Đống Rác Cũ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§9. Những Cái Thối Cứu Được Cái Thơm
Ix Những Cái Thối Cứu Được Cái Thơm

❊ ❊ ❊

Nói cứng như vậy, song Thừa vẫn phải đề phòng. Hắn đề phòng huyện Lung tố giác hắn. Hơn nữa, để nuốt trôi ngót vạn ba bạc của công ty, hắn không cần đề phòng ai bằng đề phòng ông bạn cố tri Hoài Tân Tử. Chỉ ông nhà thơ bị mất của mới xót xa, và nghĩ ngợi để lật bộ mặt thật của vụ cháy ô-tô này. Nếu huyện Lung lẫn ông Hoài Tân Tử cùng phản hắn, khai ra những thủ đoạn làm giàu khác của hắn từ trước đến giờ, thì hắn khó thoát được tội.

“Hay là…”

Thừa suy tính. Hay là gán quách hai tiếng hội kín cho công ty? Nhân lúc công ty không hoạt động, lại có thể vì vụ án mạng trên Lao Cai mà vỡ lở, thì, không được ăn, mình đạp đổ, phá quách nó đi. Đổ cho nó là hội kín để lập công. Hoài Tân Tử trước kia vẫn bảo công ty là hội kín. Hay nó làm việc kinh tế cho một hội kín nào thật, mà mình không biết chăng? Nếu không, cứ liều khai thế. Chẳng phải hội kín, thì có thiệt gì đến người tố giác nó. Chỉ có lợi, là Pha-lăng-xô trước hết hãy tóm cổ Hoài Tân Tử cho thằng này không còn ruột gan nào bới ra cái âm mưu cháy ô-tô. Nếu là hội kín thật, mà chính mình cũng có chân trong ấy, thì không những người đi báo vô tội, còn được trọng dụng như đội Dương, như thừa Mai. Và ít ra, việc mình tố giác một hội kín, cũng tỏ cho Pha-lăng-xô và sở mật thám tin lòng trung thành của mình với chính phủ Bảo hộ là thật. Nó gỡ cho mình được cái tội quy hàng bọn tống tiền vừa rồi.

Thừa đắn đo kỹ lưỡng trong cả một đêm ít ngủ. Càng đắn đo, hắn càng cho hắn tố giác công ty là nên. Bởi vì, nếu nhu nhược trước tình bạn với Hoài Tân Tử, ngộ công ty là hội kín thật thì sao? Trước hết, mình lỡ mất cơ hội tốt nó kể đến tận tay mà để sểnh. Sau nữa, là một hội kín, thì sớm hay muộn, cũng không thể qua được con mắt sáng suốt của sở mật thám. Khi nó bị khám phá, tất mình cũng không thoát ra ngoài mắt lưới của pháp luật.

Chi bằng cứ liều mà khai công ty là hội kín. Ở đời này, mười thằng làm nên thì có đến chín thằng liều. Mình đã lập tâm tạo công danh, thì cứ liều. Chẳng trúng lần này thì lần khác trúng, số mà được ra làm quan, thì cơ hội là lần này không biết chừng.

Sáng hôm sau, Thừa đi Hà Nội sớm.

Hắn vào ngay bàn giấy thằng Pha-lăng-xô. Cố nhiên là Thừa đưa chuột đến miệng mèo.

Ông nhà thơ Tình muôn thuở bị sở mật thám Hà Nội chõm ngay đúng vào lúc quanh tĩnh nhà ông, thiện nam tín nữ, người nào người ấy tô hô, đương gối lên đùi, lên đít nhau.

Tất cả những cặp ấy đều bị giải vào xà-lim Xăng-tan.

Công ty buôn thuốc phiện lậu có thế lực nhất ở Bắc Kỳ từ xưa đến nay, vì được tên chánh đoan Yên Bái Mác-tanh giám đốc, ngang nhiên hoạt động trong mấy năm trồi, đến mùa đông năm 1930 mới bị khám phá.

Nó bị khám phá không phải do từ ý muốn phản bạn, định bịt miệng Hoài Tân Tử của hàn An-be Thừa. Nó bị khám phá chính là do từ vụ án mạng xảy ra trong rừng Lao Cai, người của công ty Mác-tanh và người của công ty Rô-lăng-ti giết nhau vì muốn dìm dập nhau để tranh nhau mối lợi.

Mấy hôm sau, hung thủ bị sa vào lưới pháp luật. Thằng thanh tra Rô-be trưởng ty Mật thám Lao Cai, trước kia chỉ quen trị kẻ cắp ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội, vì khỏe tay, đánh nhiều, nên được lên chức, cái thằng Rô-be lùn, bụng phệ, đầu cạo trọc tếch, trắng hếu như đầu sư ấy, phải điều tra vụ án mạng này. Nó cũng dùng cánh tay cứng như sắt của nó để bới tìm tư tưởng của kẻ giết người. Nó đoán rằng hung thủ chẳng qua là thằng ăn cắp như những tụi ở chợ Đồng Xuân. Vì là An Nam. Người này đã lột kẻ có tiền, nhưng lỡ tay giết chết, thì quăng xác xuống suối. Có thế thôi. Chứ không có bè, có đảng gì hết.

Song, công sứ Rô-ma-nét-ti lại nghĩ khác. Tên thực dân già, nghiện thuốc phiện, có vợ An Nam này, vì yêu vợ, nên xét người An Nam có thâm thúy hơn. Thấy hồi đầu năm, Yên Bái là trung tâm của cuộc bạo động chính trị, thì Lao Cai, một tỉnh biên giới, Việt Nam Quốc dân đảng trốn sang Tàu như đi chợ, Rô-ma-nét-ti cảnh giác hơn, cho là vụ giết người này không phải vụ án thường. Có thể có liên quan với Yên Bái, với Hà Nội cũng nên. Thấy thằng Rô-be báo cáo hung thủ chỉ là cá nhân lẻ tẻ, thằng Rô-ma-nét-ti lắc đầu, bảo phải điều tra lại.

Thằng Rô-be bắt cánh tay nó hoạt động mạnh gấp đôi trước. Cuối cùng, nó thấy kẻ giết người quả không phải là thằng ăn cắp cá thể. Hắn xưng ra một số người vẫn sinh sống bằng nghề mua nhựa. Những người này bị bắt. Không chịu được vài trận mưa dùi khui, họ khai ra hai người đội đoan ở Lao Cai, vẫn xuất tiền cho họ đi mua thuốc phiện lậu. Hai người đội đoan bị tóm. Họ tố giác thêm một đồng nghiệp ở Lao Cai và một đồng nghiệp ở Việt Trì làm nhiệm vụ vận tải, ăn no đòn, phun ra một bạn trong ban lưu động, làm việc ở nhà Thương chính Hà Nội. Cuộc điều tra từ đó không chỉ đóng khung trong địa hạt Lào Cai. Nó loang như vết dầu xuống Việt Trì, Hà Nội vv… và vụ này chỉ là vụ buôn thuốc phiện lậu, nhưng lớn.

Song, thằng Rô-ma-nét-ti vốn thích hút thuốc lậu hơn thuốc ty vì rẻ hơn, lại đậm hơn, vả là quan cai trị, nó vẫn bị ám ảnh là một vụ Yên Bái thứ hai sẽ nổ ra ở Lào Cai. Tư tưởng ấy làm nó giật mình thon thót. Cái ác cảnh phải chạy trốn vào rừng, lạc vợ, lạc bàn đèn, xui nó cảnh giác hơn. Nó đi Hà Nội, báo cáo với thống sứ Rô-banh về vụ án này. Muốn khủng bố tinh thần tên thủ hiến Bắc Kỳ, nó mệnh danh là hội kín. Thằng Rô-banh gầm gừ tức tối, gọi ngay điện sang sở mật thám, bắt mở cuộc điều tra thật nghiêm chỉnh.

Trong một thời gian ngắn ngủi, bọn chó săn tìm ra được một danh sách khá dài những người có liên quan đến vụ án quan trọng này. Chúng chưa bắt ai. Chúng rình mò kín đáo, chất chứa cho thật nhiều người, cho thật nhiều tài liệu. Để đợi ngày nào đó thật chín muồi chúng mới cất một mẻ vó lớn, không trật một mống nào lọt ra ngoài. Trong danh sách này, quan lớn có quan bé có, quan tại chức có, quan hồi lưu có, quan bị cách có, quan nghỉ giả hạn có, quan mạn ngược có, quan vùng xuôi có. Ngoài các quan của chính phủ Nam triều, có các quan của chính phủ Bảo hộ, quan đốc, quan tham, quan phán, quan ký. Đến những quan chỉ có chức tước suông để làm cảnh, là quan hàn, quan nghị, quan hội. Đến những người không làm quan, nhưng không giàu kém quan, vì làm nghề tự do, là thầu khoán, điền chủ, nhà doanh nghiệp, nhà buôn. Đến cả những người không biết gọi là có nghề hay không, vì chỉ chuyên môn sống bằng nghề ăn bám và lừa bịp.

Cái dây xích, gồm cả đàn ông lẫn đàn bà, được lần ra từng mắt. Dần dần nó vươn đến nhà mấy quan phó đoan Tây lai.

Thằng Rô-banh trợn đôi mắt trắng dã sau đôi mắt kính cận thị không vành cặp vào cái mũi lõ của nó. Nó gầm lên như con hổ mắc cạm. Lập tức, cái thằng đã ra lệnh ném bom triệt hạ làng Cổ Am này, họp bàn với thằng chánh mật thám Bắc Kỳ và hai thằng thanh tra chính trị và hành chính. Cuối cùng, nó quyết định rút thằng Pu-lê Ô-di-ê ra khỏi Hội đồng đề hình mà thằng hung ác này sắp mở phiên tòa công khai để tuyên án tử hình hàng chục chính trị phạm. Thằng thanh tra chính trị và hành chính Pu-lê Ô-di-ê được đặc phái đi mở cuộc thẩm vấn bí mật trong tụi phó đoan phạm pháp.

Pu-lê Ô-di-ê lên Lao Cai. Nó bắt công sứ Rô-ma-nét-ti ra ngồi làm việc ở ngoài hiên, nhường cho nó buồng giấy.

Ngày nào văn phòng thằng Pu-lê Ô-di-ê cửa cũng đóng kín. Nhưng đứng xa đó, người ta vẫn nghe thấy tiếng nó thét, đập bàn, đập ghế, và tiếng đoàn thư ký đánh máy sầm sập như mưa rào.

Tụi phó đoan, tức là mấy thằng lai, mặt còn non choẹt như mặt học trò, thằng Giăng Út, thằng Lu-y Rô-manh, vv… ngày thường khệnh khạng, hách dịch, bây giờ lần lượt bị thằng Pu-lê Ô-di-ê gọi lên tòa sứ. Sau một tuần lễ khai cung, mặt thằng nào thằng ấy phờ phạc vì mệt nhọc, bẽn lẽn vì xấu hổ, và hầm hầm vì tức giận. Nhưng khi xuống đến chân đồi, gặp ai ở đường phố, chúng cũng cố tươi tỉnh. Có đứa tủm tỉm cười một mình y như vừa mới đùa bỡn, vui tếu với quan thanh tra chính trị và hành chính vậy.

Sự thực, thằng phó đoan nào bị thanh tra gọi lên bàn giấy, cũng phải đứng, chứ không được ngồi. Phải đứng một buổi suốt từ chín giờ sáng đến bốn giờ chiều, và một buổi ngay từ bốn giờ rưỡi chiều đến tận mười một giờ đêm. Chỉ được nghỉ có nửa giờ ở quãng giữa để về ăn cơm. Đường từ tòa sứ đến nhà đoan phải lên dốc, xuống dốc, lại khá xa, nên đi mất ít ra là mười phút. Vậy chỉ còn có mười phút, để và vội vài lưng cơm - hẳn là chúng không có thìa dĩa và đĩa - Ăn xong, có ỉa đái thì làm quàng quàng lên, chứ đừng hòng giữa lúc bị thẩm vấn mà xin được phép ra chuồng xí. Chúng phải đến tòa sứ cho thật đúng giờ. Nhiều bận, chúng đã thấy thằng thực dân già ngồi trong buồng rồi. Nhưng cũng nhiều bận, buồng còn vắng. Chúng phải đứng đợi.

Thằng Pu-lê Ô-di-ê coi hàng công sứ từ hạng nhì trở xuống như đàn em mới lớn lên. Cho nên nó khinh dân bản xứ như ruồi muỗi, kết án tử hình một mạng người không cần suy nghĩ, đắn đo. Đối với Tây lai, nó nhiếc là Con của xứ Đông Dương, nghĩa là có máu ăn cắp. Vì vậy, nó ghét tụi thằng Giăng Út, thằng Lu-y Rô-manh, vv… Định hỏi thằng nào, nó cũng chửi phủ đầu, để uy hiếp tinh thần thằng ấy. Nó quát tháo, nó vặn vẹo. Nó chế nhạo là nói tiếng Pháp không nên thân. Có lúc nổi cơn điên, nó quăng cả miếng đá chặn giấy vào chúng, hoặc hầm hầm xô ghế đứng dậy, như dọa đánh. Từ hôm nó đến tòa sứ, đêm nào bác loong-toong Soạn cũng phải thức thêm nửa giờ để đánh xi lại cái mặt bàn cho nhẵn bóng. Vì mỗi ngày, nó đập bằng nắm tay, bằng bàn thấm, bằng hòn đá, đến trăm lần, làm sây sát, lỗ chỗ cả gỗ.

Thằng Pu-lê Ô-di-ê hành hạ bọn con của xứ Đông Dương bằng cương vị to tát, nhiệm vụ quan trọng của nó, lại bằng cả cái đầu óc thực dân cáo già của nó. Nó xoay lũ nhép không cứ là ở lời cung khai giấu giếm, mà cả ở cử chỉ, ở danh từ kém lễ độ của chúng. Chúng đứng mỏi, hơi cựa chân tay, là nó quắc mắt lên. Quên mở đầu là: thưa quan thanh tra chính trị và hành chính, nó để bàn tay vào vành tai, bắt nhắc lại câu nói. Luôn luôn miệng nó thốt ra những tiếng: Đồ khốn nạn! Dòng ăn cắp! Con lợn! Súc sinh nhơ bẩn! Nó vặn, nó quay, nó bắt chúng trả lời ngay, không được nghỉ. Nó cố làm cho đầu óc chúng rối mụ lên vì phải đứng lâu và đáp nhiều.

Bọn phó đoan ở Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Hà Nội bị cung khai ra, cũng lần lượt phải triệu lên Lao Cai cho thằng Pu-lê Ô-di-ê tra hỏi.

Thế là ra thằng Mác-tanh. Thoạt nghe cái tên này lần đầu tiên, thằng Pu-lê Ô-di-ê cho là Tây lai nói láo. Đến khi thấy nhiều đứa khai ra, nó mới thổi phù phù cho hơi nóng trong ngực thoát ra. Nó nghiến răng ken két. Nó không ngờ rằng trưởng ty thuế quan Yên Bái là người Pháp trăm phần trăm, mà lại sáng lập và giám đốc một công ty lớn, buôn thuốc phiện lậu.

Thằng Pu-lê Ô-di-ê cáu lắm. Nó đi sâu hơn nữa, thì lại lòi ra cái tên Rô-lăng-ti, chánh đoan Việt Trì, cũng cầm đầu một công ty buôn thuốc phiện lậu, vì vừa thành lập, nên nhỏ hơn, nhưng cố cạnh tranh với công ty Mác-tanh.

Thấy việc điều tra đã đến gốc, thằng Pu-lê Ô-di-ê vui sướng quá. Nó chắc mẩm phen này sẽ được thăng thống sứ trước thằng Brít, dù thằng thanh tra chính trị và hành chính này thâm niên hơn nó trong ngạch cai trị ở thuộc địa.

Nó tí tửng về ngay Hà Nội để báo cáo với thống sứ và bàn xem nên đèo hai cái gốc ô nhục này thế nào?

Thằng Rô-banh lấy việc này làm rất khó nghĩ, nó hẹn thằng Pu-lê Ô-di-ê vài hôm sẽ trả lời.

Rồi, có lẽ tự làm cuộc liên hệ kiêm thảo bản thân, thằng Rô-banh xét mình không sạch sẽ, thơm tho gì, cho nên nó suy bụng ta ra bụng người. Nó cho rằng nguồn vốn buôn lậu của công ty Mác-tanh không lẽ chỉ chảy từ những người An Nam, không làm việc với nhà nước, đến những người An Nam có làm việc với nhà nước. Hiển nhiên là nguồn vốn ấy đã trôi vào bọn người lai, rồi đến một người Tây. Vậy không lý gì nguồn ấy đến đấy thì tắc lại. Nguồn phải chảy xa nữa, thì nước mới thoát. Nếu không, nước bị tức nghẽn bờ phải vỡ đã lâu rồi. Thế thì nguồn ấy còn ngược nữa, ngược nữa, nhất định đến một chỗ cao xa nào cũng nên.

Nó sực nhớ lại việc năm nọ. Là chỉ ký có một chữ trong giấy phép cho tải chuyến thuốc phiện qua địa hạt Đông Dương, từ Lao Cai đến Hải Phòng, đường dài có 400 cây số, mà toàn quyền Méc-lanh đã ăn đủ một vạn bạc.

Rồi điều tra ngầm, nó thấy cả hai thủ phạm này đều có những chỗ dựa có thế lực rất to lớn. Thằng Mác-tanh thả cho vợ đi ngủ với tên đại địa chủ Đơ Mông-pơ-da, nổi tiếng là bướng bỉnh và vẫn còn tự xưng là bá tước, trước kia, vì xích mích với toàn quyền An-be Xa-rô, đã thách tên thủ hiến một cuộc đọ kiếm để một sống một mái. Còn thằng Rô-lăng-ti thì trái lại, vì trẻ, khỏe và đẹp, nên nó là một trang nhân tình quý báu của vợ tên tổng giám đốc nha thương chính Đông Dương.

Vài hôm sau, Rô-banh và Pu-lê Ô-di-ê gặp nhau. Thằng thống sứ khuyên thằng thanh tra nên lấy tình đồng bào đồng loại mà đừng vạch áo cho người xem lung, kẻo xấu chàng thì hổ ai. Thằng Pu-lê Ô-di-ê không nghe, cỗ bưng đến miệng, nhất định nó phải hưởng. Bất đắc dĩ thằng thống sứ phải cho thằng thanh tra biết những ẩn tình nhơ bẩn của hai thằng Mác-tanh và Rô-lăng-ti mà nó đã lượm lặt được. Thằng Pu-lê Ô-di-ê càng tức:

- Nếu thế, thì càng nên trị chúng nó.

Rô-banh thở dài:

- Tôi sợ đụng vào họ, thì chính chúng ta hứng lấy những hậu quả không hay.

- Ông sợ tôi bị đổi sang Lào, sang châu Phi? Ông sợ tôi mất chức? Nhưng tôi không sợ. Vì tôi làm việc theo lương tâm. Tôi cứu danh dự cho người Pháp ở đây. Tôi cương quyết.

- Ý kiến tôi là ta nên chấm dứt cuộc điều tra ở đây. Còn ý kiến ông thế nào là tùy ông. Nhưng xin nói trước là tôi không chịu trách nhiệm về việc ông làm. Là bạn thân của ông, tôi chỉ khuyên ông nên suy nghĩ kỹ.

Thằng Pu-lê Ô-di-ê mặt đỏ bừng bừng. Nó đứng phắt dậy, rồi ra khỏi buồng, đóng sầm cửa lại.

Hẳn là nó về để suy nghĩ, suy nghĩ thật kỹ để cương quyết.

Cho nên sáng hôm sau, nó lên ngay Lao Cai.

Xe lửa bảy giờ tối thì tới ga. Xe ô-tô của công sứ ra đón. Nhưng ngay sáng hôm sau, trước sáu giờ, xe ô-tô của công sứ lại tiễn nó ra ga. Nó lên xe lửa, vào toa hạng nhất, nhét cái va-li quần áo lọt trên cái giá ở phía trên chỗ ngồi, rồi đặt phịch tấm thân phì nộn lên tấm nệm lò-xo.

Nó cương quyết xuôi Hà Nội.

Thế là cái án buôn lậu đầu voi đuôi chuột phải để thối, cho tiếng thơm của các quan Bảo hộ chóp bu được an toàn.

Mấy anh đội đoan tí hon, ngơ ngác ra khỏi nhà giam, không hiểu tại sao mình không phải tù.

Mấy tờ báo hàng ngày, kể cả báo Tây lẫn báo ta, đương viết những bài chửi bới bọn buôn lậu, với những đầu đề làm giật gân độc giả, bỗng một loạt im bặt hết. Sở Kiểm duyệt đã được lệnh không cho quyền ngôn luận được hé răng nói nửa lời. Ở những cột dành riêng đăng những bài dài lê thê và mãi chưa hết: Về vụ đầu độc cho đồng bào chết dần: Một hành động đáng sỉ nhục; Vụ án thuốc phiện vv… bây giờ thay bằng những tin mất chó, mất ví da, cụt thun lủn, hoặc những truyện ngắn trai gái chim nhau, những bài thơ tình khóc mếu.

Nhưng may thay cho những nhà phóng viên. Họ đương đi lượn khắp phố để lượm tin, thì phủ Thống sứ gởi đến các báo tập giấy sao nghị định thuyên chuyển trong các ngạch. Những tờ đầu là tin quan lại: quan tuần phủ nọ hồi hưu, quan án sát kia về phủ Thống sứ, quan tri phủ này bổ đi thương tá, quan tri huyện khác đổi lên thượng du, vân vân. Còn mấy quan tri châu, quan thì được trả về ngạch cũ, làm thư ký tòa sứ, quan thì bị huyền chức. Cuối cùng là năm quan bang tá bị cách tuột chức, lý do là sơ khoáng chức vụ.

Độc giả biết đích xác bọn quan này là những tay lái buôn thuốc phiện lậu, thằng nào cũng giàu sụ, tạo được đồn điền và biệt thự. Họ còn tìm cả báo Tây để xem tin tức bọn viên chức Pháp dính dáng đến việc phạm pháp này. Nhưng vô ích. Thằng Mác-tanh vẫn làm chánh đoan Yên Bái. Nó bắt người dưới quyền nó đi rình hàng lậu cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn mấy thằng Giăng Út, Lu-y Rô-manh, đứa nào ở đâu vẫn giữ nguyên chức vụ ở đó. Nay chúng đi phố, vẫn nghênh ngang, vênh váo, vác mặt lên trời. Hễ gặp người An Nam nào, tuy chúng không nhìn hẳn, nhưng cũng cứ liếc liếc, xem nếu người ấy có chào, thì chúng nhúc nhích cái đầu để gật gật.

* * *

Cố nhiên là nhà thơ Tình muôn thuở được trả lại tự do.

Thằng cẩm Pha-lăng-xô tha ông đấy. Nó nhìn theo ông ra khỏi cổng nhà giam. Lúc thấy ông ngã lăn đùng xuống đất, nó cười ngặt cười nghẹo, gò gập lưng mà cười:

- Từ thuở tao làm nghề này, chưa lần nào tao được cười mệt như lần này!

Nguyên thằng Pha-lăng-xô xưa nay vẫn tự phụ là thông thạo ngôn ngữ Việt Nam. Nên khi thấy ông Hoài Tân Tử khai nghề nghiệp là làm báo, thì nó nhìn ông từ đầu đến chân, như thể để xem tướng. Rồi nó bĩu môi:

- Báo gì? Báo cô hay báo hại?

Nhưng nó quắc ngay đôi mắt, hỏi dằn từng câu:

- Mày ở đảng nào? Đảng mày thành lập từ bao giờ? Mục đích tôn chỉ là gì? Có bao nhiêu người? Ai là đảng trưởng? Tổ chức đảng thế nào? Hoạt động nhiều chưa? Mày làm chức vụ gì trong đảng? Mày trả lời xong ngần ấy câu, tao tha cho về ngay lập tức.

Nhà thơ ta hết sức ngạc nhiên, ông biết ngay là thằng mật thám bắt lầm phải ông, thì thế nào nó cũng thả ông về. Ông lại mừng rằng như thế là công ty của ông chưa bị lộ. Ông không dại gì tố giác ra. Ông phải bắt chước hàn Thừa cái đức tính không lừa thầy phản bạn. Ông nhìn thằng Pha-lăng-xô, lễ phép đáp:

- Thưa ông, tôi không có đảng phái nào. Tôi không biết gì để khai cả.

Bất ngờ thằng Tây lai giơ quả đấm bằng nhôm vào mặt ông để dọa, sừng sộ nói:

- Thế tao bắt oan mày à? Đồ…

Nó nhìn thẳng vào đôi mắt của ông, rồi cười gằn:

- Con ạ, những thằng cùng đảng với mày, đứa nào cũng khai ra mày cả rồi. Tao hỏi ngần ấy câu, không phải vì tao không biết. Tao biết hết. Nhưng chỉ muốn xem mày khai thật hay nói dối mà thôi.

- Thưa ông, xin nhắc lại là tôi không ở đảng phái nào cả. Tôi chỉ làm báo!

- Mày làm gì ở báo nào?

- Trước kia, tôi làm báo Thực Nghiệp, báo Chấn Hưng. Bây giờ tôi không ở hẳn báo nào. Báo nào mời tôi viết thì tôi giúp.

Rồi muốn cho lời bịp được tin cậy, ông nói thêm:

- Thường thì tôi ký bằng rất nhiều biệt hiệu khác nhau.

Thằng Pha-lăng-xô lại ngắm ông:

- Mày viết gì?

Ông Tình muôn thuở đáp không ngập ngừng:

- Tôi làm thơ.

Vẻ chế nhạo, nó vừa nhìn lại tướng ông, vừa cúi đầu để chào:

- À, thi sĩ. Thế thì tao chưa bắt thi sĩ trả lời những câu hỏi của tao bằng văn xuôi vội. Tao cho thi sĩ về, đêm nay phải làm cho xong một bài thơ vịnh cảnh ở tù. Hiểu chưa? Sáng mai, lên đây, đọc cho tao nghe.

Ông Hoài Tân Tử hứa.

Tối hôm ấy, ông không nhờ đến thuốc phiện giúp ông yên-sĩ-phi-lý-thuần. Vả không còn hy vọng được hút, cho nên nhiều lúc, bóng cô ả Phù dung thấp thoáng đến, thì ông dùng ngay oai thằng Tây lai hung ác luôn luôn lởn vởn trong đầu óc, để xua đuổi hình ảnh cô bạn đến định nổi cơn tam bành.

Hôm sau, thằng Pha-lăng-xô gọi ông lên. Nó hất hàm:

- Thế nào? Thi sĩ xong thơ chưa?

Ông vui vẻ đáp:

- Thưa đã.

- Đọc lên tao nghe?

Nhà thơ đằng hắng mấy tiếng. Thằng Pha-lăng-xô làm ra thạo, nhắc:

- Ngâm chứ? Thơ tồi mà ngâm bằng giọng tốt thì cũng hóa ra hay. Trái lại, thơ hay mà không biết ngâm thì nó giảm giá trị. Có đúng thế không?

Ông Hoài Tân Tử cười:

- Đúng thế đấy ạ. Nhưng tôi không biết ngâm. Chỉ xin đọc thôi.

- Cũng được.

Ông Tình muôn thuở lại e hèm năm sáu bận cho cái đàm khỏi làm vướng cuống họng, rồi cất cao tiếng để rên rỉ:

Xót mình thân đớn phận hèn

Cái xe, cái lọ, ngọn đèn, cái móc, cái liêm

Bây giờ cao ngọa xà lim

Như cá trong chậu, như chim trong lồng.

Ước gì tỏ rạng vầng hồng.

Nhờ gương Nhật Nguyệt soi lòng thủy chung,

Ơi Phù dung, hỡi Phù dung!

Nghĩ cây gang tấc muôn trùng mà đau!

Đọc xong, ông nói:

- Hết ạ.

Thằng mật thám đã lắng tai nghe từng câu. Bây giờ nó cầm bút gật gật:

- Khá lắm. Mày đọc lại từ đầu cho tao ghi.

Nhà văn sĩ đắc chí, cho là thơ mình hay, cảm được lòng người. Mũi ông phập phồng, tuy đứng mà đùi ông rung rung, ông đọc lại. Để cho rõ nghĩa, ông nhắc nó chỗ nào đánh dấu phẩy, chỗ nào đánh dấu chấm thường, chỗ nào đánh dấu chấm cảm. Ông dặn là hai chữ nhật nguyệt và chữ phù phải viết hoa.

Chép xong, thằng Pha-lăng-xô đặt bút, nhưng mắt vẫn cắm xuống tờ giấy. Một lát, nó hỏi:

- Cao ngọa là gì?

- Thưa là nằm chỗ cao. Ý nói nơi ở của các bậc tiên.

Nó nhếch mép:

- Hừ! Tiên khồng!

Viết đến đây, tác giả cần mở một dấu ngoặc đơn, để nói cho các bạn rõ về trình độ thông thạo ngôn ngữ Việt Nam của thằng Tây lai như thế nào.

Hồi còn đi học, có một lần, thằng Pha-lăng-xô lại nhà một người bạn tên là Phú để mượn một cuốn sách. Khi đến nơi, nó thấy trong nhà lố nhố những người. Nó hỏi thì Phú nói nhà có giỗ ông nội. Thế là nó sợ quá, vội vàng cắp đít chuồn thẳng, không dám quái cổ lại. Đến nửa đường, nó gặp một người bạn khác đến nhà Phú ăn giỗ. Nó trợn mắt, xua tay để ngăn:

- Chớ, chớ! Lây đấy! Ông nội thằng Phú lên đậu.

Thằng Pha-lăng-xô đã hiểu tiếng có giỗ là có những vết sẹo lỗ chỗ, thâm thâm ở trên mặt, vì bệnh đậu mùa.

Lại một lần nữa, đương lang thang ở phố với một vài người bạn, nó gặp một đám cưới. Nó đứng lại xem, thấy cô dâu đẹp, nó trầm trồ khen, rồi dùng câu tục ngữ để phát biểu cảm tưởng:

- Mẹ kiếp! Đêm nay thì vắt cổ chày ra nước!

Thông thạo ngôn ngữ Việt Nam đến mức ấy, nên khi thằng Pha-lăng-xô đọc bài thơ của anh nghiện nhớ thuốc phiện, thì nó hiểu ngay bằng nghĩa bóng xa xôi. Suy nghĩ xong, nó ngước mắt lên, trừng trừng nhìn kẻ có tội, rồi cười hà hà:

- Mày chối nữa đi! Đảng mày là đảng thân Nhật!

Ông Tình muôn thuở giật nảy mình:

- Thưa sao ạ?

Thằng mật thám như tóm được đuôi người hội kín rồi, nó hỏi để lấy thêm bằng chứng:

- Thế mày có giúp báo Văn Hóa không?

Ông Hoài Tân Tử ngơ ngác, đáp:

- Thưa không. Tôi không biết mặt mũi báo Văn Hóa thế nào.

Thằng Tây lai mở ngăn kéo, lấy ra một quyển báo mỏng, bìa vàng, giơ lên cao, và nói như giảng:

- Cuốn tuần báo này, mặt trước in hai chữ tên báo là Văn Hóa, mặt sau vẽ hình một nửa mặt trời tia ánh sáng ra xung quanh, và có hai chữ VH. Mày chưa trông thấy bao giờ à?

- Vâng!

- Vô lý! Mày ký tên là gì trong báo này?

- Thưa, thật tôi không giúp báo này.

- Mày có biết hai chữ VH là gì không?

- Thưa là hai chữ Văn Hóa viết tắt.

Thằng Pha-lăng-xô lắc đầu, xua tay:

- Không phải. Mày vờ khéo lắm, con ạ. Là hai chữ Vầng Hồng. Biết chưa? Bởi vì hai chữ đặt bên cạnh cái hình mặt trời. Mà nước nào có cờ mặt trời đỏ, mày thấy chứ?

Ông nhà thơ yên lặng, thằng mật thám tiếp:

- Những bài trong báo Văn Hóa sặc mùi thân Nhật, cho nên báo đã bị cấm, mày không biết à?

- Thưa không.

Thằng Pha-lăng-xô xô ghế đứng dậy:

- Thế sao mày bảo mày làm báo? Bú dù!

Ông Hoài Tân Tử chữa:

- Vâng. Tại tôi không đọc những báo lá cải.

- Không phải lá cải.

Ngừng một lát, nó nhìn vào tờ giấy:

- Thế bây giờ tao hỏi mày nhé. Tại sao trong bài của mày có chữ vầng hồng, chữ nhật. Mày tưởng úm nổi tao à? Mày muốn vầng hồng tỏ rạng để thấu tấm lòng thủy chung với nước Nhật Bản của mày, hả? Còn phù dung là nghĩa thế nào? Phù tang chứ? Nói lóng phỏng? Lòng mày gần người Nhật, nhưng mày tiếc rằng đường đất xa xôi, cho nên mày đau lòng! Thơ thâm thúy nhỉ.

Ông Tình muôn thuở đứng đờ người. Mỗi lần ông há miệng, định đáp để cởi cái dây mà ông tự trói ông ra, thì thằng mật thám lại:

- Không cần thanh minh! Không cần chối! Mày đã lạy ông tôi ở bụi này rồi. Vậy tao lại cho mày về xà-lim, nhưng không phải nghĩ thơ, mà nghĩ trả lời những câu hỏi của tao: Mày ở đảng nào? Đảng mày thành lập từ bao giờ? Mục đích tôn chỉ là gì? Đảng mày có những ai? Ai là đảng trưởng? Tổ chức đảng thế nào? Hoạt động những gì rồi? Và mày giữ chức gì trong đảng?

Nó giơ tám ngón tay:

- Tám câu. Trả lời bằng văn xuôi, chứ không cần bằng thơ bát cú để phải tìm vần cho thêm khó!

Đêm hôm ấy, vì ông nhà thơ không phải lo nghĩ câu trả lời mà ông không biết, nên ông bị cơn nghiện nó vật. Ông sổ mũi, hắt hơi, rồi lăn lộn từ trên sàn xuống đất. Lúc mệt nhoài, ông mới nhớ ra là phải tự khủng bố bằng hình ảnh thằng Pha-lăng-xô, và phải luôn luôn không quên rằng ở xà-lim thì hoàn toàn tuyệt vọng về thuốc phiện. Cho nên ông ngủ yên được đến sáng.

Hôm sau, tên cai ngục mở cửa, bắt ông đi đổi thùng xia. Muốn phản kháng, ông nói:

- Thưa thầy, oan lắm, tôi chưa được ỉa.

Nó gõ ba-toong vào đầu ông:

- Mày mà không phải là văn sỹ, thì tao cho một gậy bỏ đời!

Rồi nó nhại:

- Chưa được ỉa! Oan!

- Thưa thật đấy ạ.

- Thế từ hôm vào đến hôm nay, mày ỉa ở đâu?

- Thưa mới hai hôm, thật là chưa được ỉa ạ. Thầy minh xét cho.

- A-lê đi! Không nói bướng. Rồi phải còn đến quan gọi! Mau lên!

Thay thùng xong, ông Hoài Tân Tử vào buồng thằng Pha-lăng-xô. Thằng này hất hàm:

- Tao chờ. Trả lời tám câu đi?

Ông Tình muôn thuở đáp:

- Thưa thật tình là tôi không biết gì.

Thằng mật thám đứng dậy, trỏ lên cái đanh khuy vặn ở khung cửa ra vào:

- Mày có biết cái gì đây không?

Ông nhà thơ nhìn:

- Thưa là cái đanh khuy ạ.

- Để làm gì?

- Để móc cửa ạ.

- Không phải, để treo mày, nếu mày cứ gan mãi.

Ông Hoài Tân Tử tái mét mặt.

Thằng mật thám biết là ông nhát, nó dỗ dành:

- Vậy mày thú đi. Mày nói xong, tao tha ngay lập tức.

- Thưa ông, thật tình là tôi không ở đảng phái nào, nên không biết gì mà khai.

- Thế sao mày lại tái mặt? Mày sợ gì?

- Thưa ông, ai vào đây mà chẳng sợ. Còn như tôi, tôi sợ thêm một nỗi rằng vì ông yên trí tôi có chân trong một hội kín, thì nếu thấy tôi không khai, ông cho là vì phải giữ bí mật, nên tôi gan. Nhưng nếu tôi khai liều lĩnh một vài tên người quen, tất ông cho là đúng tôi ở trong hội kín.

Thằng Pha-lăng-xô cáu:

- À mày rào đường tao? Nhưng tao cứ đi.

Nói xong, nó bảo hai thằng tay sai:

- Làm việc!

Túc thì một thằng lấy dây thép buộc hai ngón tay cái của ông Hoài Tân Tử với nhau. Một thằng bắc chiếc ghế thấp đến ngưỡng cửa, ngay dưới chỗ có đanh khuy. Thằng Tây lai bắt ông đứng trên ghế, giơ hai cánh tay lên. Tự nó vặn dây thép thít chặt hai ngón tay ông với lỗ đanh. Nó rút cái ghế ra, nhìn lên chỗ buộc, yên trí là ông bị treo lửng lơ rồi.

Nhưng sự thật thì ông Tình muôn thuở vốn cao lênh khênh. Ngày trước, ông vẫn ức với chị em dưới xóm chế ông vừa đen vừa cao để nói xỏ ông là cái thử khoản. Nhưng bây giờ vào sở mật thám, ông mới thấy cao là có lợi. Ông không bị treo lơ lửng. Ông duỗi thẳng bàn chân xuống, vẫn thấy mấy ngón đụng đến sàn. Muốn thằng mật thám khỏi khám phá ra vụ bu lu lâu, ông phải hơi co cẳng lên một chút.

Thằng Pha-lăng-xô đứng trước mặt ông. Nó cầm roi gân bò, hầm hầm hỏi:

- Mày không thú thật, thì tao đánh. Tao không cần mày thuyết. Mày vào đây để khai, chứ không phải để dạy tao như ban nãy. Tao còn đẻ ra cái chính trị của chúng mày. Mày nghĩ xem, một đằng khai, thì được tha ngay. Một đằng gan, thì phải đòn phải đánh, phải tra tấn rất đau đớn. Mày muốn đằng nào?

Ông Hoài Tân Tử kêu:

- Oan tôi lắm. Tôi không biết gì mà khai.

Hai roi quật vào lưng ông:

- Gan! Không khai! Bướng! Không đổi thùng!

Tức thì ông nhà thơ kêu oai oái, co cẳng, nhảy hai cái đánh vót thật cao. Như kiểu người giỏi võ đá xăng phi vậy. Thằng Pha-lăng-xô giật mình, vội vàng lùi lại một bước. Là vì bị đau, ông quên là không bị treo thật. Đáng lẽ ông không nên nhảy để khỏi lộ bí mật. Người khác, bu lu trên không, khi bị đánh, chỉ giãy giụa tại chỗ, chứ không tung hoành ra được trong một khoảng vừa cao vừa rộng như ông.

Có lẽ cho phạm nhân là văn sĩ, nên bị đòn mà vẫn ngang tàng, thằng Pha-lăng-xô quật năm sáu roi liền:

- Nói! Nói! Nói!…

Ông Hoài Tân Tử xăng phi lia lịa.

Thằng mật thám ngừng tay. Thấy ông kêu to quá, nó bắt đóng tất cả cửa kính lại. Bỗng nó nhìn kỹ ông, có vẻ ngạc nhiên. Nó vẫn thấy mặt ông tái, chứ không bự đỏ vì máu ứ như những người khác treo lơ lửng như thế này. Nó nghi. Nó đưa mắt xuống chân ông vẫn còn dính trên mặt sàn. Ông vội vàng co cẳng lại. Nhưng không kịp.

Thằng Tây lai tìm ra cái duyên cớ ngang tàng của nhà thơ rồi. Nó biết không phải ông gan bướng. Nó bật buồn cười:

- Tao cho mày về nghỉ để nghĩ kỹ xem nên khai hay không. Hôm nay mày mới điểm tâm chút ít, nhưng mai thì được ăn thật nhé.

Nằm trong xà-lim, ông Hoài Tân Tử lo lắm. Vốn ở Hà Nội lâu, ông không lạ gì cái gọi là đòn xăng-tan mà sở mật thám dùng để tra tấn phạm nhân, ông đoán là ông sẽ bị gí điện, một đôi khi ông đã phải điện giật. Cho nên ông tưởng tượng là điện gí lâu vào người, ông sẽ thấy thế nào. Ông rùng cả mình. Nhưng sực nhớ ra là thấy ông kêu, thằng Pha-lăng-xô phải đóng cửa ngay. Chắc rằng nó sợ tiếng lọt ra ngoài. Thế thì muốn nó e ngại vì tiếng kêu, chi bằng ông cứ rống thật to như bò, thế nào nó cũng phải ngừng tay.

Ông thiu thiu ngủ. Bỗng ông ngửi thấy một mùi đúng là mùi đầu dọc tẩu. Ông mở mắt ra để tìm. Thì ra ông nằm quay mặt vào, mũi sát vào tường. Tường ẩm máu rệp, mồ hôi, ướp mùi nước đái, cứt, cho nên nó hăng xì xì như mùi đầu dọc tẩu mà ông vẫn ngậm, ông tìm được cách giúp ông chừa thuốc phiện vo. Mỗi khi nhớ bàn đèn, ông gí mũi vào tường khai thối, để hưởng cái mùi quen thuộc và dễ chịu.

Hôm sau, thằng Pha-lăng-xô gọi ông lên, nhưng không hỏi han gì. Nó cầm hai dây điện. Khi nó mới gí một đầu dây vào tay ông, ông đã nhảy phắt lên, và kêu thật to:

- Ôi giời ơi đau! Lạy ông!

Thằng Pha-lăng-xô vẫn để các cửa mở:

- Đau gì? Đau gì? Đã có điện đâu mà ầm ĩ lên?

Quả là thế. Mới có một dây chạm vào người ông thôi. Chưa có điện truyền thật.

Thằng mật thám buộc chặt một đầu dây vào một ngón tay của ông. Nó cầm đầu dây kia, rồi hất hàm:

- Mày phải vãi cứt vãi đái ra rồi mới khai phải không? Đã đổi thùng chưa?

Nó gí đầu dây cầm ở tay vào mặt ông. Ông bị điện giật đánh thót, thót lên tiếng kêu, nhảy tót lên, rồi ngã sóng xoài.

Thằng Pha-lăng-xô thấy chân tay ông dài lêu đêu, quều quào như múa, thì buồn cười. Nó vẫy ông đến gần:

- Không tránh đâu thoát, con ạ.

Nó đi đến góc tường, rút cái chốt truyền điện ra rồi buộc nốt một đầu dây nữa vào đầu ngón tay khác của ông:

- Thế nào? Muốn khai hay muốn tập võ?

Không đợi ông đáp, nó lắp chốt điện.

Ông Hoài Tân Tử nhảy chồm chồm, hộc lên như bò rống. Rồi nằm ườn xuống sàn, mắt nhắm như người chết. Thằng mật thám vội vàng rút chốt ra.

Hai thằng tay sai, vì quen nghề, cúi mặt xuống gần người bị điện giật. Chúng ngửi ngửi, hít hít. Rồi cởi dải rút, tụt quần ông ra để nhìn.

Cả chúng lẫn quan thầy chúng cùng trông nhau. Thằng Pha-lăng-xô lắc đầu:

- Thằng này nguy hiểm lắm. Thế mà nó vẫn chưa việc gì. Phải gí điện lâu nữa, nó mới sợ.

Rồi nó dạy kinh nghiệm cho hai thằng chó săn:

- Hễ sợ thì phải vãi cứt vãi đái. Mà có vãi cứt vãi đái, nó mới biết sợ.

Ông Hoài Tân Tử tuy nằm, nhưng còn tỉnh, ông hiểu là vừa rồi ông bị chúng khám đít.

Thằng Pha-lăng-xô sai:

- Trói chặt nó lại.

Ông Hoài Tân Tử biết thế nguy, vội vàng ngồi dậy:

- Thưa ông tôi xin nói.

Thằng mật thám gật đầu:

- Tao nghe.

- Thưa ông, ông có bảo tôi là có chân trong hội kín chính trị. Sự thật tôi chỉ có chân trong hội kín kinh tế thôi.

- Nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là công ty buôn thuốc phiện lậu.

Thằng Pha-lăng-xô gật đầu:

- Tao biết công ty ấy từ lâu rồi. Không cần đến mày nói. Có vợ chồng thằng An-be Thừa phải không? Mày định khai ra chúng nó chứ gì?

- Vâng, và cả ông Mác-tanh nữa ạ.

- Mác-tanh nào?

- Mác-tanh là chánh đoan Yên Bái, giám đốc công ty.

Thằng Tây lai cười:

- Mày cùng rồi, con ạ. Mày định bôi nhọ nước Pháp để tuyên truyền tao phục nước Nhật phỏng?

- Tôi không định thế. Nhưng tôi nghĩ mãi. Có lẽ ông lầm công ty này là hội kín, nên mới bắt tôi.

- Tao không lầm. Mày phải khai cái đảng thân Nhật của mày ấy. Tám câu tao hỏi mày, mày phải trả lời. Và tao cấm mày không được xưng bậy xưng bạ, xưng cả tên một quan chức người Pháp.

Sáng hôm sau, ông Hoài Tân Tử không bị thằng Pha-lăng-xô gọi lên.

Là vì thằng Tây lai đã báo cáo với chánh mật thám Bắc Kỳ rằng Mác-tanh bị tố giác là giám đốc công ty buôn thuốc phiện lậu.

Việc thằng Pha-lăng-xô vô tình điều tra thấy tên thằng Mác-tanh ăn khớp việc thằng Pu-lê Ô-di-ê tìm ra người sáng lập và giám đốc công ty buôn thuốc phiện lậu lớn nhất Bắc Kỳ từ xưa đến nay. Vì vậy, sở mật thám nhận được mật lệnh của thống sứ Rô-banh là phải dìm vụ này đi, kẻo rút dây động rừng, làm ô danh người Pháp.

Đáng lẽ ông Hoài Tân Tử được tha ngay sáng ngày hôm sau. Nhưng không may cho ông, sở mật thám vừa mua về được của nước Mỹ mấy hòm quay điện tối tân, dùng để tra tấn phạm nhân.

Thấy của lạ, của mới, thằng cẩm và thanh tra nào cũng muốn thí nghiệm vào người mà chúng đương thẩm vấn. Đứa nào cũng phục là thần hiệu. Chúng khoe với thằng Pha-lăng-xô:

- Tài thật! Tóe cả cứt lẫn đái! Rồi phun phè phè ra hết!

Thằng Pha-lăng-xô thấy tra bằng cách gí điện mà ông nhà thơ vẫn giữ vững tấm lòng son, thì nó tức lắm. Nó chưa tha ông vội, để nhờ kỹ thuật của Mỹ thử vào ông.

Nó gọi ông lên buồng giấy. Lần này, nó nói ôn tồn:

- Mặt mày thì có vẻ nhút nhát. Nhưng tao không hiểu đầu óc, nhất là cơ thể của mày thế nào, mà từ việc to đến việc nhỏ, mày gan và bướng thế. Bảo khai đảng thân Nhật, mày tố giác quan chánh đoan Mác-tanh. Bảo đổi thùng, mày càu nhàu là chưa được ỉa. Đến nỗi bị gí điện, mà đít mày cũng cứ sạch lầu lầu thôi!

Rồi bỗng nó trở mặt:

- Tiên sư mày! Nhân tiện có hòm điện mới của Hoa Kỳ, ông thấy nói là tốt lắm, thì ông phải thí nghiệm vào mày, xem mày gan bướng thế nào, và có còn già mồm là chưa được ỉa nữa không!

Ông Hoài Tân Tử sợ hãi, run lên bần bật. Ông không ngờ sở mật thám tây lại cần đến cứt của ông để chứng minh cho kỹ thuật tra tấn người của nước Mỹ. Nhưng đành rằng ỉa một bãi mà cứu vãn nổi giá trị của khoa học Hoa Kỳ, ông không thiệt hại gì, lại có lợi về nhiều mặt. Song, chẳng phải vì có tư tưởng bài Mỹ, thân Nhật gì đâu, việc ấy quả tình là ông khó làm lắm. Ông cứ cố hết sức thôi. Còn kết quả ra sao, là tùy ở trời. Có khi nhân định thắng thiên cũng nên.

Nghĩ vậy, ông Hoài Tân Tử nhìn cái hòm quay điện mà rùng mình.

Thằng mật thám bắt ông cởi hết quần áo. Ông sượng sùng, thẹn thò, cong cong người, lấy tay bịt kín cái mà ông không muốn “quan trên nhìn xuống”.

Rồi ông kêu khóc, lạy van ầm ĩ:

- Thưa ông, tôi không thân Nhật, thân Việt Nam! Tôi không bài Pháp, bài Mỹ!

Nhưng thằng Tây lai không mủi lòng. Nó vừa tủm tỉm, vừa trói ghì chân tay ông lại, rồi khênh ông nằm trên bàn. Đóng kín các cửa xong, nó gài dây điện vào bụng ông. Sợ quá, ông cuống quýt:

- Thưa ông, ông cho tôi nói một câu, một câu thôi.

Thằng Pha-lăng-xô hất hàm. Nó đợi.

- Thưa ông, ông sáng suốt, chắc nhìn thớ người tôi, ông biết ngay rằng tôi nhút nhát, không dám làm chính trị. Vả, giá tôi có dại dột mà làm chính trị, thì cứ mã người tôi thế này, ông chỉ búng một cái là tôi phải phun phè phè ra hết rồi. Từ hôm nọ đến hôm nay, tôi khổ quá rồi, mà ông cứ nghi tôi là gan. Nhưng ông tra tấn thế, chứ tra tấn nữa, chỉ mỏi tay ông, chứ tôi không biết gì mà phun đâu.

Thằng Tây lai thấy ông nhà thơ nói đúng quá, thì nó mỉm cười, song, phải lập nghiêm:

- Mày gan cái khác kia!

Dứt lời, nó cầm cái ngõng của hòm điện, quay một vòng, ông Tình muôn thuở giật đánh thót, bắn mình, miệng kêu hồng hộc.

Thằng Pha-lăng-xô gật gù. Nó quay hai vòng. Ông giãy giụa trong cuộn thừng thít chặt. Và trong khi miệng ông rú lên những tiếng thét thất thanh, thì ông cố rặn hạch. Đít ông tuôn ra được một tràng rắm xìn xịt.

Thằng mật thám cho là kết quả đến nơi rồi. Song, nó chưa thỏa mãn. Nó cần nhìn thấy thể rắn, chứ không cần ngửi thấy thể hơi. Nó bèn quay một hồi năm sáu vòng liền, ông Tình muôn thuở ngất đi, không cựa được và không kêu được. Nhưng vẫn phì ra một hơi dài, thôi thối.

Thằng Pha-lăng-xô bực mình. Không lẽ máy móc được tiếng là tốt, bọn đồng nghiệp nó tra tấn ai cũng khoe rằng người ấy phun phè phè ra bí mật. Thế mà nó tra tấn ông, ông chỉ phun ra có cái ấy.

Nửa phút sau, ông cựa cậy. Ông cố hết sức lấy hơi để rặn, đỏ cả mặt. Nó đứng im để nhìn. Bỗng nó ra hiệu cho hai thằng tay sai cùng chú ý. Hai con chó săn giương mắt trông. Thấy lỗ đít ông bắt đầu mấp máy, chúng vội vàng kéo ông ghếch ra mép bàn. Rồi cả ba đứa yên lặng, hồi hộp, để chờ đợi.

Bắp thịt đít ông Hoài Tân Tử doãng rộng. Bỗng một tràng tiếng lạch bạch, kêu như pháo, báo tin mừng là máy móc Mỹ tốt thật. Từ cái hang thẳm giữa đôi mông nhăn nhúm của ông nhà thơ, một thứ vật thâm xì lòi dần, lòi dần ra. Cả ba đứa cũng hồi hộp nín thở, để chúng kiến cuộc bài tiết sắp trình diện trước mặt chúng. Chúng mừng như thấy mẹ về chợ. Nhưng như cô gái tơ hay e lệ, cái vật xiết bao mong đợi ấy chỉ thập thò tới đó thì ngừng. Bắp thịt lỗ đít co lại làm nó thụt hẳn vào.

Thằng Pha-lăng-xô thở dài. Nó không rõ có phải cứt hay không. Sao lại không màu vàng? Chợt nghĩ ra cái giống làm báo làm văn là bất trị lắm, nó cáu tiết. Nó thò tay cầm cái ngõng hòm điện, quay tít đến mười vòng, ông Hoài Tân Tử giãy như người giãy chết, miệng ằng ặc không ra tiếng. Nhưng một mặt do ông tự lực ì ạch, ư ử, một mặt do có khoa học Mỹ giúp sức, sau hết, lỗ đít ông bị kích thích mạnh. Nó doãng rộng hơn. Cái vật thâm xì ban nãy lòi ra nhanh hơn. Ba thằng lại hồi hộp, nín thở. Thì sung sướng làm sao? Đó là hòn cứt thật. Hòn cứt gọn ghẽ, thâm xì, rắn chắc và nhẵn thín đã són ra, trình bày cả hình thể lẫn khối lượng của nó. Nó tròn như hòn bi, to gần bằng ngón chân cái. Cái hòn cứt độc nhất ấy ra khỏi hang, nó rơi tọt xuống sàn gạch hoa, kêu thành tiếng.

Thằng Pha-lăng-xô hớn hở, thở phào một cái:

- Tưởng gan bướng mãi! Của Mỹ có khác thật!

Một thằng tay sai chia vui với quan thầy:

- Bẩm quan lớn, thằng này đúng là quan viên làng bẹp. Nó nghiện khá nặng, nên cứt nó mới táo bón và đen như thế này.

Thằng Pha-lăng-xô ngớ mặt, nhún vai và há to miệng:

- À à à à! Hèn nào mà cai bắt nó đổi thùng, nó cứ kêu là chưa được ỉa. Thì ra nó oan thật, chúng mày ạ.

Cả ba thằng cùng phá ra cười.

Chứng minh xong cái thần hiệu của máy móc nước Mỹ, thằng Pha-lăng-xô không có lý do gì giữ ông Tình muôn thuở ở xà lim nữa. Nó ký giấy tha cho ông về nhà. Ông mừng lắm, ngồi nghỉ một lát cho lại người, rồi đi lấy quần áo mà hôm vào, ông phải ký lại.

Mặc xong bộ đồ nát nhàu, vì bị cuộn tròn vứt ở xó từng ấy ngày, ông nhà thơ soi mặt mình vào tấm kính cửa. Thấy tóc dài nhiều, râu ria ở mép và ở cằm phun ra tua tủa, hai má phị ra, ông phác ngay trong óc một chương trình hoạt động. Ông phải đi cạo đầu cạo râu ngay, rồi lên hiệu đánh một bữa cho thật khướt, để chiều nay, lên Cẩu Rồng.

Bởi vì trong những hôm “cao ngọa xà lim”, không mấy ngày ông không nghĩ đến công ty và ông bạn quý đáng làm thầy ông về mặt đạo đức. Ông phải báo cho Thừa biết tin vui là công ty vẫn có thể hoạt động, vì ông vô tội, mà Mác-tanh không bị sứt mẻ danh dự. Song, ông không muốn giữ chức vụ gì trong hội buôn nữa, vì ông đã chữa hẳn được thuốc phiện rồi. Ông phải hãnh diện mà khoe với Ma-ri là ông chỉ cai vo. Ông đã giữ đúng lời nói cứng là cứ thử mắc nghiện, để lúc nào muốn chừa thì chừa. Ông ngầm phục mình là cương quyết, đầy nghị lực.

Thằng Pha-lăng-xô và hai thằng tay sai đứng ở sân. Chúng nó chờ ông đi để nhìn theo. Thấy thân hình ông khẳng khiu, chân tay ông lêu đêu, mặt mũi ông xanh bủng, thằng Tây lai than thở:

- Tiếc quá! Giá tao biết nó là làng bẹp, nghiện oặt xà lai, thì tao chả cần đánh chác, tra tấn gì cho mỏi tay. Tao chỉ cho nó hút một bữa, thì có gì cũng phun ra hết!

Ông Hoài Tân Tử chào chúng nó, rồi thất thểu đi. Ông cố bước những bước dài, chắc và nhanh, như một người bằng lòng mình vì lành mạnh.

Nhưng vừa ra khỏi cổng ngoài cùng, đặt bước chân đầu tiên trên hè phố, bỗng ông hắt hơi dồn bốn năm cái, tự nhiên nước mắt nước mũi trào ra, giàn giụa, ông chuệnh choạng, rồi ngã vật xuống đất đánh huỵch.

Thằng Pha-lăng-xô đứng ở trong nhìn ra. Nó giậm chân xuống đất, gò lưng, ôm bụng mà cười, cười như nắc nẻ.

Nhưng người khác không cười trước một tai nạn của đồng loại. Ai cũng tưởng người tù được tha có máu động kinh bị lên cơn. Họ vội vàng chạy đến cứu!

Nhưng không phải.

Mắt ông vẫn mở trừng trừng. Đôi con ngươi sáng quắc đương chăm chắm nhìn vào hai đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ vê vê với nhau. Ông nói:

- Nhờ ông bà gọi cho tôi cái xe, bảo kéo hộ ngay lên Yên Phụ.

Rồi ông tiếp:

- Bao nhiêu tiền cũng được.

Thì ra quả là thuốc phiện có ma.

Ra đến phố, được tự do, ông làng bẹp nhà ta được có hy vọng đi hút, thì ông không chịu nổi nữa. Cơn nghiện mà từng ấy hôm ông không hề nghĩ tới, bây giờ nó nhập ngay vào người ông. Nó quật ông ngã, bắt ông phải lên ngay nhà chị Sáu, chứ chưa cần đi cạo đi ăn, đi Cẩu Rồng. Nằm trên hè, ông không thấy đau, lại còn tưởng tượng như nhìn thấy chính tay đương tiêm điếu thuốc quánh, lăn trên diện tẩu gan gà nhẵn thín.

Sung sướng thay! Nhà thơ lãng mạn đã được ả Phù Dung chờ đón, đon đả khuyên chàng đừng thay lòng đổi dạ như những bạc tình lang.

anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc k
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.