Đống Rác Cũ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§8. Khao Thất Bại
Viii Khao Thất Bại

❊ ❊ ❊

Thừa trượt nghị viên được năm hôm, thì hắn phải tổ chức một bữa cơm mời mọc bạn hữu đến Cẩu Rồng để ăn, gọi là tiệc khao. Tuy không phải là khao nghị hụt mà là khao tưởng lục. Nhưng theo hắn nghĩ, cũng là khao sự thất bại.

Thật là cả một chuyện đáng khóc mà cứ phải cười, và lại cười vào lúc đương khóc.

Nguyên là cái hôm Thừa đến Vĩnh Yên để nhận bằng tưởng lục, tên công sứ Mát-xi-li có nói một câu là hẳn lần này ông khao to hơn hai lần trước. Cho nên, nếu Thừa không khao, thì sợ phật lòng quan thầy. Chứ một tờ giấy suông, chỉ to hơn hai tờ giấy trước một ít, dù là chữ ký của thống sứ đấy, nhưng nó cũng không hơn gì.

Thế mà còn phải đèo thêm mấy chục bạc khao nữa vào, thì quả nó là cái nạn. Song, vì quan chủ tỉnh đã nói, chẳng biết là đùa hay thật, nhưng chắc tên thực dân muốn Thừa phải coi trọng tấm bằng của thủ hiến Bắc Kỳ cấp.

Ngày ấy, Thừa bảo với Ma-ri:

- Muốn khao tưởng lục không mất tiền, thì ta đợi đến ngày trúng cử nghị viện hãy làm một thể.

Ma-ri cho là ý kiến hay. Vừa đỡ tốn kém thêm, vừa đỡ bận. Vả chính Ma-ri cũng ác cảm cái tưởng lục thứ ba, cho nên, làm nhuế nhóa như vậy, hắn vừa đỡ ức phải mừng cái đáng giận, vừa che mắt được quan trên có mừng.

Ma-ri còn ranh vặt. Muốn tránh cái tiếng là hai bữa khao chập một, hắn xui Thừa gửi thiếp mời khao tưởng lục đi các nơi trước ngày bầu cử năm hôm. Tiệc mời hơn ba chục khách thật, nhưng kỳ trung hắn chỉ cần hai người có mặt. Người thứ nhất, là ông Huân. Để ông tham đầu tòa quên cái lần trước đến tận Cẩu Rồng báo tin mừng mà phải nhịn đói về tỉnh. Và để lúc nào cụ lớn vui, thì ông mách hộ rằng vợ chồng hàn An-be đã khao tưởng lục rồi. Người thứ hai, là ông Lăng. Vì trước sau, ông sốt sắng giúp việc giao thiệp với hãng Phúc Lai Thành. Việc này đã xong được tám phần mười rồi. Bây giờ trượt nghị viên, mất thêm cái nhà ở phố Hàng Kèn, Thừa càng cần ông Lăng giúp nốt cho hai phần nữa, để kinh doanh mà bù đắp cái thiệt hại ấy. Vả lại, mời ông đến Cẩu Rồng, Thừa cũng còn mục đích nữa, là muốn khoe cho ông biết cái cơ ngơi của mình, và dạy cho ông một bài học, là có tiền thì không nên bo bíu, cỏ rả, phải giao thiệp rộng, để lấy thế lực.

Cho nên, tuy Thừa trượt ghế nghị viên, nhưng thế không khao không được.

Thật ra, thì từ hôm đeo tiếng là nghị hụt, cả Thừa lẫn Ma-ri rã rời cả đầu óc lẫn chân tay. Chứ còn vui vẻ gì, phấn khởi gì!

Thừa không những buồn vì tiếc công, còn xót vì tiếc của. Thế mà hắn còn bị Ma-ri giày vò, nói mất mặn mất nhạt mấy ngày liền.

Còn Ma-ri thì, chao ôi! Chỉ trong có mấy tháng, hắn bị hai lần như rơi từ trên trời xuống đất đen.

Đương đầy hy vọng được làm bà lớn chính cống, thì rút cuộc phải mất thêm mấy chục bạc để khao cái tưởng lục phải gió. Hắn còn ức nữa, là để che mắt thế gian, hắn phải sắm cái khung gụ chạm lồng kính để treo cái phải gió ở giữa nhà. Mỗi lần ra vào, nhìn thấy nó, hắn khó chịu như nhìn thấy… xừ Tuynh. Lần này, hắn chắc mẩm được làm bà nghị. Đi đâu, ngồi đâu cũng cổ động cho người ta trọng nghị viên. Hắn bảo nghị viên là chức quan được dân bầu ra, thì quan nghị phải là người tốt, có nhiệt huyết, làm lợi cho dân cho nước. Quan nghị có quyền hơn quan của chính phủ bổ. Quan bầu bắt được chính phủ làm theo ý mình. Còn quan bổ là đầu sai của chính phủ. Vả lại, nghị viên là quan của hàng xứ, danh giá và to lớn hơn cả tuần phủ, tổng đốc, chỉ là quan của hàng tỉnh thôi. Nhưng bây giờ Ma-ri tắc hầu tắc cổ như gái ngồi phải cọc rồi. Hắn không kịp quay lưỡi lại để mạt sát viên dân biểu là bù nhìn, chửi bới nghị viên là nghị gật, như trước kia hắn vẫn khoe là vì thế, hắn không thèm làm bà nghị.

Song, dù rã rời đầu óc, rã rời chân tay, nhưng thiếp mời đã gửi đi, thì Thừa và Ma-ri đã trót đành phải chét.

Thừa tạm chôn nỗi khổ tâm xuống tận đáy lòng, để cố biến nếp nhăn méo thành nếp nhăn cười, cho khách được vui vẻ. Ma-ri tạm đình đay nghiến chồng, trang điểm cho ưa nhìn, để người ngoài ước mong gia đình họ cũng được ấm cúng như cái tổ uyên ương ở Cẩu Rồng này.

Tiệc mượn bếp cao lâu Hà Nội về nấu. Có cô đầu tỉnh chuốc rượu. Trong buồng khách, vang lên tiếng hát véo von theo nhịp đàn, nhịp phách. Tiệc xong, ai muốn thưởng thức văn chương nghệ thuật, hay chỉ muốn thú mỹ thuật của mỹ nhân, thì nổi trống giục chị em. Ai muốn đi mây về gió, đem thế sự nhân tâm ra đàm đạo với nhau, thì vào buồng với ả Phù Dung. Ai mướn tiêu khiển bằng trí não, suy nghĩ cao thấp, thì lập bàn tổ tôm. Ai có óc cấp tiến, âu hóa, không muốn bảo thủ cả từ lối ăn chơi, thì vặn kèn hát lên mà nhảy đầm.

Người ta cũng gạ chủ nhân tổ chức xóc đĩa để cuộc vui sôi nổi hơn. Nhưng Thừa chỉ cười. Hắn không nói thực là sợ bị nhà chuyên trách khám bắt. Hắn không nói thực là bữa tiệc này chẳng qua là làm tắc trách cho xong. Hắn cũng không nói thực là vợ chồng hắn đương khóc dở mếu dở đến phát ốm. Nhưng hắn lấy lý do là hội viên hội Khai Trí không làm những hành động có hại cho danh dự Hội.

Ông tham Huân vừa đến nơi đã vẫy Thừa vào buồng riêng, thầm thì một tin mới:

- May cho bác là cụ tư sớm, nên bác được tưởng lục, chứ nếu chỉ chậm một tuần, có lẽ bác chẳng được gì!

- Sao vậy?

- Nó trốn đằng mẹ nào mất rồi, còn gì!

Thừa sửng sốt.

- Thằng Nghĩa chứ đứa nào? Tòa Hà Nội khép nó mười năm, phát vãng nó lên Sơn La, thế là giữa đường, nó chuồn thẳng.

Thừa im lặng, ông Huân tiếp:

- Ngữ này, trừ phi trốn sang Nga, chứ còn luẩn quẩn ở trong nước, thì thế nào cũng không thoát.

Thừa vứt điếu thuốc lá hút dở xuống đất:

- Trốn! Cả gan thật!

- Tôi không rõ nó trốn bằng cách nào, ở đâu. Nhưng chắc rằng thế nào nó cũng chứng nào tật ấy, rồi lại bị bắt cho mà xem. Lần sau thì tù chung thân!

- Thế còn thằng Xi bị bao nhiêu năm?

Ông Huân cười:

- Có sáu tháng án treo. Nhẹ quá!

Thừa lại im lặng.

Ông Huân nói:

- Bây giờ mà bác vớ được đám này cho nhà nước lần nữa, thì nắm chắc cái tri huyện trong tay.

Thừa thở dài, khẽ đáp:

- Vâng.

- Tôi chỉ sợ nó buột sang Tàu mất rồi thôi. Nhưng sang Tàu cũng chả thoát được. Chỉ thiệt cho An Nam mình mất mồi.

- Tôi tưởng đi quá nước mình là yên chứ?

Ông Huân gật đầu:

- Đáng lẽ thì thế đấy. Nhưng chính phủ mình điều đình riêng với chính phủ Vân Nam, chính phủ Quảng Đông, bắt hộ chính trị phạm An Nam qua đất của họ.

- Cũng được à?

- Cho họ tiền thì họ phớt cả luật quốc tế. Lạ gì mấy anh quan Tàu! Năm nọ, chính phủ Vân Nam bắt cho chính phủ Đông Dương một chính trị phạm. Họ cho phạm nhân vào bao bì, như bao hàng, đưa lên xe lửa, cho vào toa đen với những bao hàng khác, sở Thương chính cặp chì cẩn thận, thế mà cũng mất bay!

Thừa sửng sốt. Ông Huân gật đầu:

- Nguyên là chiều hôm ấy, xe lửa Vân Nam về đến ga Hà Khẩu. Còn qua một cái cầu nhỏ nữa thì sang đến địa hạt Lao Cai. Nhưng tự nhiên đốc biện Hà Khẩu cho lệnh đóng cửa cầu sông Nậm Thi lại, không cho xe lửa qua. Thì ra bọn cách mạng Tàu thấy người cách mạng Việt Nam bị chính phủ của họ bắt về Hà Nội cho Tây làm tội, thì họ đánh dây thép ngay cho đốc biện trấn phòng ở Hà Khẩu, là người cùng đảng, phải tìm ngay cách mà đánh tháo, ông đốc biện ra ga, xem xét khắp các nơi trên các toa, mà không tìm ra chỗ giấu phạm nhân. Sau, ông ta nghi chỉ có toa hàng có cặp chì là chỗ giấu người chắc chắn nhất. Vì chỉ nhà đoan Đông Dương mới có quyền mở. Thế là ông ta lấy búa, gõ vào thành toa, và nói to. Bất đồ, ở trong có tiếng trả lời. Thôi ráo cả là pháp luật, ông ta rứt miếng chì cặp, phá khóa, rồi mở cửa toa. Nhưng ông ta thấy toàn bì hàng, chứ không thấy người. Cuối cùng, ông ta tìm thấy một bì có tiếng nói, mới rạch ra, để cứu người cách mạng.

Thừa hỏi:

- Thế là thoát?

Ông Huân gật:

- Thoát.

Rồi ông tiếp:

- Cũng giờ này, cụ sứ Lao Cai biết ngay việc xảy ra ở bên trấn phòng. Cụ gọi dây nói nhờ người xin với ông đốc biện cho cụ yết kiến để điều đình. Nhưng ông đốc biện không tiếp. Xe lửa hôm ấy đành nằm lại bên ga Hà Khẩu. Sau, ông ta bằng lòng tiếp cụ sứ Lao Cai, phải cho lính mang đèn lồng là đèn lệnh đi đón tận ở đầu cầu. Thế mà dân chúng xông lại, họ tỉu nà ma, và ném cả đá vào cụ sứ.

- Điều đình thế nào?

- Tôi không rõ. Nhưng chắc là hai việc. Một là mở cửa cầu cho xe lửa về Lao Cai, để dân hai bên đi lại như trước. Việc này không khó. Hôm sau, cửa cầu lại mở. Còn việc thứ hai khó hơn, là trả người cách mạng cho chính phủ Đông Dương, thì chắc là không được. Vì từ đó mà đi, hễ chính phủ Vân Nam bắt được người cách mạng Việt Nam nào, thì họ không tải bằng xe lửa nữa, mà gọi chính phủ Đông Dương đưa máy bay sang đón về.

Ông Huân kết luận:

- Cho nên, nếu nó có trốn sang Nga mới thoát. Tôi chắc là hiện nay nó còn lẩn quất ở ta, chưa sang nổi đến đất Tàu đâu. Vì ít lâu nay, các cửa ải canh phòng nghiêm ngặt lắm.

Nghỉ một lát, ông gật gù:

- À, còn một đường nữa nó cũng hay dùng để trốn, là Hải Phòng. Ở cảng, có nhiều tàu thủy đi các nước.

- Nhưng làm gì có tiền mà đi Tàu?

Ông tham bĩu môi:

- Ô, người của chúng nó khối ra. Cả trên các tàu thủy cũng có. Những người này giấu chúng nó ở chỗ nào trong tàu cũng được.

Rồi ông gật gật:

- Phải, phải. Thế mà đi đường thủy dễ hơn cả. Vả lẩn nấp ở Hải Phòng thì yên. Thành phố đông. Ai biết mình là ai mà ngờ.

Hai người đứng dậy, ra phòng khách. Nhưng ông Huân sực nhớ ra:

- À, còn việc nữa.

Thừa lắng tai.

- Về việc ông không trúng cử, cụ giận ông lắm đấy. Cụ bảo ông thua ông Thiện, tức là cụ thua, nhà nước thua cộng sản.

- Thế sao sau hôm bầu cử, tôi vào hầu cụ, tôi không thấy cụ nói gì.

Ông Huân vỗ vai Thừa:

- Đời nào người ta nói ra. Đến như quan phó, cái lúc ông kiện xin hủy bỏ cuộc bầu cử, mà ngài cũng không tìm ra lý gì để phá Nguyễn Thiện được là ngài cay lắm đấy. Cho nên ngài cứ phải làm như công minh, tươi cười với người trúng cử.

Thừa thở dài:

- Người của tôi bán được hai mốt phiếu có đánh dấu. Nếu cả hai mốt người đều bỏ bằng phiếu ấy, thì thế nào cũng phải bầu lại. Tôi không ngờ có mười bảy thằng nó ăn của tôi mà lại phản bội.

Ông Huân lắc đầu, thầm thì vào tai Thừa:

- Thế mới biết từ ngày cộng sản tràn sang ta, thì trình độ dân mình khác nhiều lắm. Không trách cụ Rô-banh bảo những tờ truyền đơn tuy mỏng và nhỏ, nhưng còn nguy hiểm bằng vạn những trận đổ máu ở Yên Bái ấy. Nhà nước triệt cộng sản đã khiếp, mà sao họ mọc đâu ra nhanh thế. Hầu như khắp nước đâu đâu cũng có, nhất là ở mấy thành phố lắm thợ thuyền, như Hà Nội, Hải Phòng.

Nghe nhắc đến Hải Phòng, Thừa cau cau đôi mắt, nhìn lên trần.

* * *

Hôm sau, Thừa rủ ông Lăng đi Hải Phòng.

Không phải hắn vội đi truy nã anh Lâm hộ sở mật thám để nhận thêm một đạo tưởng lục thứ tư, mà để làm việc cho hắn. Tức là điều đình cho xong việc mua tàu. Và vui thú với Xuy-dan.

Xuy-dan quả là một nhân vật lạ lùng. Ít tuổi, nhưng Xuy-dan biết nói câu chuyện cho ra câu chuyện. Nếu Thừa cần một người đàn bà, thì cố nhiên không phải hạng tai ngược như Ma-ri, và cũng không phải chỉ hạng đồ chơi mua bằng tiền, như những người trước kia hắn đã trải. Qua xong một lúc, trong đầu óc không còn nghĩ ngợi gì. Còn Xuy-dan, thì không hiểu tâm hồn có điều gì u uất đắng cay, mà hay nói ra những lời khiến người nghe phải suy nghĩ và nhớ, để còn muốn gặp lại lần nữa.

Nhưng Thừa không ngờ hãng Phúc Lai Thành không cò kè bớt một thêm hai như những lần trước. Hắn phải đặt ngay một nghìn bạc, rồi lập tức đảo về Hà Nội, dạm bán bốn cái nhà, để lấy tiền mà trả nốt.

Trong lúc ra hè để lên ô-tô, bỗng Thừa nhìn thấy Xuy-dan ngồi trên một xe cao-su đương chạy. Xuy-dan cũng trông thấy Thừa. Nhưng Xuy-dan quay đi ngay. Thừa nhìn theo Xuy-dan. Chiếc xe chạy quá độ hơn trăm thước thì đỗ. Xuy-dan xuống đất, vào nhà trong.

Lúc ô-tô qua chỗ Xuy-dan vừa vào, Thừa cố nhìn xem có thấy Xuy-dan hay không. Nhưng không thấy. Ở đây không có cửa hàng. Chắc Xuy-dan đến chơi một người quen nào. Xuy-dan vào nhà nào, Thừa không thể biết. Vì ban nãy Thừa không để ý nhận kỹ. Và đây là một dãy nhà làm giống nhau của một chủ cho thuê.

Thừa ở lại Hà Nội mười ngày. Hắn ủy việc bán nhà cho Ma-ri rồi đi Hải Phòng để thuê sửa chữa một vài chỗ ở máy móc cho tốt, và thuê sơn lại vỏ tàu cho mới. Hắn dự tính sẽ có hẳn nửa tháng ở Hải Phòng. Tha hồ hắn có thì giờ gặp Xuy-dan.

Nhưng rủi cho Thừa, hắn đến nhà An-na Phán thì không gặp An-na Phán, cũng không gặp Xuy-dan. An-na Phán đi Hà Nội. Thừa hỏi thăm Xuy-dan, thì người bồi nói:

- Nó bị sốt rét thương hàn nặng, bà chủ không dám chứa sợ lây ra cả nhà, nên đuổi nó đi rồi.

Thừa giật mình:

- Nó bị sốt từ hôm nào?

- Từ hôm mồng sáu.

Thừa tính ngày, thấy là Xuy-dan ốm ngay hai hôm sau khi hắn gặp đi ở phố. Hắn hỏi:

- Thế bây giờ Xuy-dan đâu?

- Thưa con không biết.

Người bồi phàn nàn:

- Kể bà chủ con cũng ác. Người ta đương ốm nặng mà đuổi đi.

Nghe xong, Thừa ra xe. Hắn đến phố có dãy nhà mà hôm nọ hắn thấy Xuy-dan vào.

Hắn hỏi thăm.

Thì hắn gặp Xuy-dan.

Xuy-dan đã khỏi sốt, nhưng gầy tọp hẳn đi. Da xanh bủng. Hai gò má dô lên. Tóc rụng rất nhiều. Xuy-dan ngồi dậy tiếp Thừa, nhưng tay chân run lẩy bẩy, vừa nói vừa thở.

Thừa biết đây là nhà người cô họ của một bạn cùng nghề với Xuy-dan. Người này thương tình Xuy-dan bị chủ bạc đãi, mới xin với cô cho ở nhờ.

Thừa nói:

- Em còn mệt lắm, anh không muốn ngồi lâu, sợ em mệt thêm. Em cầm tiền mà uống thuốc. Anh còn ở Hải Phòng, sẽ đến thăm em luôn.

Xuy-dan rưng rưng nước mắt, cầm năm chục bạc:

- Em cảm ơn anh.

Hằng ngày, Thừa đến thăm Xuy-dan. Lần nào hắn cũng mua thêm thuốc và quà bánh cho Xuy-dan. Luôn luôn hắn hỏi Xuy-dan cần tiền nữa, thì hắn đưa. Nhưng Xuy-dan đều từ chối:

- Em khỏe vì tấm lòng của anh săn sóc thương em hơn là vì các thứ anh cho.

Thật thế, Xuy-dan lại người rất chóng. Da dẻ đã đỏ. Mà đã có thịt. Sợ tóc rụng thì đầu xấu, cô phải bịt cả ngày bằng khăn vuông màu.

Đến hôm Thừa xong hết việc ở Hải Phòng, định trở về Hà Nội, hắn để hẳn một buổi chiều đến với Xuy-dan.

Hôm ấy, Xuy-dan đã gần được như thường. Thấy Thừa nói sắp xa lâu, cô thở dài:

- Có lẽ anh với em gặp nhau lần này là lần cuối cùng. Vì em không ở Hải Phòng nữa.

- Em đi đâu?

- Chưa định. Nhưng tất nhiên là không ở Hải Phòng.

- Vậy em không làm với chị An-na Phán nữa nhỉ.

- Vâng. Bởi vì em không thể ở với những đứa bạc ác, nó lợi dụng người ta khi người ta khỏe, đến khi người ta ốm đau, thì nó tống ra khỏi nhà.

Thừa thở dài, lắc đầu:

- Nhưng mà khó đấy.

- Dễ nó xích được chân em à?

Thừa buồn bã:

- Không. Nhưng tờ giấy môn bài, em ạ.

Xuy-dan tức:

- Thế sao em ốm, nó lại đuổi em. Em đòi nó xé môn bài đi.

Thừa vẫn buồn bã:

- Nhưng em lại đẹp rồi.

Xuy-dan nghĩ ra. Cô ôm mặt, khóc:

- Đời em lại thêm một việc hất hủi, vùi dập!

- Nhưng đã có anh. Em đừng lo. Anh viết lại cho An-na Phán mấy chữ.

Xuy-dan mỉm cười, nhìn Thừa bằng đôi mắt dịu dàng và âu yếm. Một lát, cô hỏi:

- Anh ơi, anh nói thực nhé. Tại sao anh tử tế với em, là một cô gái giang hồ?

Thừa không đáp. Xuy-dan lại hỏi:

- Thế đối với mọi người, anh có xử như thế không?

- Mọi người là ai?

- Ví dụ vợ con anh, ví dụ người đàn bà khác?

Thừa sực nghĩ đến mẹ Mão và Mão. Hắn chỉ cười, không trả lời. Xuy-dan nhắc lại:

- Anh tử tế với một gái giang hồ, anh có biết là dại không?

Thừa lắc đầu:

- Có. Nhưng đối với em thì không.

- Anh nói khéo.

Thừa thở dài:

- Anh không nói khéo. Không bao giờ anh coi em là gái giang hồ. Anh đền tội với em.

Xuy-dan vui sướng. Thừa tiếp:

- Có một điều lạ lắm. Chính anh nghĩ mãi không ra. Là không biết vì sao, ngay từ lúc mới gặp em, anh đã thấy muốn đối xử với em khác mọi người. Anh mong gặp em lần thứ hai, thứ ba. Và lần nào cũng vậy, anh đưa em bao nhiêu, anh cũng không đắn đo. Anh chỉ muốn em được đầy đủ. Mà nhất là anh chỉ muốn em bỏ nghề này.

- Bỏ nghề này thì lấy gì mà sống, hở anh? Trời cho em cái vốn, thì em phải kiếm ăn bằng vốn ấy.

- Nếu chỉ vì cần kiếm ăn mà em phải làm nghề này thì ở đời thiếu gì cách sinh sống?

- Nhưng cách nào thì cũng phải có vốn bằng tiền. Em không có vốn bằng tiền.

- Anh giúp.

Xuy-dan đưa mắt nhìn xuống, chớp liền năm sáu cái. Rồi nói:

- Thế thì cũng lạ đấy, anh ạ. Em cũng thế. Không hiểu đối với anh thế nào, mà em cũng hay nói. Với khách khác, em có nói gì bao giờ đâu, Em chỉ tự coi là đồ chơi, khách thỏa mãn thì ra về. Họ kệ mình. Mình cũng kệ họ. Thế mà đối với anh, em lại đôi khi kể tâm sự. Y như với một người bạn lâu năm, bạn thân. Nhưng em nói thật điều này, anh đừng giận nhé. Quý anh thì có quý, nhưng chưa bao giờ em yêu anh.

Thừa gật đầu:

- Một là vì tình cảm của em chai ra rồi, hai là vì anh em mình mới biết nhau có vài lượt. Cũng như đối với em, anh nói thật là chỉ thương thôi.

- Em biết, cho nên hôm nọ, gặp anh sắp lên ô-tô ở trước nhà Phúc Lai Thành, em quay mặt đi, cho anh khỏi phải giả dối, xã giao với em. Anh là làng chơi, em chỉ là gái giang hồ, vì tiền mà quen nhau, chứ đâu phải vì nghĩa.

- Nhưng lần này, thấy anh tìm em, hẳn em biết là em đã lầm?

Xuy-dan mỉm cười, gật đầu, rồi nắm lấy tay Thừa. Thừa nghĩ ngợi một lát, rồi nói:

- Có lẽ chúng ta cứ sống như thế này, thì thú hơn là yêu nhau. Anh đã thử nghĩ xem có nên yêu em hay không. Nhưng không rõ có cái gì nó cứ không cho anh nghĩ lâu cái điều ấy.

- Cần gì yêu, hả anh? Sống với nhau bằng tình cảm đã sung sướng chán rồi. Em không muốn anh yêu em. Bởi vì ví thử anh yêu em, rồi lấy em làm vợ, thì chẳng qua, anh đổi cho em cái nhục bị khách đày đọa lấy cái nhục bị vợ anh đày đọa. Mà cái nhục bị khách đày đọa, em còn có thể tự gỡ được, chứ khi em bị anh bỏ tù trong gia đình anh, thì em bị giam hãm suốt đời. Em mà bị đời hắt hủi đến nước ấy nữa, thì chỉ còn đi tự tử mới thoát nợ được.

- Em là người đã chán chường, lại hay hoài nghi. Thế em quên rằng, em đã ví đời như cái vườn hoa à?

Xuy-dan mỉm cười:

- Ai chả biết nói khôn, ai chả biết dạy đời, hả anh? Nếu biết nói khôn, biết dạy đời mà là thạo, thì ở đời làm gì có đứa dại, cho thằng láu cá lừa gạt được?

Thừa băn khoăn một lát, rồi hỏi:

- Em Xuy-dan! Em có coi anh là thân không?

Xuy-dan gật. Thừa tiếp:

- Thế thì em kể lại đời của em cho anh nghe đi.

Xuy-dan lắc:

-Vô ích.

- Có ích. Anh sẽ tìm cách cho em vui đời.

- Anh An-be! Anh có là thánh đâu?

- Nếu em không nói, tức là không tin anh. Không tin anh, vì không quý anh. Em bảo em quý anh kia mà?

Xuy-dan thở dài:

- Trước hết, anh có tin em nói là thực không đã.

- Anh nhắc lại là anh đã không coi em là gái giang hồ. Vậy anh cũng xin em đừng coi anh như khách làng chơi.

Xuy-dan mỉm cười:

- Ừ, em kể nhé.

Thừa ngồi ngay ngắn lại, lấy thuốc lá mời Xuy-dan cùng hút.

Xuy-dan thở dài:

- Anh An-be ạ. Em là một đứa con hoang.

Thừa cau mặt nhìn Xuy-dan.

- Mẹ em làm gì? Cha em là ai?

- Mẹ em buôn bán. Cha em làm báo.

- Em bảo mẹ em là người lai phải không nhỉ?

- Phải.

- Mẹ em tên là gì? Người ở đâu?

- Tên là gì, em không biết. Mẹ em là người Hà Nội.

- Cha em tên là gì?

- Mẹ em cũng không bảo. Em không có ảnh cha em, nhưng có ảnh mẹ em.

- Đâu? Cho anh xem.

- Em gửi cậu em. Ai lại đi làm nghề này mà đem mẹ theo bao giờ!

- Rồi em cho anh xem nhé.

- Được.

- Thế bây giờ bố mẹ em đâu?

- Nếu bố mẹ em còn sống, em đã chẳng khổ. Không biết bố em có gặp em lần nào không. Mẹ em chết năm em lên ba tuổi. Em ở với ông bà ngoại, ông bà bảo bố em chết trước mẹ em lâu rồi.

- Ông bà em làm gì, ở đâu?

- Cũng buôn bán ở Hà Nội, nhưng chết cả rồi.

- Ông bà em không cho em đi học à?

- Có. Ấy, đời hắt hủi em ngay từ ngày em lọt lòng mẹ, anh ạ. Bà em nói rằng khi mẹ em đẻ em thì xấu hổ, nên quẳng em ra đường. May em không chết. Người ta nghe tiếng khóc, biết em là con của mẹ em, nên đem trả mẹ em, bắt mẹ em phải nuôi.

- Thế thì em oán mẹ em nhỉ?

- Không. Mẹ em không có tội. Người làm ra tội là bố em, đã nhẫn tâm bỏ mẹ em ngay từ ngày em còn ở trong bụng. Nhưng tội to hơn cả là dư luận của xã hội. Họ dồn cả sự khinh bỉ bố mẹ em vào đầu em, là đứa con hoang.

Xuy-dan sụt sịt:

- Ở đời này, thiếu gì đàn bà con gái chơi ngang, và thiếu gì thằng, thiếu gì con đáng khinh bỉ, đáng bị đối xử tàn nhẫn hơn đứa trẻ hoang vô tội, hở anh? Nên gọi chúng nó là con hoang mới đúng. Ấy là những kẻ hại dân, hại nước, phản thầy, phản bạn, không xứng đáng là con cháu Rồng Tiên.

Thừa run run, dập điếu thuốc lá chưa hút hết, để châm điếu mới.

- Em ở với mẹ em được ba năm, thì mẹ em chết. Chắc rằng những năm này, mẹ em bị khinh bỉ là gái đẻ hoang, ông bà ngoại em nuôi em. Nhưng em không được coi như cháu chính thức. Em sợ sệt cả nhà, không dám cười to, không dám nói to, không dám đi mạnh. Các cháu khác cần gì, thì các cậu, các dì giúp đỡ. Còn em thì toàn làm lấy. Thế mà không ngày nào em không phải đòn, phải chửi, phải nhiếc móc. Thành thử lúc nào em cũng len lét như chuột ngày. Những việc này, sau này người lớn kể lại, em mới biết. Đến năm em đủ tuổi đi học, ông ngoại em xin giấy khai sinh cho em. Vì con hoang không phải khai tên bố, cho nên trong giấy khai sinh của em, bỏ trống chỗ tên bố. Ông giáo nhận đơn, xem khai sinh, biết em là con hoang, thì không muốn cho em vào trường, ông em phải khấn hai đồng bạc, ông ấy mới cho em học lớp đồng ấu. Em được lên các lớp trên. Nhưng từ thầy giáo đến các bạn bè đều biết em là đứa con hoang. Các thầy luôn luôn dọa đuổi em. Các bạn không thèm chơi với em. Song, vì em chẳng có lỗi gì, nên em được học đến lớp sơ đẳng. Em đỗ sơ học yếu lược, cả phần chữ Pháp, nên được lên ngay lớp nhì năm thứ hai. Nhưng ông giáo lớp này ngại rằng có đứa con hoang lẫn vào trong lớp, thì xấu lớp, và hại học trò khác, ông định không nhận em. Ông em lại phải lễ ông ấy tiền. Học lớp nhì và lớp nhất em là hạng giỏi, nhưng không thầy giáo nào dám cho em điểm cao. Thành thử ở lớp nào em cũng xếp hạng vào gần bét. Em đỗ tiểu học Pháp Việt. Nhưng đến kỳ thi vào ban cao đẳng tiểu học, tất cả các bài em đều làm tốt, mà em vẫn bị đánh hỏng. Em hiểu là chỉ vì giấy khai sinh của em không có tên bố, cho nên trường nào cũng không muốn nhận một đứa con hoang, làm xấu trường, hại bạn.

Thừa rót một chén nước, đưa cho Xuy-dan nhấp giọng.

Xuy-dan uống một hụm, rồi tiếp:

- Lại còn tên của em nữa. Chẳng biết vì lẽ gì, bố mẹ anh đặt tên cho anh là An-be, chứ ông bà em có đặt cho em tên là Thúy-gian đâu. Ông bà em đặt tên là cái Thúy. Nhưng ở góc phố, có hai đứa trẻ tên là Thúy. Cho nên muốn phân biệt, người ta gọi cái Thúy kia là Thúy-ngay, còn em là con hoang, thì gọi là Thúy-gian. Hai tiếng Thúy-gian được gọi quen miệng, thành thử em mang tên kép, để suốt đời đeo bên mình tiếng chửi rủa thâm độc.

Thừa thở dài:

- Thế tại sao em bằng lòng làm nghề này?

- Có gì là lạ? An-na nó lấy số cho em rồi. Em không bằng lòng, thì nó đánh chết. Vả lại, em nghĩ như thế này. Vốn đời vẫn yên trí là đứa con hoang thì thế nào cũng giống mẹ về mặt hư đốn. Ngay cái năm em học lớp nhất, đã có vô số người theo em, định làm hại em. Cả một thầy giáo dạy em, đã có lần muốn lừa em. Nhưng lừa không nổi, thầy ấy tức em có nhiều con trai theo bám, mới xin đuổi em, lấy cớ là hạnh kiểm em xấu. Nhưng hạnh kiểm em không xấu, em vẫn được học và thi đỗ. Song, vì đời cố làm nhơ bẩn một đứa con hoang, nên sau hết, tuy em tránh nổi thủ đoạn của đời, nhưng em cũng bị nghi là đứa con gái mất trinh. Tiếng xấu xa đến tai ông bà em. Em bị trận đòn thừa sống thiếu chết, ông bà em đuổi em đi. Em nhục nhã, muốn tự tử. Nhưng em suy nghĩ kỹ. Em phải sống, để báo thù đời đã khinh bỉ, rẻ rúng, hất hủi, và vùi dập oan uổng một đứa con vô tội.

Thừa lắc đầu:

- Em nói là em báo thù đời, nhưng thực sự là em hủy hoại đời em đấy chứ?

- Phải, để em chết khổ chết sở thì đời mới hối hận là đã giết oan em.

Thừa mỉm cười:

- Chưa chắc đã hối hận. Vì đời là ai? Có phải là một người đâu?

- Đành vậy, nhưng sau khi em chết, nếu người ta kể chuyện lại đời em cho nhau nghe, thì hẳn người ta phải thấy là ác với đứa trẻ vô tội.

Thừa nói:

- Anh khuyên em đừng hủy hoại thân em. Em có thể làm nghề khác, nếu làm tốt, thì đời sẽ quý em như mọi người đáng quý khác. Em không muốn ở Hải Phòng để khỏi trở lại nhà chị An-na Phán nữa. Anh tán thành. Em là của anh, chứ không phải của chị An-na Phán. Chị An-na Phán đuổi em, em có quyền bỏ chị ấy, không cần nói với chị ấy. Anh sẽ bênh em. Nhưng dù sau này ở đâu, em cũng không nên bước vào nhà chị An-na Phán nào khác nữa.

- Thế thì lấy gì mà sống?

- Em đỗ tiểu học Pháp Việt, em có thể đi dạy học tư.

- Nhưng ai thèm mượn đứa con hoang dạy học, nhất là đứa con hoang ấy lại đã là gái giang hồ?

- Em không lo. Bây giờ em điều đình với bà chủ nhà này cho em ở trọ. Nếu bà không bằng lòng, thì em xin thuê lại một giường. Nếu cũng không được, thì em tìm chỗ khác mà thuê. Nếu em sợ không có tiền, thì anh giúp. Anh sẽ tìm việc cho em. Anh muốn kéo em ra khỏi hiện tại. Em nghĩ thế nào?

Xuy-dan vui sướng:

- Em không hiểu anh là gì mà tử tế, thương xót em như thế. Cha mẹ bạc bẽo, chả nói làm gì, đến ông bà ngoại em, các cậu, các dì em cũng không tử tế, thương xót em như anh. Vậy em là đứa con không bố, em nhận anh là bố. Tuổi em cũng chỉ bằng tuổi con anh thôi.

Thừa lắc đầu:

- Không. Ta nhận nhau là anh em thôi.

Xuy-dan cười rồi hỏi:

- Đã là anh em, chẳng lẽ em không biết đời anh hay sao? Vậy anh cho em biết đi.

Thừa lảng:

- Em có chồng sắp cưới nhỉ.

Xuy-dan gật:

- Phải. Thì em gặp anh. Thế là em ngoặt sang con đường khác.

Thừa thở dài:

- Tội anh to quá! Anh là đứa ác, vùi dập thêm đời em!

Xuy-dan mím miệng:

- Anh đừng nói thế. Vì anh chỉ là người vô tình mà làm nên tội ác. Thủ phạm chính, là cả xã hội. Thôi, anh nói đi, đời anh hẳn sướng lắm.

Thừa thở dài:

- Em chỉ nên biết anh từ ngày chúng ta gặp nhau thôi. Anh là người thương em. Và thương em mãi mãi.

Xuy-dan vờ vùng vằng:

- Không. Chẳng lẽ anh lại là một nhân vật trong tiểu thuyết thần thoại, trời sai xuống cứu em!

Thừa nghiêm nét mặt:

- Em chỉ nên biết là anh sắp làm chủ hãng tàu thủy chạy các đường ngắn, vì anh mới mua lại của hãng Phúc Lai Thành hai chiếc tàu cỡ nhỏ.

Xuy-dan mừng rỡ:

- Ừ, ít ra em cũng biết công việc của anh về tương lai. Thế còn hiện tại?

Thừa đùa:

- Hiện tại, anh là người của em, biết thương xót em.

- Quá khứ?

Thừa lắc đầu:

- Thôi.

Xuy-dan cũng nghiêm mặt:

- Thế là anh không muốn cho em nhận cái ơn của anh à?

Thừa thở dài:

- Nếu anh kể quá khứ của anh thì dài quá. Nhưng nói ngắn lại, Xuy-dan ạ, anh là người làm hại đời, tạo nên những người thù ghét đời như em. Có lẽ vì thế nên trời dun dủi cho anh gặp em để hại em, nhưng cũng để anh ở lại với em mà chuộc tội.

Xuy-dan cười:

- Thật là khó hiểu.

Thừa đáp:

- Không khó hiểu. Em ở với anh lâu, sẽ hiểu anh thôi.

anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc k
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.