo trải đệm trắng muốt, ngắm cái tủ có chiếc gương to soi rất thật mặt, thì vui thích lắm. Muốn Múi tận hưởng cảnh sung sướng của Hà thành hoa lệ, anh Thừa bắt đầu bằng việc đưa tình nhân lên Bách thú, về nhà Gô-đa, rồi đến Hàng Buồm, ăn ở hiệu cao lâu Đông Hưng viên. Qua Hàng Bông, anh không quên bảo Múi vào hiệu Mỹ Chương, chụp tấm ảnh làm kỷ niệm.
Trong giờ phút được nếm những vị ngon lành, Múi không giấu giếm người mà trước kia Múi cho là bạc tình. Múi khoe rằng bố chỉ cho một trăm, nhưng mẹ thấy ít, thương con, giúi cho trăm nữa. Song, Múi vẫn chưa vừa lòng. Nhân lúc bố mẹ ngủ say, Múi lẻn vào buồng, cạy hòm, lấy thêm được một trăm bạc. Cộng với hai trăm vốn riêng, thế là Múi có tất cả năm trăm. Múi muốn sắm giường lò xo, tủ gương, như của săm Đồng Lợi, bàn đá xoay, ghế gụ, như của hiệu Đông Hưng viên. Múi toan đưa tiền cho người yêu đi đặt mua ngay, nhưng hiện giờ không đem theo, vì món tiền ấy cất trong vali, để lại ở buồng nhà săm. Thừa trợn mắt:
- Chết! Bản mệnh đấy. Đi đâu phải giắt trong mình. Để ở nơi tứ chiếng, lỡ mất, không bắt đền ai được.
Vì vậy, hai người ăn xong, phải vội vàng về ngay nhà săm, Múi kiểm lại đồ đạc, tiền nong. Không suy suyển gì. Anh Thừa muốn Múi được dự cuộc vui buổi tối:
- Mợ xem tuồng, xem chèo, hay xem chiếu bóng, để anh đi lấy vé trước?
Múi thích quá:
- Gì cũng xem một lần cho biết. Phải lấy vé trước kia à?
- Không thì hết vé. Mợ xem tuồng nhé.
Múi gật. Anh Thừa chải lại tóc:
- Anh đi một mình. Anh về ngay. Mợ có mệt thì nằm nghỉ. Tối nay còn phải thức nhiều đấy nhé. Giao hẹn trước thế!
Múi liếc anh, rồi khẽ tát vào má:
- Khỉ.
Múi cởi áo, lên giường, ngả lưng xuống, dún dún mấy cái, để xem lò xo bập bềnh.
Anh Thừa đứng trước gương, đương thắt ca vát. Bỗng Múi hỏi:
- Cậu đi có lâu không? Em sợ ở đây một mình thì buồn, lỡ thiu thiu ngủ, rồi kẻ gian vào, nó lấy trộm hết. Hay là cậu giữ tiền nhé. Nhân tiện cậu qua các hàng, xem ở đâu bán giường, tủ, bàn ghế đẹp, thì đặt mua. Rồi còn phải sắm từ cái chổi, cái rế, cái đanh, nhiều thứ lắm, cậu ạ.
Múi mò va li, lấy cuộn giấy bạc đưa cho chồng sắp cưới, thỏ thẻ nói:
- Của em là của cậu, của cậu là của em. Tiền này là của đôi ta.
Anh Thừa cảm động, kề môi vào má Múi, hít hít một hơi dài. Múi sung sướng, ngực phồng lên rồi dẹp dần xuống.
Anh Thừa đến rạp Thắng Ý ở Hàng Quạt, lấy hai cái vé hạng nhất, rồi sang Hàng Đàn, xem đồ gỗ.
Về đến đầu phố Hàng Lọng, chọt anh gặp anh Xi. Anh Xi đặt xe bên đường, đứng sát vào tai bạn, nói nhỏ:
- Thằng Phi-lô-mát đi vắng tối nay, cái Ĩnh con đến sòng, đằng ấy có muốn làm giàu thì theo tớ.
Đèn phố bật sáng. Mắt anh Thừa cũng sáng ngời. Nhưng trong khoảnh khắc, anh lờ đờ nhìn xuống, cắn môi. Anh Xi hỏi:
- Nghĩ gì? Không đi à? Tớ vội đến đón cái Ĩnh con đây. Đằng ấy có đi thì cứ đợi trước ở đầu Ngõ Gạch.
Anh Thừa lững thững về phía nhà săm. Đến nơi, anh ngước nhìn lên gác, chỗ cánh cửa chớp buồng số tám. Bỗng anh tặc lưỡi một cái. Anh đã quyết định, anh thuê xe đến Ngõ Gạch. Đánh một lát thôi. Anh có về muộn thì tối mai đi xem hát cũng được.
Anh chờ ở đầu phố một lúc thì gặp dì anh. Người vợ Tây thấy anh ăn mặc sang trọng thì ngạc nhiên. Hắn hỏi thăm anh bây giờ làm ở đâu, lương bao nhiêu. Anh giấu chuyện bán thuốc, nói khoác là làm thuốc. Anh xin hắn cho theo vào sòng. Hắn bằng lòng.
Sòng bạc lúc ấy chưa đông. Người chủ mời các khách ngồi chơi. Anh muốn uống cà phê, chè đường, rượu bia, hay nước chanh, tùy ý mà gọi. Vợ Phi-lô-mát làm ra thạo, giảng cho anh:
- Cứ uống tự do, không mất tiền đâu.
Rồi hắn nói chuyện với người chủ sòng.
Anh Thừa lặng im, vừa ngắm xung quanh, vừa uống, vừa nghe, và vừa nghĩ đến Múi.
Vợ Phi-lô-mát nói:
- Nghe đâu độ này họ rình sòng ông cả Vệ dữ lắm, cho nên ít người dám đến.
Người chủ đáp:
- Chà! Rình để làm tiền. Có tiền là yên hết.
- Không, sao bảo lão chánh mật thám này nghiêm, nó ghét đánh bạc lắm mà?
- Nó ghét đánh bạc thật, nhưng nó có đi bắt bạc đâu. Nó sai người khác. Người nào trong Sở mật thám không là người đã được chúng tôi đấm mõm?
- Tôi nghe nói độ này ngày nào báo cũng đăng tin. Một xâu dài.
- Xâu ở đâu, chứ xâu nào ở nhà này ra. Đấy là những sòng làm ăn không cẩn thận, canh phòng hớ hênh, cứ mở cửa bừa cho khách không quen cũng vào, mà còn không cho tụi họ ăn, thì tránh sao khỏi bị bắt. Chơi ở sòng này, được chắc chắn nhất. Chúng tôi có tay trong cả trên Thống sứ.
Vợ Phi-lô-mát gật gật để chứng thực lời nói của người chủ sòng. Nhưng nghe người ấy, anh Thừa sực nhớ đến lúc anh đi bán thuốc rong. Người chủ sòng tiếp:
- Lão chánh mật thám này nghiêm thật. Bà nói đúng. Lão ấy muốn trị sòng bạc, nhưng chúng tôi có cách đối lại.
Người vợ Tây tròn mắt:
- Đối lại?
- Vâng. Chúng tôi đẩy lão ấy đi. Và muốn cho lão ấy thứ về việc phải đi này, chúng tôi đã góp nhau, bỏ tiền ra vận động cho lão ấy thăng chức Sở mật thám Bắc Kỳ. Lão Mát-xa-ma thay lão ấy ở Hà Nội. Mát-xa-ma thì tốt lắm. Rồi sòng bạc, tiệm hút, nhà thổ lậu tha hồ mọc lên như nấm. Các ông các bà đọc báo mà xem, chỉ trong tuần lễ này, thế nào cũng đăng việc thay đổi những tay chóp bu Sở mật thám ở mục Đại hiến thuyên chuyển.
Tất cả các con bạc nhận được tin hay thì ồn ào khen người chủ sòng, và mừng cho nhau.
Độ mười lăm phút sau, khách đến đã đông. Tiếng bốn đồng tiền giấy xóc trong bát bắt đầu rung rền lên ba cái thái bình. Khách quen, tìm chỗ cũ để ngồi.
Anh Thừa bỡ ngỡ, đứng bên cạnh người cái.
Anh Thừa nghe từng tiếng bạc. Anh rút những bài học cũ trong sòng trên Đồng Đăng. Lần này, anh cẩn thận hơn. Tuy trong túi anh có vốn trường thật, nhưng nó là hạnh phúc một đời của Múi. Vì vậy anh theo nhà đỏ và khi dò đích xác tiếng nào chẵn, tiếng nào lẻ, anh mới dám đánh. Qua sáu tiếng, anh được một trăm.
Anh muốn ăn non, đi về, kẻo Múi đợi. Nhưng lệ bảo mật không cho ai được ra khỏi sòng giữa chừng. Đó là một kế để không cho ai mang nổi tiền được về nhà. Và cũng để bắt kẻ máu mê còn vốn liếng trong túi bao nhiêu, phải dốc ra cho nhẵn nhụi. Nhưng anh Thừa nhất định gan. Anh ngồi xem thôi, không đánh nữa. Có những tiếng bạc, nhà cái bán hàng nghìn, anh đoán mười mươi là mà ra thế nào cũng ăn. Nhưng anh không đánh. Và đúng như thế thật. Anh mê mải theo dõi chiếu bạc. Đã có người kêu mất một bè gỗ. Đã có người kêu mất nửa cái nhà phố Hàng Đào.
Mà sòng bạc chỉ cốt lấy hồ, cho nên bao giờ một tiếng bạc, nhà cái cũng tính bên chẵn bên lẻ cân nhau, để lấy tiền bên thua giam cho bên được. Nếu lẻ hoặc chẵn nặng hơn nhau bao nhiêu, thì bán bớt đi. Ai muốn đắt, nghĩa là muốn mua, có tiền chồng kiến tại, thì mở bát.
Bỗng có tiếng nói:
- Bà đầm u-ve, moa măng-đê đít biết[3].
Anh Thừa ngẩng lên nhìn xem bà đầm nào mà biết đánh xóc đĩa. Trước anh còn ngợ. Sau, nhìn kỹ, anh nhận ra đích xác: bà lớn sếp phó của anh. Con mẹ Tu-nô! Vợ Tu-nô dang rộng hai cánh tay, ra vẻ thất vọng, lắc đầu, trả lời:
- Nông. Pec-đuy tú, phi-ní tú[4].
“Mày không quỵt nổi của ông bốn chục nữa”. Anh nghĩ thế. Anh đứng dậy, đến gần hắn và chào hắn. Không phải anh cần lễ phép với bà chủ cũ, nhưng anh chỉ cốt báo cho hắn biết tin là hắn không thoát được việc trả nợ anh.
Ma-ri nhận ra anh. Hắn mỉm cười giơ tay ra bắt. Hơi hắn truyền vào người anh. Anh như bị thôi miên. Thế là anh hết cả giận. “Nó không có lỗi, chồng nó mới có tội”. Nghĩ vậy, anh thấy được nhẹ nhõm. Mặt đỏ nhừ, Ma-ri hỏi thăm anh công việc làm ăn, rồi lắc đầu:
- Thua mãi. Anh thế nào?
Được dịp sĩ diện, anh khoe anh làm thuốc, rồi móc túi lấy cuộn giấy sáu trăm bạc ra cho Ma-ri nhìn. Ma-ri gật gật, như mừng cho anh.
Ma-ri đánh cò con ba tiếng nữa, cũng đều thua liền. Luôn luôn hắn lấy mùi soa vỗ vào trán, vào mũi, vào má. Mặt hắn chín tím. Hắn đánh tiếng thứ tư. Cũng lại thua. Bỗng hắn quay ngoắt về phía anh:
- Ra đây tôi bảo.
Ma-ri đưa anh đến chỗ uống nước, gọi lấy cà phê.
Hai người ngồi đối diện nhau. Ma-ri yên lặng cho tĩnh trí một lúc, rồi móc ví, lấy hai tờ giấy hai chục, mỉm cười, đưa anh:
- Đây là tiền của anh. Tôi đánh nữa thì thua hết. Hôm nọ tôi thử bụng anh, chứ tôi có đóng họ đâu mà vay. Đáng lẽ tôi đưa lại anh ngay, nhưng xuống nhà tìm, thì anh đã dọn đi từ bao giờ. Tôi phàn nàn một mình mãi. Tu-nô nó ác với anh quá!
Bây giờ anh Thừa mạnh dạn rồi. Anh phải tấn công. Đôi mắt tít lên, anh hỏi:
- Bà thử tôi để làm gì?
Ma-ri hất hàm, hỏi lại:
- Anh không nghĩ ra à?
Anh thò tay định vớ lấy tay Ma-ri để bóp, bỗng nghe tiếng huỳnh huỵch chân người. Sòng xóc đĩa bị mật thám đột nhập vào bắt. Con bạc chạy tán loạn.
Anh Thừa hốt hoảng, vội vàng cũng chạy. Anh thấy người nhảy qua tường chuồng xí, người trèo lên mái nhà, người nấp vào xó cửa, sau mắc áo. Đương luống cuống, thì anh nhìn thấy ở gần đấy, có cái giường. Anh nhảy tót lên nằm, tung chăn ra đắp, gọn thon lỏn, ngáy như người đương ngủ say. Trống ngực anh đánh thình thịch.
Bỗng có bàn tay lật chăn anh ra, khẽ lay vai anh. Anh mở mắt và nói ú ớ. Một thằng mật thám cúi xuống anh, nói bằng giọng đùa cợt:
- Này, sốt đấy à, sao lại đắp chăn? Bận sau có ngủ thì nhớ cởi giày ra nhé!
Chợt anh nghĩ ra là chân anh còn đôi giày tây. Anh không thể cãi là oan. Thằng mật thám rút túi lấy cái xích, bắt anh giơ chụm hai tay lại.
Nhưng Ma-ri nhanh nhẹn chạy đến. Anh ngạc nhiên quá. Hắn không bị bắt?
Người đầm lai nghiêm nét mặt, trỏ vào anh, bảo với người đương xích bằng tiếng Pháp:
- Đây là ông An-be, dân Tây. Tôi biết. Anh ta ở tôi. Đừng bắt ông ấy. Tôi bảo đảm.
Lập tức anh Thừa được buông ra. Anh thở đánh phào, hớt hải nói:
- Cảm ơn bà. Tôi về. Chào bà.
Ma-ri bưng miệng cười ngặt nghẽo, nói khẽ:
- Khoan! Chờ tôi. Tôi còn cứu dì anh. Đấy, anh thấy chưa? Là đầm có lợi không? Quen đầm có lợi không?
Nói đoạn, Ma-ri thoăn thoắt vào nhà trong, ra nhà ngoài, rồi lên gác. Một lát, hắn xuống, nháy một mắt, hất ngón tay cái lên phía trên:
- En sắp được tha, ông cẩm La-vanh giữ lại bắt đền ơn một tí thôi!
Nói đoạn, hắn rúc rích để thưởng thức câu nói hóm hỉnh.
Một xâu dài gần ba chục người bị giải đi, qua trước mặt anh Thừa. Anh chưa hết sợ, lại chào Ma-ri:
- Thưa bà, tôi xin về.
Ma-ri giơ tay ra ngăn:
- Cùng về với tôi. Mấy khi! Đã khuya đâu mà vội!
Vừa xót ruột xót gan về Múi, vừa muốn đi cho thoát chỗ nguy hiểm, nhưng không lẽ từ chối, anh đáp:
- Vâng.
Ma-ri dẫn anh đi bộ ra bờ sông. Luôn luôn hắn nhìn trước nhìn sau và giao hẹn:
- Đừng nói chuyện vội.
Ma-ri cùng hắn qua Chợ Gạo, sang bên kia đường, đi đến hai bến tàu Nam. Giờ này, tàu Phi Phượng của Ký Bưởi, tàu Long Môn của hiệu khách, ở Nam Định sắp lên đến nơi. Một vài hàng nước đã thắp đèn hoa kỳ sáng linh tinh để chờ khách.
Anh Thừa muốn đi nhanh qua chỗ này. Anh tránh gặp mấy bà hàng quen, và mấy thằng bạn chào khách của anh. Nhưng Ma-ri đứng lại, nhìn ra phía sông. Bởi thế, luôn luôn anh phải lấy mùi soa, giả vờ lau má, để che mặt.
Bỗng có tiếng kêu thất thanh:
- Ôi ông đội sếp ơi! Nó giật khăn của tôi!
Thằng ăn cắp cắm cổ chạy rẽ về phía Ngõ Gạch. Nó nhảy qua và giẫm lên những người phu phen, không có nhà cửa, nằm ngổn ngang ở hè Chợ Gạo, rồi chui vào trong chợ tối om.
Anh Thừa được dịp, giục Ma-ri:
- Thôi, đi, ở đây lắm kẻ cắp.
Ma-ri nghe theo, nhưng thỉnh thoảng quái cổ lại nhìn, như muốn tìm một cái gì.
Đường thưa người dần.
Đến một chỗ vắng, anh Thừa lại dụng cơ hội, dịch sát vào Ma-ri. Ma-ri vớ lấy tay anh. Anh không run nữa, bóp chặt bàn tay mũm mĩm của hắn. Hai người nắm tay nhau.
Lúc này Ma-ri thổ lộ những câu tình tứ, mình mình em em, như ta đã biết từ đầu chương này.
Anh Thừa hiểu nghĩa tiếng “trò chuyện” của Ma-ri, thì nóng ran cả người. Anh đáp:
- Hôm nay thì chuyện ra chuyện chứ! Ông An-be kia mà! Nó đi vắng à?
Ma-ri gật:
- Nó lại đi Vinh. Em thoát nạn được vài hôm. Em chán cái kiếp lấy Tây quá rồi. Chả nói, mình cũng thừa hiểu. Nhục nhã lắm, mình ạ. Rồi thế nào em cũng phải kiếm một tấm chồng An-nam để mà nương tựa. Sớm ngày nào hay ngày ấy.
Anh Thừa im lặng. Chưa bao giờ đũa mốc lại hòng chòi lên mâm son. Nhưng anh không khỏi không vấn vương.
Anh thương Ma-ri là con người có nhan sắc, lại có bụng tốt đối với anh. Ma-ri không đợi anh phải đòi, đã lấy món tiền còn lại cuối cùng trong ví để trả nợ sòng phẳng. Ma-ri lại cứu anh khỏi bị bắt. Bây giờ, Ma-ri sẵn sàng hiến thân cho anh, lại không giấu giếm anh, than thở cảnh ngộ với anh.
Tự nhiên, anh nghĩ đến Múi.
Hiện nay, Múi đương bị anh giam, là tù nhân của anh. Còn anh tuy không bị mật thám giam, nhưng bị Ma-ri áp giải, thì cũng đương là tù nhân của Ma-ri. Xử thế nào đây? Bỏ Ma-ri hay bỏ Múi?
Anh so sánh hai trường hợp.
Bỏ Ma-ri thì còn Múi, tức là được cả người lẫn của. Bỏ Múi thì còn Ma-ri, chỉ được có người không.
Tiền của Múi? Hiện giờ anh đã nắm trong tay. Còn người của Múi? Cô gái đồng rừng ấy, anh đã quá quen thuộc. Vậy thì Múi không còn gì cho anh thèm thuồng nữa.
Còn như Ma-ri? Ma-ri là đầm lai! Ngon xơi quá! Lại là một người An-nam kiết. Mấy đời cú được gặp tiên! Mấy đời anh được hưởng của lạ, của quý! Bây giờ anh lại ở trong tay Ma-ri, nhất định không thể về với Múi. Về với Múi, anh không được gì hơn. Đi với Ma-ri, anh vẫn có tiền của Múi, lại được thêm người mới.
Vả lại, dây dưa với Múi một lần này, là dây dưa mãi, suốt đời phải đèo bòng gánh nặng. Nhưng dây dưa với Ma-ri một lần này là chỉ một lần. Ra khỏi cửa săm thì có thể dứt, lòng vẫn nhẹ tênh tênh. Đã có lần miếng ngon tự kề tận miệng, mà không ăn, anh đã tiếc ngẩn tiếc ngơ. Ai chẳng muốn ăn ngon, biết ăn ngon. Và thèm ăn ngon. Nhưng độ ấy, anh không dám ăn ngon. Còn như bây giờ, anh dám rồi. Tu-nô! Mày muốn vợ tao thì bây giờ tao báo thù mày! Đứa nào thắng?
Anh đương suy tính vẩn vơ, bỗng Ma-ri đập vào vai anh:
- Nghĩ gì thế, mình? Nói chuyện cho vui chứ?
Anh giấu tâm trạng thực:
- Anh giận thằng Tu-nô. Anh thương mình.
Ma-ri giương cả đôi mắt sáng, sửng sốt nói:
- Có thật không?
- Thật.
Ma-ri ngửa mặt lên trời, tay vuốt ngực:
- Em chỉ cần nghe thấy một người nói rằng thương em, là em được đỡ khổ.
Không hiểu là câu nói thật tình hay khách sáo. Anh Thừa nghĩ đến cảnh mình. Anh cười khẩy, ra ý không tin:
- Mình mà khổ!
- Mỗi người có một cảnh khổ, mình ạ. Kiếp lấy Tây là kiếp sống nay đây mai đó. Cho nên em chỉ muốn quay về lấy chồng An-nam. Ăn rau ăn cháo mà biết thương nhau, còn sướng hơn.
Hai người cùng thở dài. Ma-ri tiếp:
- Thằng Tu-nô là thằng đểu nhất hạng. Em giận nó lắm, nhưng thế phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Nó cho em mỗi tháng ba chục, nhưng làm tình làm tội đủ thứ. Hiện nó còn nợ em hai tháng lương. Tiền ăn của nó, em cũng phải tạm ứng cho nó.
Anh Thừa mủi lòng:
- Thế mà vừa rồi mình thua, lại trả nợ anh. Mình hết tiền. Mai lấy gì mà ăn?
Nói đoạn, anh móc túi, đưa Ma-ri hai tờ giấy bạc:
- Đây, bốn chục của mình. Mình cứ lấy lại. Bao giờ mình trả cũng được. Anh còn nhiều.
Anh dúi tiền vào tay Ma-ri. Nhưng Ma-ri hất ra:
- Không. Em giật tạm quanh chỗ chị em cũng xong. Vả lại em phải đòi nợ nó, lấy cho kỳ hết, mới có thể tính đến việc làm lại cuộc đời được.
Anh Thừa vỗ nhẹ vào vai Ma-ri:
- Mình làm anh phục mình.
Ma-ri hiểu:
- Đồng tiền quý thật, nhưng tùy từng người em mới lấy. Với thằng giàu, dù trăm, nghìn, vạn, em cũng không tha. Nhưng mình nghèo như em, thì thà em tiêu tiền của em để đỡ gây cho mình khó khăn sau này có hơn không?
Anh Thừa cảm động:
- Anh trông bề ngoài, tưởng mình…
- Thích bom xu như người khác phải không?
- Không. Anh khá tinh mắt. Thề với mình là không bao giờ anh nghĩ thế. Anh bảo tưởng, là tưởng mình sung sướng.
- Sung sướng? Vì anh cho cứ là Tây đầm thì sang trọng à? Nếu thằng Tu-nô sang trọng, ngày nó chữa bệnh, nó đã thuê y tá đến tiêm. Nhưng nó kiệt, nó bắt em học để tiêm cho nó. Anh biết đấy, ngày ấy, hôm nào em chẳng phải sang buồng giấy đưa thuốc cho nó.
Anh Thừa gật gật:
- À, bây giờ anh mới rõ.
Rồi anh tò mò:
- Tại sao mỗi bận mình đến, nó cứ bắt anh ra ngoài?
Ma-ri đập đánh đét vào lưng anh:
- Có khỉ gì đâu. Tại nó phải nói với em bằng tiếng An-nam. Nó sợ ngượng với anh. Nó không muốn cho người ngoài nghe thấy nó nói tiếng An-nam sõi và thạo.
Anh Thừa căm giận:
- Đồ khốn! Thằng Tu-nô khinh An-nam, thì mẹ nó là người nước nào!
- Trái lại, em chỉ biết có mẹ, chẳng biết bố là ai.
Anh Thừa gật đầu, nắm chặt tay Ma-ri:
- Đúng. Cho nên hôm nay mình với anh mới đi với nhau.
Ma-ri ngước mắt nhìn anh Thừa, nhoẻn cười, khẽ vuốt má anh.
Hai người mải nói chuyện, không ngờ đã đi đến gần ga. Nhà săm Đồng Lợi hiện ra sừng sững ở trước mặt.
Anh Thừa ngẩng lên nhìn. Cửa chớp buồng số tám vẫn mở. Đèn vẫn sáng. Hẳn là Múi vẫn thức, đương nóng lòng chờ anh.
Muốn quên hình ảnh trước mắt, anh đi sát vào Ma-ri, quàng cánh tay qua lườn Ma-ri.
Quanh đây không còn nhà săm nào có buồng sang trọng, xứng đáng hơn, để được tiếp người ngọc. Anh đưa Ma-ri vào nhà Đồng Lợi. May cho anh làm sao. Các buồng đều có khách cả, duy còn một buồng chưa có ai hỏi thuê. Buồng ấy ở trên gác, buồng số chín.
Anh đành bằng lòng lấy buồng ấy. Anh cầm chìa khóa, dắt tay đỡ Ma-ri lên cầu thang.
Ma-ri vào trong buồng, thì đến ngay trước gương, chải tóc lại, và vỗ thêm tí phấn. Anh Thừa đứng cạnh, sát vào vai Ma-ri. Tám con mắt cùng đắm đuối. Bốn cái miệng cùng nhoẻn cười. Hai đôi mắt cùng quay nhìn nhau.
Anh dìu tay Ma-ri ngồi xuống ghế:
- Ở đời, không ai học đến chữ ngờ, nhỉ!
Ma-ri tủm tỉm, nói bằng giọng thân mật hơn:
- Toa thì thế, nhưng moa không thế. Vì moa đã định từ lâu.
Anh Thừa sung sướng, rạo rực cả người. Ma-ri thỏ thẻ ra lối ngây thơ:
- Thật đấy, tại mỗi lần gặp Ma-ri, Ma-ri cứ thấy toa nhìn trộm. Hẳn là toa thèm lắm. Cho nên Ma-ri cứ muốn trêu toa. Cái lần thằng chết tiệt đi vắng, Ma-ri muốn cho toa đỡ thèm, thì toa lại nhút nhát quá!
Anh Thừa vuốt nhẹ vào má Ma-ri:
- Tại ngày ấy moa chưa là An-be!
- Toa có tiếc không?
- Tiếc.
- Thế An-be dọn đi. An-be có nhớ Ma-ri không?
- Đã không dám thì còn nhớ gì!
- Đúng, toa nói thật. Trái lại, mỗi lần Ma-ri ở trên gác nhìn xuống không thấy a-mua, Ma-ri cứ nhớ nhớ là!
Anh Thừa lại sung sướng. Anh hỏi:
- Toa nói thật nhé. Tại sao toa lại thích moa?
- Cái đó dễ hiểu lắm. Moa thích toa là thích An-nam, vì moa chán Tây. Mà An-nam ở quanh nhà, còn có ai ngoài toa? Rồi ngắm toa lâu, moa quen mắt đi, chỉ thấy đẹp thôi.
- Moa tưởng đầm lai thì thích Tây thật, để đẻ con ra nó là Tây. Thích An-nam thì chỉ có con là An-nam. Ở đời, ai chẳng muốn lên, sao toa lại muốn xuống? Ngay như thằng Tu-nô nó bắt toa ăn mặc đầm, và không muốn nói tiếng An-nam.
- Thói thông thường vẫn là thế. Nhưng riêng moa thì khác. Bởi vì, như moa nói ban nãy, moa chỉ biết có mẹ, chẳng biết bố là ai. Moa không khinh An-nam.
- Cho nên toa không khinh moa?
Ma-ri lắc đầu:
- Không. Moa chỉ khinh những đứa cứ làm cho moa khinh mãi, như bọn ký lục chẳng hạn. Còn như toa, làm cu-li mà dám ngắm bà chủ, là moa không khinh.
Anh Thừa phì cười. Ma-ri vẫn nghiêm mặt:
- Thật đấy. Nhiều người An-nam cứ muốn để Tây khinh. Toa không giống những người An-nam ấy.
- Tại moa dám ngắm bà chủ của moa?
Hai người cùng cười. Ma-ri nói:
- Người An-nam khác không bạo dạn như toa. Họ khúm núm, sợ Tây lắm.
Anh Thừa lắc đầu:
- Không phải. Toa lầm. Bởi vì toa là nửa Tây nửa An-nam, cho nên chỉ nhìn thấy bề ngoài người An-nam. Moa là An-nam nên moa rõ người An-nam hơn toa. Người An-nam không khúm núm đâu. Họ khúm núm vì các toa muốn họ như vậy. Vả họ nghèo, không có cách gì sống khác cái nghề làm với các toa. Như moa, mấy tháng về trước đây. Cho nên họ đành khúm núm, khúm núm cái lưng thôi, chứ không khúm núm cái đầu óc. Trời có sinh ra người lưng cong đâu. Các toa hay chúng moa, lúc cha mẹ đẻ ra lưng đều thẳng. Rồi sau chỉ những người có tiền mới giữ mãi được cái lưng thẳng, và bắt người đứng trước mặt mình phải còng lưng xuống, phải khúm núm. Trước kia, moa sợ thằng Tu-nô, chịu cho nó sỉ nhục, đánh đập là vì nó phát lương cho moa. Nhưng từ ngày moa không làm với nó, moa không sợ nó nữa. Moa có tiền, moa đếch sợ Tây. Trước kia, moa sợ cả toa, nhưng bây giờ, hôm nay, giờ này moa…
Anh Thừa định ôm Ma-ri. Nhưng Ma-ri hất ra, tủm tỉm. Anh tiếp:
- Moa kiếm ra tiền, công việc làm ăn không phải nhờ vả đến người Tây. Tây đứng trước moa, lưng họ thẳng, thì moa đứng trước Tây, lưng moa cũng thẳng. Hai người như nhau. Cũng như bây giờ, moa với toa, bình đẳng.
Ma-ri đùa:
- Toa diễn thuyết đấy à?
Anh Thừa sực nhớ đến nghề bán thuốc rong, tự nhiên anh rũ ra cười, rồi tiếp:
- Để moa nói nốt. Khi người ta có tiền, dù người ta là An-nam, người ta cũng mạnh dạn, dám làm tất cả. Mà khi người ta không có tiền, thì dù là Tây, người ta cũng…
Ma-ri giơ tay để xua, vừa cười ngặt nghẽo, chế nhạo:
- Thế sao ngày nọ, toa có hai trăm bạc mà toa nhút nhát thế?
Anh Thừa cũng cười. Anh dằn từng tiếng để tự hào:
- Nhưng hôm nay, moa mạnh dạn, Ma-ri của moa ạ. Moa vừa nói với toa là người An-nam, dù không có tiền, họ cũng chỉ khúm núm cái lưng, chứ không khúm núm cái đầu óc. Như moa chẳng hạn, thân danh chỉ là thằng cu-li cút-kít, nhưng moa đã báo thù thằng Tu-nô lắm vố cay. Moa đã lấy không của nó hai trăm bạc. Moa đã làm cho nó không dám khinh thuốc An-nam, tức là không dám khinh An-nam. Và tối nay đây, moa đã cướp được vợ nó…
Anh Thừa hãnh diện nhìn Ma-ri. Ma-ri gật đầu, ỏn ẻn nói:
- Toa làm cho moa hả lòng!
Anh Thừa đắc chí, vênh váo, trỏ vào ngực mình:
- Toa coi, An-be có anh hùng không?
Ma-ri gật đầu, nhấn mạnh:
- Anh hùng!
Rồi nhìn đồng hồ. Ma-ri giao hẹn:
- Ma-ri chỉ ở đây với anh hùng được đến mười hai giờ thôi đấy nhé.
Hai người lặng nhìn nhau. Hai miệng cùng tủm tỉm. Anh Thừa đứng dậy. Ma-ri tỉ tê hát khẽ:
Anh hùng thì có thuyền quyên.
Hỏi rằng anh đã có thuyền hay chưa.
Anh Thừa phá lên cười, khen:
- Hay, hay tuyệt! Ma-ri cũng là văn sĩ!
Rồi anh áp má anh vào má Ma-ri, tay vuốt ve bộ tóc óng mượt.
- Thuyền quyên của moa! Rồi người An-nam không nhút nhát với Tây, với đầm như moa, mỗi ngày một nhiều, toa ạ.
Hai người cùng ngây ngất nhìn nhau ở trong gương. Ma-ri nhoẻn miệng, ngước mắt lườm anh rất tình tứ, trỏ tay ra phía cửa:
- Toa ra xem lại, đã khóa cẩn thận chưa?
Anh Thừa buông Ma-ri, đi ra phía cửa. Cửa buồng số chín vẫn khóa.
Nhưng bên buồng số tám, hình như cửa chưa khóa. Lúc ấy, có tiếng cánh cửa kẹt mở ra, lại đóng vào.
Từ nãy, ở bên ấy, luôn luôn có tiếng kẹt cánh cửa như thế.
❀ ❀ ❀
[1] Xu-hết: chúc.
[2] Mê-tít: người lai.
[3] Bà mở, tôi ăn với bà mười đồng. Nghĩa là góp chung vốn để đắt tiếng bạc bán.
[4] Không, thua mãi rồi, hết tiền rồi.