Anh Thừa và ông Hoài Tân Tử đến nhà ông Lăng thì ông này đi vắng, chưa về.
Hai người ngồi chờ ở buồng khách.
Nhà văn sĩ rung đùi một lúc, rồi mở cái cặp vải đen, lấy tập bản thảo, ti tỉ ngâm một mình. Trong khi ấy, để tiêu thì giờ, anh Thừa ngắm nghía xung quanh.
Cái nó đập vào mắt anh, là những cửa ở trong buồng này. Có hai cửa sổ, thì không đều nhau, chiếc to, chiếc nhỏ. Chiếc to có chấn song hoa, thì chiếc nhỏ lại chấn song thẳng. Và chiếc nhỏ có đủ cả kính lẫn chớp, nhưng chiếc to chỉ có hai cánh chớp. Để ra vào thông với lớp trong, đáng lẽ không cần có cánh cửa, vả nếu có, thì hoặc là cửa kính, hoặc là cửa ván đặc, thì ở đây không có nắng, nhưng lại lắp cánh của chớp chắn nắng.
Thấy những cửa lạ kiểu như vậy, anh Thừa nghĩ mà không thể tự cắt nghĩa là tại làm sao.
Bỗng có tiếng nói to ở ngoài hè phố. Ông Hoài Tân Tử vội vàng xếp bản thảo vào cặp, rồi hất hàm, tủm tỉm, bảo anh Thừa:
- Đã về đấy. Đương cãi nhau với cu-li xe.
Anh Thừa nắn lại khăn, sờ lại khuy áo cổ, để giữ tư thế một người viết báo Nam Phong trước mặt người mà anh gặp để điều đình một việc hệ trọng.
Hai cánh cửa mở rộng. Hai người đi vào. Anh Thừa cùng ông Hoài Tân Tử đứng dậy. Anh Thừa cúi đầu chào. Anh chưa biết hai người này, ai là người sáng lập báo Chấn Hưng.
Một người béo tốt, mặc quần áo ma-ga thâm, tóc chải lật, cổ bẻ, cà-vạt đỏ, trên ngực đeo hai chiếc cuống mề-đay. Một người trán giồ, mắt ti hí, mồm hơi méo, răng đen, mặc áo dạ tím cổ đứng, quần ka-ki vàng, ống hẹp và ngắn trên đôi giày đen có cổ cao. Anh đoán ngay người có dáng bệ vệ phải là ông thầu khoán giàu.
Nhưng không phải. Khi ông nhà văn giới thiệu, thì chính cái ông ăn mặc như cai thầu lại là chủ thầu.
Ông Lăng giới thiệu người béo tốt:
- Xừ Tuynh.
Bốn người bắt tay nhau. Riêng ông Lăng bắt tay anh Thừa thật chặt và thật lâu:
- Xin lỗi các ngài nhé. Tôi sai hẹn, làm các ngài phải đợi.
Anh Thừa đáp:
- Chúng tôi cũng mới đến được vài phút thôi.
Ông Lăng mời ba người ngồi, rồi trỏ anh Thừa, nói với xừ Tuynh:
- Ông Thừa đây.
Xừ Tuynh sáng ngời đôi mắt, toét miệng cười:
- Vẫn được nghe đại danh. Nay mới diện kiến. Rất hân hạnh quen ngài.
Rồi xừ tặc lưỡi, lắc đầu để tỏ ý thán phục:
- Văn thơ ngài, tôi mê lắm.
Ông Lăng hỏi:
- Xừ đã đọc nhiều của ngài đây?
Xừ Tuynh gật đầu, cười thật to:
- Chả bỏ được bài nào cả.
Ông Lăng hân hoan, hỏi anh Thừa:
- Ngài ký biệt hiệu hay tên thật ạ?
Anh Thừa đương thú về cái anh vu vơ nhận là độc giả, lại khen trước mặt chủ, thì tiền đầu thế là lợi lắm. Bây giờ bỗng nghe ông Lăng hỏi câu ấy, anh giật nảy mình, như thấy tiếng sét đánh ngang tai. Anh ngượng với ông tri kỷ Hoài Tân Tử, đương chưa biết trả lời thế nào, thì ông văn sĩ đã đáp hộ:
- Ông bạn tôi thì lắm biệt hiệu lắm.
Xừ Tuynh lại lắc đầu và lắc thêm cả ngón tay trỏ:
- Nhưng đọc bài của ngài, dù ký tên gì, tôi cũng nhận ra ngay. Văn của ngài trộn đâu cũng không lẫn. Thật là hay. Nếu Đông Dương tạp chí mà không có ngài viết giúp, có lẽ không ai buồn đọc nữa.
Ông Lăng ngớ mặt:
- Sao bảo ngài viết Nam Phong?
Ông Hoài Tân Tử được dịp để lột mặt nạ thằng cha nịnh hót láo:
- Vâng, ông Thừa viết Nam Phong. Chắc xừ Tuynh lầm ông Thừa với ai đấy ạ.
Xừ Tuynh bẽ, cười lạt, rồi đứng dậy, nói với ông Lăng:
- Xin phép cụ. Để cụ còn tiếp chuyện hai ngài. Xin cụ lưu ý cho.
Xừ bắt tay ba người rồi ra cửa.
Ông Lăng mời hai vị khách quý ngồi. Nhưng bỗng ông đứng phắt dậy:
- Không. Ta lên gác thì hơn. Ngồi đây, lỡ có ai vào, ta không nói được chuyện.
Sợ anh Thừa không hiểu, ông nhìn anh, híp mắt cười cho ra dáng thân mật:
- Khách quý, bao giờ tôi cũng tiếp ở buồng riêng.
Ông giơ tay mời ông Thừa và ông Hoài Tân Tử đi trước:
- Tiền khách hậu chủ, rước hai ngài.
Anh Thừa nhã nhặn mời lại:
- Xin cứ theo tục Đông phương, tiền chủ hậu khách.
Ông Hoài Tân Tử sốt ruột:
- Phải, mời cụ đi trước, kẻo chúng tôi không biết đường.
Ông Lăng nghẹo cổ:
- Xin lĩnh tôn ý.
Ông nhanh nhẹn bước lên. Ra đến sân, ông đứng lại, gọi anh người nhà, nói nhỏ để dặn dò, rồi nhìn khách, cười xòa. Đoạn ông trỏ hai lớp trong và lớp ngoài của căn nhà, và nói một cách hãnh diện:
- Nhà này làm trong la-ghe[1], ma-tê-ri-ô[2] đương khan hiếm, năm ấy tôi lại làm ăn chưa được như bây giờ, thế mà tôi kiếm được cả xi-măng lẫn phe[3]. Không phải tay ăng-trơ-prơ-nơ[4], đố ai xoay nổi.
Anh Thừa sực nghĩ đến cái nợ của anh ở trước cửa trường Cửa Đông. Anh so sánh với cái nhà gia dụng này.
Anh lấy tay gõ vào những cánh cửa bằng lim dày, gật gật, nói nhỏ với ông Hoài Tân Tử để khen. Nhưng có lẽ ông Lăng không nghe rõ là ông được nịnh hót, nên ngượng, vội vàng cười lạt:
- Nhà không đẹp, nhưng sô-lít[5] lắm, ông ạ. Những khuôn cửa này là tôi mua lại của các nhà tây, góp nhặt dần từng cái trong hơn hai năm. Gặp món gỗ tốt và rẻ, tôi trữ mỗi bận một tí. Rồi năm thì tôi vôi, năm thì mua gạch ngói, cuối cùng tôi mới xây hẳn thành nhà.
Anh Thừa tặc tặc lưỡi để tỏ ra là kính phục ông chủ căn cơ. Nhưng trong bụng, anh cười thầm cái thằng tính toán chi li quá mức.
Lên đến gác, tự nhiên ông Lăng đứng dừng lại, đập tay vào hai túi quần kêu loảng xoảng, ông lấy tất cả hào và xu ra, cúi xuống, nhét vào các kẽ nhỏ rải rác trên mặt sàn. Thấy hai vị khách trố mắt nhìn, ông nói:
- Đây là chỗ để ê-cô-nô-mi-dê[6] tiền của gia đình. Tôi, ma-phăm[7], mê-dăng-phăng[8], thỉnh thoảng ai có tiền lẻ, thì cất vào trong trần này. Ê-cô-nô-mi-dê mà bỏ ống, thì lúc túng tất bổ ống ra. Nhưng cho vào đây thì chịu phép, vả lại, trên sàn có nhiều kẽ, ai muốn bỏ vào kẽ nào thì bỏ, tức là chả ai biết chỗ nào có bao nhiêu tiền. Không có lẽ bổ cả sàn gác ra mà lấy tiền, sở dĩ tôi làm như vậy, là vì tôi trông xa. Sau này, nói đổ xuống sông xuống biển, ngộ chúng tôi sa sút, hoặc mê-dăng-phăng nghèo túng, thì cũng cứ phải giữ cái nhà này để ở. Bán đi thì mất món tiền trong trần, có thể là to rồi. Đến khi cái nhà mình hỏng, muốn rê-pa-rê[9], anh em chúng nó khỏi phải đùn nhau bỏ tiền, cứ việc phá cái trần nát mà lấy món để dành ra thôi.
Anh Thừa lắc đầu lè lưỡi, nhìn ông Hoài Tân Tử.
Ông Lăng mời hai người ngồi quanh cái bàn bằng gỗ tạp. Anh người nhà bưng cái khay bày ba chiếc cốc với một chai rượu bia. Ông Lăng khoe:
- Quý vật đãi quý nhân! Bia này là hạng ăng-xi-ăng[10], bây giờ làm gì có! Tôi bỏ quên trong gậm sập mười một chai từ mấy năm nay, hôm qua dọn dẹp mới lại thấy. Thật là buồn cười.
Cả ba cùng cười cái việc không buồn cười.
Khi ông Lăng cho là chuyện vui đã nói đủ, ông mới bắt đầu vào công việc. Ông ngồi nghiêm trang lại, xoa hai bàn tay vào nhau:
- Thưa hai ngài, hôm nay chúng tôi mời hai ngài đến để bàn bạc việc mở báo, được hai ngài không quản bận bịu, hạ cố đến tệ xá, chúng tôi cảm động lắm. Chúng tôi cảm ơn ngài (ông nhìn ông Hoài Tân Tử) đã điều đình với ngài đây (ông trỏ vào anh Thừa) thôi việc mở báo của ngài để cộng tác với tôi. Hôm nay được tiếp hai ngài, tôi lấy làm hân hạnh lắm.
Cả hai vị đều lễ phép trả lời:
- Không dám.
- Chúng tôi là người biết retx-pếc-tê[11] nhà văn tự, các bậc đã lao tâm khổ tứ đem ngòi bút dìu dắt những người lao động như chúng tôi…
Ông Hoài Tân Tử ngắt lời:
- Xin giao hẹn thế này. Chúng ta nhất kiến vi cựu, thì nên xưng hô thế nào cho thân. Xin rằng cụ nhiều tuổi, chúng tôi coi như đàn anh, thì cụ cho phép chúng tôi gọi cụ bằng cụ. Còn cụ gọi chúng tôi bằng ông.
Anh Thừa gật:
- Đúng. Xin cụ cứ gọi thế để dễ nói chuyện. Vả chúng ta là những người chuộng thực tế, thì xin bớt những xã giao, khách sáo thì hơn.
Ông Lăng đáp:
- Vâng, hay lắm.
Ông Tình muôn thuở cười:
- Thế thì tôi xin nói trước, cụ chủ đây muốn mở tờ báo hàng ngày, lấy tên là Chấn Hưng. Cụ nhờ tôi đi mời người đứng chủ bút để thành lập tòa soạn. Thì bây giờ, vị sáng lập đây, vị chủ bút đây, mời hai vị thương lượng với nhau.
Ông Lăng nói với anh Thừa:
- Vâng. Chắc ông Hoài đã nói rõ với ông về mục đích của tờ báo.
- Đã ạ. Mục đích là chấn hưng tất cả các mặt trong xã hội ta. Rất hay!
Ông Lăng ngớ mặt:
- Còn cái mục đích chính, là tờ báo mở ra, tôi đứng tên sáng lập, để sang năm ứng cử nghị viên tư vấn Bắc kỳ. Xin ông nhớ kỹ cho.
Anh Thừa đáp:
- À vâng, tôi quên, không nói mục đích chính trước.
Ông Lăng hể hả:
- Tôi xin bỏ tất cả tiền ra, chỉ nhờ ông làm thế nào cho báo xuất bản sớm ngày nào hay ngày ấy, và làm sao lấy được nhiều ê-lếc-tơ[12], cho đến ngày bầu cử. Hai ông là những tay làm báo kỳ cựu, chắc là rất thạo nghề. Vậy tôi xin hai ông bàn cho kỹ, xem báo có những mục gì, cần mấy người trong tòa soạn, dự tính mỗi tháng phí tổn bao nhiêu, đến tháng thứ mấy thì tôi không phải bỏ vốn ra, tháng thứ mấy thì thu được lãi. Rồi hai ông cho tôi biết, để tôi trù tiền. Xin nói trước rằng tôi không là người chắt bóp. Khi phải cần tiền, tôi không dám tiếc. Tôi khoán tất cả các việc cho ông chủ bút.
Anh Thừa nhắc lại cho ông Lăng nghe những điều mà ông Tình muôn thuở đã dạy anh. Anh nói rành rọt, biết nhấn mạnh vào những mục quan trọng, y như một tay báo lõi đời, đến nỗi ông văn sĩ vừa nghe, vừa gật gù, khen là đúng. Nhưng ông thầu khoán mỉm cười:
- Tôi thì cứ như vịt nghe sấm. Thôi, việc tòa soạn tôi cứ phó mặc ông. Chỉ mong sao báo ta có được nhiêu ê-lếc-tơ, ta có nên lấy ông Quỳnh, ông Vĩnh về báo ta không nhỉ?
Ông Hoài Tân Tử bật cười:
- Các ông ấy là chủ báo, lấy thế nào được?
- Ồ, thế sao bảo các ông ấy làm thuê cho chính phủ. Nếu không, thì có thể lấy những người viết báo Nam Phong về được không?
- Cũng không được. Sở dĩ tôi mời được ông Trần cộng tác với cụ, một là vì ông là bạn thân của tôi, hai là vì ông muốn mở báo riêng, chứ không định giúp báo Nam Phong lâu.
Anh Thừa đỡ lời:
- Đúng thế đấy ạ.
Ông Lăng nói:
- Tôi biết rồi. Nhưng tôi nghĩ thế này. Dù là viết báo Nam Phong, thì các ông ấy cũng phải ăn lương. Vậy ông Trần có thể lấy tình ca-ma-rát[13] mà lôi kéo các ông ấy về làm báo của ta không? Tôi tưởng việc này không khó, vì đáng các ông ấy ở báo Nam Phong ăn ca-răng[14], thì ta tăng lên xanh căng[15], ai lại chê đồng tiền bao giờ.
Anh Thừa lắc đầu:
- Các ông ấy không đi đâu.
Ông Hoài Tân Tử đỡ lời:
- Ông Trần nói đúng, bởi vì các ông ấy không quen làm báo hàng ngày, các ông ấy chỉ quen viết bài khảo cứu, nghị luận ở tạp chí. Tạp chí với báo hàng ngày khác nhau.
Ông Lăng hỏi:
- Thế ví dụ như trong nghề thầu khoán của tôi, thì cái gì là tạp chí, cái gì là báo hàng ngày?
Ông văn sĩ lắc đầu:
- Câu hỏi này khó đấy. Giá mà nằm quanh bàn đèn, tán róc với nhau một lúc, thì ra câu trả lời ngay. Bây giờ tôi chỉ có một mình, lại không ở trong nghề thầu khoán, nên không biết thế nào để ví dụ được.
- Thế thì khó hiểu lắm nhỉ. Này nhé, nhà nước muốn đắp một con đường, gọi chúng tôi đến bỏ thầu. Thì trước hết chúng tôi phải biết con đường ấy ở đâu, dài ngắn bao nhiêu, quanh đấy, đất cát hợp lệ gần hay xa, có tiếp giáp với hồ ao nhiều không, giá cả cu-li[16], tre pheo, thế nào, nhà nước đặt giá bao nhiêu một thước, có thể làm được không, hay bỏ thêm, bớt bao nhiêu, thì tranh được bạn đồng nghiệp. Và khi mình được thầu, phải làm thế nào mới có lãi. Đến lúc nhúng tay vào việc, mình phải mặc cả với ta-sơ-rông[17] thế nào, hàng ngày phải xem xét cu-li và đất cát có đúng như minh định hay không. Rồi lĩnh tiền thế nào, chi tiền thế nào. Ngày mưa, nắng, cho làm thế nào, bớt xén bao nhiêu tiền công. Vân vân. Đấy, như vậy thì thế nào là tạp chí, thế nào là báo hàng ngày, xin ông cho biết?
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Ví dụ làm báo với việc thầu không đúng lắm. Nhưng đại khái như thế này. Bây giờ nhà nước cho mình thầu đường. Thì tất nhiên muốn làm, cụ phải đem sự lịch duyệt trong nghề của cụ và của các ông đồng nghiệp ra để tính toán, xem làm thế nào thì được và có lãi. Tức là cụ đã làm việc khảo cứu, nghị luận của tạp chí đấy. Khi nhúng tay vào thầu, hàng ngày cụ phải đến phần đường để nhìn công việc tận mắt, xem có đúng với ý định hay không. Thế là cụ làm việc của báo hàng ngày đấy.
Ông Lăng ngẩn mặt ra nghĩ, rồi hỏi:
- Ừ, thế sao làm việc nhìn tận mắt lại có nhàn đàm hài đàm, với thơ?
Thấy câu ngớ ngẩn và đột ngột, ông Tình muôn thuở nín cười. Bỗng ông đập vào đùi, nói:
- À, thế này. Viết tạp chí chẳng khác gì làm cô đầu hát, chả già cũng đứng đắn, mà viết báo hàng ngày thì là cô đầu rượu, trẻ và nhí nhảnh.
Ông Lăng cười hà hà:
- Thế thì tôi hiểu rồi. Nhưng tôi tưởng làm tạp chí với làm báo hàng ngày, tuy hai việc, nhưng một người có thể kiêm được cả. Vì như trong nghề ăng-trơ-prơ-nơ, tôi tính toán, rồi chính tôi đi xem xét công việc.
- Nhưng làm báo khác ở chỗ tính toán là một người, còn xem xét công việc là một người khác. Người nào làm chuyên việc của người ấy. Nếu làm việc của người kia thì bỡ ngỡ, vụng về, có khi lại hỏng nữa. Bắt cô đầu hát mời rượu thì khách chán, bắt cô đầu rượu hát, thì như chọc vào lỗ tai quan viên.
Anh Thừa giảng thêm:
- Thế này là khác nhau nhé. Báo Nam Phong là quyển sách, mỗi tháng ra một kỳ, có bài dài ba bốn chục trang. Báo Trung Bắc là hai tờ giấy bốn trang rộng, ngày nào cũng ra một số, có bài chỉ ngắn mươi dòng.
Ông Lăng trố mắt:
- À, phải nhỉ. Tôi cứ tưởng người đã thạo làm báo, thì làm báo nào cũng được.
Anh Thừa thêm:
- Cho nên Nam Phong gọi là tạp chí, Trung Bắc gọi là nhật báo.
Ông Lăng gật gật:
- Vâng, vâng, tôi không lẫn lộn nữa.
Ông Tình muôn thuở nói:
- Ngay như chúng tôi cũng vậy, quốc dân cũng hay lẫn lộn cái tên gọi. Hễ thấy chúng tôi đăng thơ hay tiểu thuyết lên báo, thì người ta gọi ngay chúng tôi là nhà báo. Thế là không đúng. Vì có nhà báo không làm thơ, viết tiểu thuyết được, cũng như có người viết tiểu thuyết và làm thơ, mà chỉ in thành sách, chứ không viết báo bao giờ.
- Vâng, cũng như trong nghề chúng tôi, có ngươi thầu đường sá, có người thầu nhà cửa, có người thầu mua bán cho nhà nước, lại có người làm cai thầu nhận việc với các chủ thầu, nhưng người ta cứ gọi chung một tên là ăng-trơ-prơ-nơ. Tôi xin lỗi các ông, đã trót làm các ông mất nhiều thì giờ để giảng cho tôi nghe, vì tôi tưởng ta có thể lấy những người viết báo Nam Phong về làm với ta. Tôi lầm các ông nhà báo như bọn ta-sơ-rông, chủ nào tốt, rộng rãi, thì làm với chủ ấy.
Ông Hoài Tân Tử lại nín cười, nhưng cố nhã nhặn để nói:
- Thưa cụ, chúng tôi nghèo thực, phải đem bán học thức để kiếm ăn, nhưng trong anh nghèo ấy, có một anh có tiết tháo, biết chỗ nào là xứng đáng mới cộng tác.
Ông Lăng vội vàng nói:
- Xin lỗi hai ông. Bao giờ tôi cũng là người biết retx-pếc-tê những nhà văn tự, những vị làm báo tận tụy với việc mở mang trí tuệ cho quốc dân. Sở dĩ tôi hỏi như vậy, vì tôi nghĩ rằng, dù là nghề cao quý như làm báo, thì cũng phải công-quy-răng[18] mới có nhiều e-lếc-tơ. Nếu ta lấy được người của báo Nam Phong, Trung Bắc, thì các báo ấy không có ai viết, mà báo ta được người tài giỏi. Nghề thầu của chúng tôi cũng phải tranh cai thợ mới vững được.
- Không cần cạnh tranh bất chính. Xin cụ cứ tin cậy ông Trần. Một ông Trần cũng đủ.
Ông Lăng vui sướng, đứng dậy, nói:
- Vâng, ta còn tiếp tục câu chuyện. Bây giờ tối rồi, xin mời hai ông đi xơi cơm với tôi, một bữa cơm rau dưa, nhưng mà thân mật. Tôi định ăn xong, tôi mời hai ông đến phố Hàng Bò, xem cái nhà tôi xếp làm tòa báo. Ở đấy rộng rãi, giá ông chủ bút không khó tính, tôi mời ông đến ở ngay đấy, thì tiện cho công việc lắm.
Anh Thừa như được gãi đúng chỗ ngứa, thì vui sướng lắm. Nhưng ông Hoài Tân Tử thấy thiếu cái mà các tay chơi vẫn gọi là Phần thứ hai của những bữa tiệc, tức là xuống xóm để đập trống và trô, thì ông hơi ngạc nhiên, ông vừa cười vừa hỏi:
- Xem nhà xong thì chúng tôi về chứ?
Ông Lăng lắc đầu:
- Không, chả mấy khi. Các ông bận mấy cũng cho tôi được tiếp đến hai giờ sáng.
Nhà văn sĩ hiểu ý, cười hề hề.
* * *
Ông Lăng sửa soạn đi với khách, ông mở khóa tủ, lấy ra một chai rượu ngâm thuốc, ông híp đôi mắt để cười:
- Cái này tốt hơn mai quế lộ. Mai quế lộ đắt, mà không bổ.
Ông lấy mảnh nhật trình bọc chai rượu, để cầm đi cho kín.
Ra đến hè đường, ông nhìn trước nhìn sau, nói:
- Hai ông chờ tôi một tí nhé.
Rồi hấp tấp đi một mình ra phía đầu phố. Thấy vậy, ông Hoài Tân Tử cười, nói khẽ với anh Thừa:
- Tay này đá lắm. Phải mời mình đi ăn và đi hát là hắn xử đặc biệt quá rồi đấy.
Anh Thừa gật đầu:
- Nhưng lại đem rượu nhà đi! Cỏ rả nhỉ!
Hai người cùng rúc rích, ông nhà văn dặn:
- Tôi biết là hắn còn muốn nói về việc mở báo nhiều nữa. Nếu hắn có điều đình riêng với bác điều gì, bác cứ ừ hữ thôi nhé. Để ta bàn với nhau đã. Tay này gớm lắm đấy. Vỏ quýt dày phải có móng tay nhọn.
Lúc ấy, ông Lăng đã đi trở lại. Theo sau ông, là hai chiếc xe sắt.
Ông Hoài Tân Tử liếc nhìn anh Thừa, tủm tỉm cười. Ông Lăng nói như để phân bua:
- Không có xe cao su! Nào, mời hai ông.
Anh Thừa toan lên ngồi với ông nhà văn một xe, thì ông thầu khoán mời:
- Ông lại đây với tôi. Để ta nói chuyện.
Ông nhường anh Thừa lên xe trước, rồi ngồi ở cạnh. Xe đi được vài bước, ông vuốt vai anh Thừa, hí hí cười. Anh Thừa cũng cười trả lại. Anh chờ. Tất nhiên, ông này sắp điều đình với anh một việc gì mà ông cho là khó khăn, nên đương ngập ngừng đây.
Ông Lăng lại hi hí cười bằng cái cười không đúng lúc rồi hỏi:
- Nghe nói ông mua phải cái nhà sắp đổ phải không?
- Vâng, sao cụ biết?
- Ông Hoài nói cho tôi nghe, ông đã bán cho ai chưa?
- Chưa. Ai dại như tôi mà rước cái của nợ về làm gì?
Anh Thừa vẫn chưa hiểu ông Lăng định nói gì mà phải loanh quanh mào đầu bằng cái việc vô tình đã khêu gợi lại trong lòng anh nỗi bực mình và lo lắng.
- Ông để lại cái nhà cho tôi nhé.
Anh Thừa ngạc nhiên nhìn ông Lăng. Rõ ràng mặt ông thầu khoán không có vẻ nói đùa. Vậy ông muốn gì mà phải loanh quanh dai để lấy lòng anh thế? Anh tránh những lời khách sáo, hỏi:
- Cụ mua làm gì?
- Mặc tôi. Ông định bán giá bao nhiêu?
Anh Thừa càng ngạc nhiên. Anh cũng bật cười nữa. Hẳn là lộc ông nhà thầu sắp đến ngày hết, nên đã dại dột mà nghe mồm mép ông nhà văn rước một thằng đặc cán táu về làm chủ bút báo. Nay ông ta lại điên rồ, mua một cái nhà mà để chóng tuyệt nghiệp hay sao! Anh đáp:
- Tôi tậu một nghìn năm chục. Có văn tự hẳn hoi đấy. Ấy là chưa kể món tiền duyệt tòa. Mai rỗi, mời cụ đến nhà mà xem.
Ông Lăng lại vuốt vai anh:
- Tôi biết rồi. Tôi không cần đến xem, lỡ nó đổ thì toi mạng. Đành rằng ông mua một nghìn năm chục, nhưng bây giờ ông định giá bao nhiêu?
- Tôi tậu thế đấy. Còn thì tùy cụ.
- Nhà rộng bao nhiêu thước nhỉ?
- Hai trăm ba mươi hai thước
- Đơ xăng trăng đơ mét[19].
Ông Lăng lẩm nhẩm tính trong miệng.
Trong khi ấy, anh Thừa hết sức lạ lùng về cái ông thầu khoán quái gở này. Ông muốn lấy lại cái nhà của anh thật chứ không phải bỡn. Thì ra ông cần ngồi cùng xe với anh để thực hiện ý định của ông. Và ông đã đi thẳng vào vấn đề, chứ không phải loanh quanh. Phải. Anh đã lầm. Một người cỏ rả, chỉ biết có đồng tiền, thì không màu mè. Song, dù sao thì bây giờ, cái nhân phẩm kém cỏi của ông cũng cất giúp cho anh một gánh nặng. Anh liếc nhìn, thấy ông vẫn đương lẩm nhẩm tính.
Một lát, ông Lăng nói:
- Ở phố ấy, đất giá ba hào một thước, vị chi là chưa đến bảy mươi đồng. Gạch bây giờ cũng có mười lăm đồng một nghìn. Dỡ nhà ra, gạch nguyên chả còn mấy. Nhiều lắm, bán được đơ xăng biết[20] thôi. Còn những gỗ nát thì làm củi cũng không đáng. Vậy chỗ anh em nể nang, tôi cứ xin đưa ông đơ-xăng-xanh-căng[21].
Anh Thừa lạnh toát người, ông Lăng nói:
- Ông để lại cho tôi, thì được hai trăm rưỡi. Nếu không, ông mất thêm hai trăm rưỡi nữa. Vì đến lúc nhà đổ, ông phải thuê dọn dẹp. Còn bị nhà nước phạt cho là khác. Lỡ mà lại rơi gạch ngói vào đầu lính Tây đi đường, thì còn mất khối tiền đền, chứ hai trăm rưỡi mà đủ à?
Anh Thừa thở dài:
- Đời thuở nào một cái nhà gạch ở Hà Nội, mà lại có hai trăm rưỡi bạc, hở cụ?
Ông Lăng cười:
- Được đồng nào hay đồng ấy, ông ạ.
Yên lặng một lát, ông tiếp:
- Thôi này, chẳng lẽ ông là chủ bút, tôi là sáng lập mà chúng mình cò kè với nhau, thì mất cả cao thượng đi. Vả lại chúng mình là đàn ông, ông không quen nói thách, mà tôi cũng không quen mặc cả nhiều. Thôi thì tôi cứ đưa ông đơ-xăng-xoa-xăng[22] để xin ông một điều, là ông viết trong văn tự là đơ min[23]. Thế thôi.
Anh Thừa ngớ mặt hỏi:
- Để làm gì?
- Làm gì mặc tôi.
Anh Thừa e ngại. Không rõ ông thầu khoán có âm mưu gì hại anh không. Anh hỏi:
- Bán hai trăm sáu, mà viết văn tự hai nghìn, có sợ nhà nước lôi thôi không nhỉ?
- Nếu ông bán cho tôi đơ min, mà chỉ viết vào văn tự có đơ-xăng-xoa-xăng, thì nhà nước bảo là mình lậu tiền duyệt. Còn như thế này, thì nhà nước bẻ mình vào đâu? Cũng như ông đã mua cái nhà ấy với giá một nghìn năm chục, là thuận mua vừa bán, nhà nước nào can thiệp vào được. Và cái nhà ấy, nếu tốt, thì mới đáng đơ min chứ?
Anh Thừa nghe rất có lý. Tòa án đã không xử anh được vụ kiện bị lừa đảo, là cũng vịn vào cớ thuận mua vừa bán. Ông Lăng lại tiếp:
- Vả lại văn tự viết đơ min, mà tôi pay-dê[24] ông có đơ-xăng-xoa-xăng, thì nếu ông là người lật mặt, ông có thể kiện tôi, chứ tôi kiện ông vào ngõ nào?
Anh Thừa cười, im lặng để nghĩ. Thế thì cố nhiên ông Lăng không dại như anh. Vậy ông ta khôn ở chỗ nào. Ông Lăng thấy anh chưa trả lời, thì hỏi:
- Thế nào? Ông có bằng lòng không? Nếu được, mai ta làm giấy má ngay.
Thấy ông Lăng có vẻ mặn, anh Thừa nói:
- Cụ có thể nâng giá lên tí nữa được không?
Ông Lăng cười:
- Thế là sát lắm rồi. Chỗ người lớn với nhau, ai lại để cho nhau phải mặc cả lâu. Xin nói thực với ông điều này. Tôi thì dốt nát, chả bao giờ cầm đến tờ báo, cả Nam Phong, Trung Bắc, lẫn Thực Nghiệp, mà cũng chả bao giờ dám có ý định mở báo để lấy cái danh là sáng lập, như ông Bùi Huy Tín đâu. Khi thấy ông Hoài bảo nên mở báo, lại giới thiệu ông, và nói chuyện ông có cái nhà như vậy, thì tôi quyết định ngay là mời ông về làm chủ bút. Tôi nhờ ông Hoài mời ngay ông hôm nay đến xơi cơm với tôi, để tôi nhân dịp hỏi ông về cái nhà. Ông có bán cho tôi thì việc ra báo mới nhanh được. Tôi tưởng một của vứt đi, một của nó gây tai nạn về sau này, mà còn bán nổi đơ-xăng-xoa-xăng, thì ở đời không ai may mắn như ông, và cũng không ai dại dột như tôi. Song, xin ông hiểu cho rằng tôi không dại dột. Chỉ là tôi tử tế với ông mà giúp ông thôi.
Anh Thừa không hiểu tại sao việc ông Lăng mua nhà với việc ông ta mở báo lại dính dáng với nhau. Nhưng anh không còn lý do gì mà không đẩy cái nợ cho ông thầu khoán hết lộc này:
- Vâng, tôi nể cụ như nể anh tôi. Cụ cho thế, tôi xin bằng lòng.
Rồi vẫn tiếc rẻ là bán rẻ, anh nói một câu cho đỡ bực mình, khỏi bị người mua chê là dại:
- Tôi muốn trang trải ít công nợ, nên để rẻ cho cụ hai trăm sáu. Nếu tôi cầm ở Địa ốc ngân hàng, cũng được nổi ba trăm.
Ông Lăng đáp:
- Có thể được hơn nữa kia, ông ạ. Song, nó không hơn ở cái chỗ nhà ấy vẫn là của ông, thì ông vẫn phải chịu đóng thuế, và chịu trách nhiệm khi nó đổ. Đằng này, ông dứt khoát hẳn, không phải lo lắng nữa. Mua cái nhẹ nhõm bằng mấy chục bạc, không rẻ à?
Anh Thừa thở dài. Ông Lăng cười:
- Ừ, thế là hai chúng ta, ai cũng đã suy tính kỹ cả.
Rồi ông nhắc lại:
- Dứt khoát là đơ-xăng-xoa-xăng viết lên đơ min nhé. Sáng sớm mai làm giấy má nhé.
- Vâng.
Anh Thừa thử lại ý ông thầu khoán một lần cuối cùng. Anh dọa:
- Tôi tin rằng viết như vậy không lôi thôi gì. Vì nếu cụ để khó khăn cho tôi, tức là cụ làm khó khăn cho cụ. Bây giờ tìm được một người đứng đầu tòa soạn, không phải là dễ. Mà nếu báo Chấn Hưng ra chậm, thì ngày bầu cử nó cũng cứ sồng sộc đến, chứ nó có chờ ta đâu?
Ông Lăng lắc đầu:
- Ông đừng băn khoăn, Tôi làm ăng-trơ-prơ-nơ, có không tốt, là với cai, với thợ, với phu, chứ đâu dám với các nhà văn tự. Thôi, cứ dứt khoát thế nhé.
- Vâng.
Làm xong được việc lớn trong chốc lát, ông Lăng phởn phơ lắm. Ông rút trong túi, lấy gói thuốc lá rời, bóc một tờ giấy, mời anh Thừa cuộn một điếu. Rồi xe đến đầu Hàng Đào, ông bảo đỗ lại để mua ba xu hạt dưa, chia cho mỗi người một gói.
Ông vừa cắn lách cách, vừa nói:
- Tôi còn việc nữa, muốn đề-mác[25] riêng với ông. Ông Hoài khó tính lắm. Tôi ngại nói với ông ấy.
- Vâng, xin cụ cứ cho biết.
- Ông ạ, từ ngày nghe tin tôi định mở báo, có rất nhiều người nộp đờ-măng[26] đến tôi để xin việc. Nhưng tôi chưa nhận lời ai. Bởi vì lập tòa soạn là quyền ông. Tùy ông tìm cách lựa chọn nhân tài. Nếu đông người xin việc, có lẽ ta nên sát hạch.
Anh Thừa bật cười, toan đáp, bỗng ông Lăng trỏ tay và nói to:
- Thôi, thôi. Đến nơi rồi.
Người phu xe dừng lại. Đó là nhà số 59, hiệu cao lâu Đào Thành. Biển còn trên mái hiên, nhưng cửa lại đóng. Ông Lăng hỏi:
- Quái, chưa mở à?
Ông xuống xe, đến gõ mạnh vào của. Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Cụ vào làm gì?
- Ta ăn ở đây chứ?
- Nhà này đóng cửa đến mươi hôm nay rồi, cụ không biết à?
- Thế à?
- Phải, vì ế khách!
Ông Lăng tẽn, lại lên xe:
- Kéo đến Hàng Gai nhé.
Ông định ăn ở hiệu cao lâu phía trước cây bàng cổ thụ mọc cạnh ngõ hẻm Tô Tịch. Nhưng đến nơi, ông chỉ thấy thằng Bắt Đái mắt lồi, mặt to bằng cái tráp tròn, đứng đấy để dọa trẻ con và bắt người lớn đái bậy. Còn hiệu cao lâu thì nay là một hàng đóng giày, ông bảo xe đi thẳng Hàng Bông. Ở phố này có hai hiệu ăn ta.
Nhưng nay hai nhà cũng đã đâu mất rồi. Ông Lăng bực mình:
- Dạo tẩy chay, cao lâu mọc lên như nấm, được vài tháng, bây giờ biến hết! Không biết những hiệu ở ngõ Trạm với ở Cửa Nam còn, hay cũng ra ma rồi nhỉ?
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Đóng cửa đã lâu. Ngay ngày tẩy chay, tôi đã biết là phong trào chỉ bồng bột lúc đầu mà thôi. Lòng nhiệt thành của người mình với nội hóa thế đấy!
Ông Lăng hỏi:
- Bây giờ đã được phép ăn ở cao lâu Tàu chưa? Ta vào đấy có sợ mang tiếng không nhỉ?
Rồi ông sực nghĩ ra:
- À, ở ngõ Hàng Mã Mây, có nhà Nội quốc thực phẩm, bán món sư tử đất, nghe đồn ngon lắm.
Anh Thừa hỏi:
- Sư tử đất à?
- Phải, là thịt chó. Ta kéo nhau đến đấy đi…
Ông Hoài Tân Tử quen ăn tiêu rộng, nên có ý không bằng lòng. Ông đánh vào chỗ yếu của ông Lăng là lòng mê tín, để lòe:
- Vâng. Nếu cụ không sợ hãm tài.
Rồi ông hỏi:
- Thế ngộ Nội quốc thực phẩm cũng đóng cửa nốt thì ta lên Tràng Tiền, vào ô-ten Cốc đo[27], cụ ạ.
- Vâng.
Đáp xong, ông Lăng phàn nàn:
- Tưởng gần, mất ba xu xe thôi, ai ngờ đi vẩn vơ mãi, không khéo mất đến bảy tám xu!
Rồi ông vuốt vai anh Thừa, nhếch mép cười:
- Tôi nói nốt câu chuyện ban nãy bỏ dở nhé. Thế là báo ta không thiếu người viết đâu. Nhưng muốn tuyển được người giỏi, thì ta nên mở kỳ thi sát hạch.
Anh Thừa cười:
- Làm ăn vào thời buổi ta bây giờ, ai lại nỡ khảo nhau về chuyên môn, hả cụ? Bởi vì có ai làm nghề gì mà cần biết chuyên môn đâu! Mánh khóe làm ăn tức là chuyên môn về nghề.
Ông Lăng im. Anh Thừa tiếp:
- Tôi đã dự định đủ người rồi, cụ ạ. Toàn là những cây bút xuất sắc trong làng báo. Vả trong tòa soạn, anh em có cùng quen biết nhau, chí hướng giống nhau, thì làm việc mới chạy. Dùng người lạ, tôi e trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, không lợi.
- Tôi tưởng cũng có cái lợi khác chứ? Vì dùng áp-prăng-ti[28], thì lương không cần cao.
- Thế thì báo mình yếu.
- Ừ nhỉ. Thôi được, tùy ông. Nhưng tôi có một người này, nhờ ông để tâm cho. Tức là cái anh Tuynh ban nãy đến, trước kia làm ta-sơ-rông cho tôi. Đến ghe[29], cai Tuynh đăng lính mộ, đóng ca-pô-ran[30] sang Tây. Bây giờ nó mới về nước, không có việc, nên đến xin tôi cho làm cai thầu như trước. Nó mới ở Tây về. Bên Tây thì bình đẳng, tự do. Nó cũng nhiễm cái bình đẳng, tự do, làm báo thì hợp lắm. Nó là người rất cẩn thận, thật thà, biết ăn cây nào rào cây ấy. Cho nên tôi giới thiệu nó với ông cho nó chân giữ két tòa báo, thì chắc một xu cũng không suy chuyển.
Anh Thừa hiểu ngay ý ông thầu khoán muốn cho tay chân vào tòa báo để kiểm soát tài chính mà ông làm như dễ dãi, giao cho anh toàn quyền tiêu dùng. Anh nói:
- Làm việc này, phải tay kế toán giỏi, chứ non thì dễ nhầm lẫn lắm.
- Ồ, cai Tuynh bây giờ nói tiếng Tây thoáng lắm. Tôi chắc hắn học được lối công-táp[31] tây.
- Làm báo thì bỏ ra hàng chục, hàng trăm, nhưng thu vào dần từng đồng, từng hào, từng xu. Nó trái ngược với việc thầu, là bỏ ra từng đồng, từng hào, từng xu mà thu thì hàng trăm, hàng chục. Cho nên làm kế toán nhà báo mà bỡ ngỡ, thì lỗ vốn ngay. Lại chết một nỗi là lỗ vốn mà không biết nữa kia!
Ông thầu khoán nghe tiếng lỗ vốn thì giật mình:
- Thế à? Hay là ông xếp cho nó việc đi lấy quảng cáo cho báo vậy.
Thấy ông Lăng tranh chỗ của mình cho đầy tớ, anh Thừa lại trộ:
- Làm việc này, càng phải là người thạo, người quảng giao. Không quen các nhà buôn, thì người ta không nể mà đăng quảng cáo.
- Ừ nhỉ. Hay ông cho làm loong-toong[32] chạy giấy. Nói thật với ông là khi nó nghe tôi định xếp cho nó một chân ở tòa báo làm với ông, thì nó sướng quá. Vì nó hâm mộ tiếng ông lắm. Cho nên nó đòi tôi đưa ngay đến để cho ông biết mặt.
Anh Thừa mỉm cười:
- Hâm mộ tôi thì ai chả hâm mộ. Tôi sợ anh ta không chịu làm loong toong. Vì anh ta là cai lính mộ, có mề-đay. Tôi tưởng anh ta có công lao với nhà nước, rồi thế nào nhà nước chả xếp việc cho.
Thấy đề-mác cho thần giữ cửa không xong, ông Lăng tạm ngừng câu chuyện. Ông cắn nốt nắm hạt dưa.
Một lát, ông hỏi:
- Nghe nói trước kia, ông mở Phòng thuốc nhà giàu phải không?
- Vâng.
- Sao ông chỉ chữa cho nhà giàu? Hèn nào hiệu thuốc của ông không bền.
- Thưa tại sao ạ?
- Nhà giàu phần lớn ở các thị thành. Đã ở thị thành thì là người hiểu biết, khôn ngoan, chứ không phải đần ngốc. Làm ăn gì mà dây với bọn hiểu biết, khôn ngoan là rất khó. Nghề tôi dễ, vì chỉ kiếm ăn trong bọn nhà nghèo, ù lì như cục thịt.
Anh Thừa chợt như tỉnh ngộ. Anh thở dài. Ông Lăng tiếp:
- Kiếm tiền ở bọn nhà giàu thì khó, không những vì họ hiểu biết, họ khôn ngoan, mà còn vì họ chả có mấy người. Loanh quanh, chỉ những người ở các thị thành mới giàu, thì phỏng ở nước ta, ông đếm được bao nhiêu? Nhưng số người nghèo thì hàng chục triệu, ông thử tính mà xem, ở nước An-nam mình, ông cứ lấy của mỗi người giàu một đồng bạc, có bằng tôi bớt của mỗi người nghèo một xu thôi không? Cho nên, kiếm ăn ở bọn khố rách áo ôm, nhiều và đần ngốc, vẫn dễ dàng hơn. Mình muốn làm trời làm đất gì cũng được, chúng nó không biết kêu ca, mà cũng không biết chỗ mà kêu ca.
Anh Thừa như được một bài học hay. Anh gật gù:
- Cụ nói đúng quá. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Cụ thật đáng là bậc thầy. Tôi còn phải học cụ nhiều trong công việc làm ăn.
Ông Lăng tặc lưỡi:
- Công việc làm ăn của nghề ăng-trơ-prơ-nơ chúng tôi có quái gì mà phải học! Có cần chuyên môn như làm thuốc với làm báo đâu? Làm gì thì đã có cai là quân sư. Mà cai cũng không cần biết chuyên môn. Cai đã có phu, cũng chỉ là đồ ăn no vác nặng. Nếu phải dùng thợ, thì thợ mới là người có chuyên môn.
Ông Lăng cười khì khì, rồi tiếp:
- Nhưng nghề chúng tôi có một cái khó, mà ông không làm nổi đâu, tức là tài giao thiệp.
Anh Thừa đáp:
- Cụ tưởng tôi kém giao thiệp à?
Ông Lăng lắc đầu:
- Không phải ông kém, nhưng ông không thể giao thiệp theo lối ăng-trơ-prơ-nơ chúng tôi, vì ông biết chữ, nói thạo tiếng Tây. Chúng tôi giao thiệp thì chỉ bằng hai tiếng Uẩy Me-xừ. Gì cũng Uẩy me-xừ, thế là Tây thích. Còn như lắm tiếng Tây và hay lý sự, thì nó ngại, nó không cho thầu. Chúng tôi cứ nói đùa, nghề chúng tôi chẳng khác gì nghề làm vua ở nước An-nam. Vua không cần biết chuyên môn cai trị, lo cho dân no ấm, dưới đến các quan làm quân sư thì cũng như bọn cai thầu, ù cạc về canh nông, công nghệ. Chính dân mới là người biết cày cấy, làm lụng, tự họ lo cho thân họ ấm no. Và làm vua, làm quan, càng ngu si, càng được nhà nước yêu.
Anh Thừa khen để nịnh:
- Cụ hiểu biết thế, ra nghị viên, chắc là có lợi cho dân lắm.
Ông Lăng cười lạt:
- Chẳng qua cũng là để thầu thôi, thầu cái khác, chứ ông?
Ngừng một lát, ông tiếp:
- Ví dụ như tôi mua cái nhà của ông chẳng hạn.
- Sao hở cụ?
- Để lấy lãi chứ sao?
Anh Thừa ngạc nhiên. Ông Lăng nói:
- Tôi cứ sợ thấy tôi mua cái nhà của ông, thì ông cười là ngốc. Nhưng không phải. Trái lại, ông có vẻ băn khoăn. Thì tức là ông không cho là tôi ngốc, mà tôi xem ý ông, hình như ông lại ngại rằng, hay là ông ngốc, tôi định giở thủ đoạn gì chăng. Không, hai chúng ta không ai ngốc cả. Ông khôn chán, mới bán nhà cho tôi, mà tôi cũng khôn chán, mới mua nhà của ông. Trong lúc chúng mình còn cần đến nhau, thì tôi nào dám thủ đoạn với ông. Mà ông cũng chẳng nỡ lòng thủ đoạn với tôi, có phải không ông? Vậy tôi xin nói thực ngay cho ông yên lòng, là mua nhà của ông, tôi có định thủ đoạn thật, nhưng thủ đoạn với người khác kia.
Anh Thừa càng ngạc nhiên, ông Lăng tiếp:
- Đúng đấy. Bây giờ, tôi không tiện nói ra vội, sợ ông ăn cắp mánh khóe của tôi. Dần dần, ông khắc rõ. Ông ạ, cái khôn ngoan của người ta không biết thế nào là cùng đâu. Ông bảo tôi đáng là bậc thầy, và còn phải học tôi nhiều trong công việc làm ăn. Nhưng chính tôi đã phải học người ta nhiều, nhất là học những người Tây sang An-nam, làm người khôn ngoan sặc gạch ra, ông ạ. Các ông ấy, ông nào cũng giàu ghê lắm. Đấy mới đáng là bậc thầy của chúng ta.
Xe đến ngõ Mã Mây, đỗ trước cửa hàng ở góc đường, đề biển là Nội quốc thực phẩm.
Ông Lăng xuống đất, thong thả móc túi, trả bảy xu cho xe ông ngồi, ông liếc nhìn ông Hoài Tân Tử. Khi thấy ông nhà văn không móc túi, ông mới trả nốt bảy xu cho xe ấy. Rồi tay cầm chai rượu thuốc, tay giơ lên, ông mời hai vị khách quý:
- May quá! Mời hai ông vào. Ta không phải đi xa.
Trong bữa tiệc thịt chó, anh Thừa nghĩ nhiều hơn là ăn và chuyện. Anh nhường cho ông văn sĩ chính hiệu dùng tài thuyết khách mà tâng bốc anh cho ông thầu khoán tin. Anh không biết nghề mà nói về nghề, sự lỡ hở câu nào thì ông Lăng tóm được đuôi, vả anh cũng ngại là nếu ông Lăng ca tụng văn tài của anh, như xừ Tuynh đã nịnh hót anh, trước mặt cái ông bạn tri kỷ Hoài Tân Tử tinh quái, thì anh ngượng chết. Chi bằng anh cứ im lặng để được tưởng là chín chắn.
Những lời của ông Lăng nói về cách làm ăn với anh ở trên xe, như vành to đôi mắt cho anh nhìn anh và nhìn đời. Trước kia làm thuốc và bây giờ sắp làm báo, là anh đã theo sự tình cờ và nghe người khác xúi giục, chứ không phải anh tự động xây dựng cuộc đời theo đúng khả năng của anh. Tình cờ anh nhận được cái bằng làm thuốc của ông sếp Sơ, rồi nghe Ma-ri xui giục, anh mới lại dụng nó để mở Phòng thuốc nhà giàu. Bây giờ, tình cờ anh gặp ông Hoài Tân Tử đưa anh đi làm báo. Toàn là những việc cần chuyên môn mà anh không có. Cả làm thuốc lẫn làm báo, đều là cách kiếm ăn ở nơi những người thị thành hiểu biết và khôn ngoan, ông Lăng đã nói rất đúng. Những người nhà giàu lắm tiền thật, nhưng họ cũng lắm lý sự. Họ lại chỉ gồm có một dúm người. Cho nên, hồi làm thuốc, anh đã nhiều phen phải mệt trí, nghĩ ra mánh khóe lừa lọc để thay cho chuyên môn, nào là quảng cáo mình, nào là dìm dập người. Và bây giờ, nhảy tót ngay lên làm chủ bút, trà trộn vào hàng những người lắm chữ nghĩa và lắm chuyên môn, chắc anh còn phải tốn lắm công phu hơn nữa.
Anh ngầm nghĩ lời ông Lăng nói về nghề thầu khoán. Anh tiếc rằng anh cũng có nhiều bạn là chủ thầu, mà chưa lần nào nói chuyện với họ về nghề để anh sáng mắt ra. Phải, ở nước ta bây giờ, không có chuyên môn thì phải làm ông chủ. Làm ông chủ thì tiền thay cho chuyên môn, dùng tiền thuê cái chuyên môn của người khác. Chủ thầu, chủ báo, chủ nhà in, chủ hiệu may, chủ hiệu cao lâu vv… đều là những người chỉ có thủ đoạn làm tiền, chứ không phải làm nghề, về mặt này, anh tự xét mình không kém ai. Thì sao từ lâu, anh không làm cái nghề chỉ cần có hai tiếng Uẩy Me-xừ, cái nghề kiếm ăn dễ dàng ở nơi những người nhà quê nghèo, vừa nhiều, vừa dốt?
Anh ngắm ông Lăng. Có phải ông này trán giồ, mồm méo, là có tướng giàu không? Có lẽ trời phú cho ông cái mặt mũi xấu xí thì ông dễ giả ngây giả dại, cho người khác không ngờ là ông khôn ngoan, để làm giàu chăng? Ông Lăng không ngây dại, mà là người láu cá tuyệt trần, ông láu cá, cho nên giả ngây giả dại để ăn người. Anh đã khinh ông ta là ngây dại, mới gặp anh lần đầu, đáng lẽ còn phải xã giao chán để dò tính nết của anh, đến lúc thân nhau, mới nói đến chuyện mua nhà. Nhưng lần này ông Lăng giở ngay cái ngón con buôn ra. Xưa nay, anh chưa từng thấy có ai mới quen nhau, đã để lộ ngay cái nhân cách bần tiện ra như thế. Và anh cũng chưa thấy một việc bán nhà nào mà hai người lại cùng mặc cả với nhau ở trên chiếc xe sắt chạy lạch cạch trên đường phố. Thì ra ông ta giả ngây giả dại, chịu cho anh khinh, nhưng mà trong chốc lát, đã làm được một việc lớn.
Anh so sánh ông thầu khoán với ông văn sĩ ngồi ở trước mặt. Anh đã phục cả hai người như bậc thầy. Nhưng bây giờ, anh thấy rồi cái thầy Hoài Tân Tử không dạy thêm cho anh điều gì nữa, bởi vì văn chương chữ nghĩa không phải là địa hạt của anh. Anh với ông này chẳng qua là lợi dụng lẫn nhau, ông văn sĩ lợi dụng anh để có việc làm. Anh lợi dụng ông văn sĩ để khỏi mang tiếng với cụ tú Phúc Lâm là yếm thế, hòng được lòng cụ, để mưu mô được cô con gái của cụ. Việc này mà thành công, cố nhiên anh không đeo đẳng mãi cái tiếng làm chủ bút mà đi lấy quảng cáo cho báo nữa.
Đến ngày có tiền, nhất định anh phải chủ động làm lại cuộc đời của anh bằng cái nghề không chuyên môn, không chữ nghĩa. Anh nhiều mánh khóe, thủ đoạn, nhất định anh cũng sẽ giàu như ông Lăng, như ông Bùi Huy Tín chủ báo Thực Nghiệp, như ông Nguyễn Hữu Thu, nghị trưởng nghị viên tư vấn Bắc-kỳ.
❀ ❀ ❀
[1] Chiến tranh.
[2] Vật liệu.
[3] Sắt.
[4] Thầu khoán.
[5] Bền.
[6] Để dành.
[7] Vợ tôi.
[8] Các con tôi.
[9] Sửa chữa.
[10] Cũ.
[11] Kính trọng.
[12] Cử tri, Ông Lăng đã lầm với chữ lếc-tơ là độc giả. Vì ông muốn ra ứng cử nghị viên, nên đã lẫn lộn hai danh từ tiếng Pháp mà ông chưa quen nói.
[13] Bạn bè.
[14] Bốn chục.
[15] Năm chục.
[16] Phu phen.
[17] Cai thầu.
[18] Cạnh tranh.
[19] Hai trăm ba mươi hai thước.
[20] Hai trăm bạc.
[21] Hai trăm rưởi.
[22] Hai trăm sáu.
[23] Hai nghìn.
[24] Trả.
[25] Vận động.
[26] Đơn.
[27] Khách sạn Gà vàng của Pháp.
[28] Người học việc.
[29] Chiến tranh.
[30] Cai.
[31] Kế toán.
[32] Tùy phái.