Thường những người quen làm việc lớn, đến khi gặp việc nhỏ phải giải quyết, thì lại bất lựcVí dụ như Ma-ri trước kia, nghĩ cách giết hàn Xương để chiếm đồn điền thì dễ, nhưng bây giờ, xử việc con trai định bài bây với đầy tớ gái, thì lại lúng túng. Muốn cho yên chuyện, hắn vừa làm ra vẻ dễ dãi mà đánh trống lảng, vừa dùng uy quyền của người trên để mắng át, khiến người dưới phải mất tinh thần.
Song, thắng nổi bọn đầy tớ gái bằng cách bắt nạt như vậy, tuy khủng bố được họ, nhưng Ma-ri không khỏi không bực mình là kém, và bực con là hư. Thời buổi bây giờ trẻ con nó tinh quái hơn cha mẹ nó ngày trước. Nghĩ vậy, Ma-ri nhớ lại hồi hắn bằng tuổi thằng Pôn bây giờ. Quả tình là trông thấy con trai thì hắn cũng thích. Nhưng cái lần đầu tiên hắn bị ông hai Sơ, là em ông ký Bưởi, lùa hắn vào buồng mại bản tàu Phi Phượng rồi đóng ập cửa lại, thì hắn sợ, sợ quá. Năm ấy, hắn mười lăm tuổi, đã có trí khôn để hiểu rằng ông ta sắp làm gì hắn đây, nhưng hắn cứ ghê ghê, người run bắn lên, và miệng kêu Giê-su ma, Giê-su ma!
Thế mà thằng Pôn thì gớm thế đấy. Tuổi xem bói, nó mười bốn, nhưng tuổi tây nó mới mười ba. Mà tuổi học, vì khai sinh lậu cho nó theo kịp với lớp vừa trình độ với nó, thì nó lại chỉ mới mười hai. Những tây con, đầm con cùng lớp với nó, cũng chỉ bằng tuổi nó, hoặc ít hơn, lên mười, lên chín cả thôi. Vậy không rõ ai dạy nó mà nó biết sớm thế. Hắn cười khẩy lên thành tiếng.
Thấy bọn đầy tớ gái ngơ ngác nhìn mình, Ma-ri cũng ngạc nhiên nhìn lại họ. Hắn sực khám phá ra thêm một bí mật nữa ở những người đương tuổi hơ hớ này, là không phải họ chỉ gợi cho chồng hắn, cho xừ Tuynh thèm muốn, mà còn như những mồi ngon cho mấy thằng con trai tinh quái của hắn. Đối với Thừa, đối với xừ Tuynh, hắn có thể ghen tuông để ngăn giữ nổi. Nhưng đối với lũ con, thì hắn khuyên bảo chúng nó thế nào cho chúng nó khỏi dại dột?
Chợt nghĩ ra một ý, hắn gọi:
- Huệ! Đi gọi cho tao cụ quản.
Quản là tiếng nói ngắn cái chức quản gia. Chức quản gia này, Thừa phong cho lão hai Điều từ ngày đồn điền có thêm xừ Tuynh đến nhậm chức là ông đội. Dinh quan có ông đội, lại có cụ quản, thì tự nhiên địa vị của quan được nâng cao. Cụ quản to hơn ông đội, vì là chú của quan. Song, tuy là quản, là đội, mà mỗi người một việc, ông đội trông nom ruộng nương. Cụ quản săn sóc việc nhà. Không ai dưới quyền ai.
Ngoài cái nhiệm vụ chính là quản cái gia đình này, cắt đặt người ăn người làm từ việc nhỏ đến việc to, hai Điều còn được quan sai thêm một việc nữa mà hắn rất thích - Vì hắn rất thạo. Và làm việc ấy hắn lại phát tài. Là mỗi khi quan có khách đến đánh xóc đĩa, thì hai Điều ngồi xóc cái. Lão già xóc rất khỏe và rất tài. Hắn cứ ngồi xếp bằng tròn ở một chỗ, suốt đêm, mà không mỏi, vẫn tỉnh táo như thường. Lúc nào bốn đồng tiền giấy rung trong bát cũng cứ rền như hồi chuông điện. Hắn biết khiến tiếng bạc đi rất bay bướm. Nó đương nhảy, hắn muốn ghìm nó đứng, là nó phải đứng. Rồi tùy đấy, hắn muốn nó rệp, hay khuôn, là do mức tay của hắn rung ngắn, dài, mạnh, khẽ thế nào đó, duy chỉ hắn biết. Còn người ngoài đố ai đoán ra. Cho nên, ai thông lưng với hắn, đãi hắn nhiều tiền, thì hắn cho ám hiệu mà đánh, chẵn hay lẻ, mười tiếng thế nào cũng đậu đến bảy tám.
Lão lại nhanh nữa. Ngần ấy tuổi đầu mà rất tinh. Bên chẵn đánh bao nhiêu, bên lẻ đánh bao nhiêu, trong khi mấy cô gái non hồ lỳ còn lẩm nhẩm, tính mãi không ra, thì chỉ lướt mắt một cái, là hắn biết ngay đâu nặng, đâu nhẹ để bán.
Bây giờ, hai Điều già đi và xấu đi nhiều. Hai gò má hắn dô ra. Vì phải thức đêm luôn, râu tóc hắn bạc hết, và rụng mất đến quá nửa. Hắn không còn cái dáng điệu quan tại chức bệ vệ thuở xưa. Trái lại, nhiều lúc xun xoe trước mặt chủ, hắn cố còng cái lưng chưa gù của hắn xuống, cho ra vẻ yếu đuối, mà vâng vâng dạ dạ, thì trông hắn lại ra quan thái sư rạp tuồng. Rõ là tay chỉ sống bằng nịnh hót.
Hai Điều đến buồng Ma-ri thì tụt guốc ở ngoài cửa. Hắn gõ cánh ba tiếng mới rón rén vào. Bà hàn giơ tay mời:
- Ông ngồi. Tôi có việc khó nghĩ quá, ông ạ.
Hai Điều chưa biết việc khó nghĩ gì, nhưng đã làm ra vẻ buồn hộ chủ. Hắn cau mặt, thở dài, rồi ngồi xổm xuống đất:
- Có việc gì, bà lớn cứ dạy.
- Con Sen ấy, ông ạ, nó vừa mách tôi là cháu Pôn định hiếp nó.
Hai Điều nhăn nhó, vội vàng xua tay:
- Vô lý! Vô lý! Con ranh con chỉ là điêu đấy. Để tôi cho nó một trận.
Ma-ri sung sướng, ngồi nhổm dậy, rồi nhìn ba người đầy tớ gái:
- Đấy nhé. Tao phân vua với chúng mày nhé. Chúng mày nghe rõ chưa? Tao mà nói câu ấy, chúng mày lại bảo là tao bênh cậu.
Hai Điều nói:
- Không. Các cậu các cô nhà này thiệt ngoan nết. Cái việc ấy, nhất định là không có. Cứ bảo An-nam học chung với Tây con đầm con, thì quen thói tự do, dễ sinh hư. Nhưng tôi tưởng hãy được hư như họ. Hư mà người ta lấy nổi nước mình?
Ma-ri gật đầu:
- Ông làm chứng hộ các cháu. Kẻo quan không biết, lại mắng oan các cháu.
Rồi hắn dịu dàng:
- Nhưng, ông ạ, tôi cũng cứ nhờ ông một việc, là ông để ý dò xét các cháu hộ, nhất là cháu Pôn. Hễ các cháu nghịch ngợm gì, thì ông khẽ lấy lời bảo ban các cháu. Tôi là mẹ các cháu, các cháu không sợ tôi bằng sợ quan nhà. Mà cái nghề trẻ con chúng nó thế, chẳng đứa nào sợ cha mẹ bằng sợ người ngoài.
- Vâng. Quan với bà lớn là bậc nhân đức, đối với người khác còn dễ dãi, huống hồ là đối với các con. Các cậu các cô học ở Hà Nội, họa hoằn có ngày nghỉ lễ, mới về một vài hôm, còn thì đến tận ba-căng[1] mới ở nhà lâu, quan với bà lớn nuông chiều là đáng lắm.
- Ấy đấy. Chính là tôi sợ các cháu được nuông chiều thì cháu Pôn dễ sinh hư, ông ạ.
Nói đoạn Ma-ri đuổi ba người đầy tớ gái ra ngoài, rồi thì thào với hai Điều:
- Chỗ trong nhà với nhau, tôi nói thật, ông ạ. Có lẽ đúng cháu Pôn nó thế đấy, ông ạ.
Hai Điều nhăn nhó, đáp bằng giọng cương quyết:
- Không đời nào! Con nhà nào hư thế nào, tôi không biết, chứ nhất định các cậu các cô nhà này không hư. Tôi nuôi cậu Pôn từ ngày chập chững. Tôi biết.
- Thế tôi giao trách nhiệm trông nom các cháu cho ông nhé.
- Vâng. Tôi xin nhận. Bà lớn mà thấy các cậu các cô hư, bà lớn cứ chém đầu tôi đi.
Ma-ri tủm tỉm, lại nằm xuống:
- Thế là tôi yên tâm.
Rồi hắn hỏi:
- Hay là lũ ranh con này nó gạ gẫm thằng bé, hở ông?
- Không. Chúng nó làm gì mà qua được cái mắt quản gia, thưa bà lớn? Ở nhà này, ai hơi có ý gì, chỉ thoáng một cái là tôi biết.
- Thế thì tốt lắm. Vậy tôi nhờ ông để mắt đến các cháu. Nhưng có gì, thì ông nói riêng với tôi, đừng trình quan nhé.
- Vâng. Tôi cũng xin để ý đến cả đội con gái nữa. Biết đâu là không như bà lớn vừa dạy, chúng nó lại không đầu têu?
Sực nhớ ra, Ma-ri với tay, đập vào vai hai Điều:
- À, ông ạ. Hình như đội Tuynh nó chấp chới con Sen phải không?
Lão già lắc đầu thật thong thả:
- Khôôông! Đội Tuynh thiệt đứng đắn.
Ma-ri sung sướng:
- Tôi sợ hắn ta không tốt, lại dạy các cháu tinh quái chăng?
- Khôôông! Đội Tuynh thiệt tốt.
Ma-ri hỏi lại:
- Đội Tuynh thiệt đứng đắn, thiệt tốt, hở ông?
- Vâng. Không thế, bà lớn cứ chém đầu tôi đi.
Ma-ri nghĩ ngợi:
- Tại tôi cứ thấy các cháu thích nghe chuyện hắn. Con Rô-da-lin lại hay đòi ngủ với chú đội. Một lần tôi hỏi tại sao nó không ngủ với các em, nhưng nó không nói.
Hai Điều cười:
- Cô mến ông đội.
Một lát hắn tiếp:
- Cô giống bà lớn.
Bất đồ, Ma-ri giật nảy mình, ngồi nhổm dậy, hỏi dồn:
- Thế nào? Cháu giống tôi thế nào?
Biết câu nịnh có thể bị hiểu sai, lão già vội vàng giải thích cái ý của mình:
- Cũng phúc hậu. Biết thương người. Đẹp cả người cả nết.
Ma-ri mỉm cười:
- À à à!
Sợ nói thêm nữa lỡ có điều gì hớ hênh, hai Điều đứng dậy:
- Bà lớn còn bảo gì nữa không ạ?
- Không. Chỉ nhờ ông trông nom các cháu khỏi nghịch ngợm thôi.
- Vâng. Xin tuân lệnh.
Rồi hai Điều thở dài, nói một mình để làm công làm cán:
- Chà! Trách nhiệm nặng nề lắm đây!
Ra đến cửa, hắn sực nhớ là chưa khoe một việc.
- À, thưa bà lớn, đêm nay hàng về.
Ma-ri gật đầu:
- Ừ, ông đã nói từ hôm qua. Ông gọi đủ người để chợt lúc nào hàng đến thì bốc ngay nhé.
- Bẩm đâu vào đấy cả rồi.
- Còn việc tiếp khách chiều và đêm?
- Bẩm cũng đâu vào đấy cả rồi.
- Thế thì tốt.
Được tiếng khen, hai Điều tủm tỉm ra cửa. Nhưng Ma-ri gọi lại:
- Này! Ông hai! Tôi sốt ruột lắm ông ạ, không biết đi chết mất xác ở đâu mà hôm nay chưa về. Hay lại xảy ra chuyện gì?
Hai Điều cười:
- Bây giờ trong nước thế là yên ắng rồi. Bọn phiến loạn bị bắt hết. Tên đầu đảng Nguyễn Thái Học nay mai cũng chết chém. Thế thì còn ai đứng lên mà tống tiền với cướp đường nữa. Việc gì bà lớn phải sốt ruột?
- Không. Tôi có sốt ruột vì thế đâu. Nhưng hàng về đến nơi, mà quan không có nhà, thì ai đi lĩnh, ai nhận tiền để chia cho người ta?
- Tôi chắc nội nhật hôm nay, sớm muộn thế nào quan cũng về.
- Tôi tính thế này. Nếu từ giờ đến hai giờ mà quan chưa về thì ông đi chuyến tàu ba rưỡi xuôi Hà Nội tìm quan cho tôi.
Hai Điều gãi râu:
- Vâng, nhưng biết quan có nhà hay không. Ngài bận nhiều việc lắm kia.
- Nếu không ở nhà, thì tôi bảo chỗ cho mà tìm.
Hai Điều lẩm nhẩm một mình, như tính toán việc, để khoe thêm một công nữa:
- Thế thì tôi phải bảo nó làm ngay mới kịp.
Ma-ri ngơ ngác hỏi:
- Bảo ai? Làm gì?
- À, trình bà lớn, tiệc xú đề đêm nay, tôi không dọn cháo gà, mà đổi món là cháo lòng. Vì gà độ này đắt mà nhà hai Đạt định mổ lợn để bán phiên chợ ngày mai.
- Lợn rẻ hơn gà à, hở ông?
- Không phải thế. Tôi đã báo nó để lại cho nhà bộ lòng, và bắt tính giá nội. Chi giá nội thì rẻ hơn mua gà nhiều.
- Thiệt cho nó, nhỉ ông nhỉ.
- Bà lớn cứ thương người! Kệ nó chứ. Trong dinh lấy thì bố bảo nó cũng chả dám xin như giá bán ở ngoài.
Ma-ri tủm tỉm, khen:
- Ông thật là biết thu và thu vén cho chủ.
Rồi hắn băn khoăn:
- Nhưng, ông ạ, mình cần lòng ngay đêm nay, mà sáng mai nó mới cần thịt để bán, thì nó mổ vào lúc nào?
- Đáng lẽ gà gáy nó mới mổ, thì tôi bảo nó mổ ngay tối nay. Nhưng vì bà lớn sai tôi đi Hà Nội, nên tôi bắt nó phải mổ xong trước lúc ba giờ, cho tôi trông thấy, khỏi lỡ việc của mình.
- Thế thì nó phải để thịt đến sáng mai, không khéo ôi hết mất.
Hai Điều tặc lưỡi:
- Kệ nó. Cốt chạy việc cho mình.
Ma-ri nhắc:
- Hay là, ông ạ, cũng là làm phúc, nhân tiện ta lấy hắn nửa con để làm cơm khách chiều nay. Thế là giúp cho nó khỏi phải để thịt ôi. Cũng chi cho nó giá nội thôi chứ gì?
Hai Điều chưa kịp đáp, bỗng có tiếng còi ô tô ở xe, Ma-ri sáng ngời đôi mắt:
- Tiếng còi xe nhà. Quan về!
Hai Điều cũng mừng:
- Vâng. Đúng, đúng. May cho tôi đỡ phải đi Hà Nội. Chẳng mà công việc ở nhà có sơ suất, bà lớn cứ nhè quản gia ra bà lớn quở.
Ma-ri tủm tỉm. Hắn vấn lại mái tóc, rồi gọi các con ra đứng ở hiên để chờ.
Ô tô rống lên những tiếng giác của con hươu, rồi chồm qua cổng, vào sân.
Hai Điều đã chực sẵn ở dưới thềm. Xe đỗ, hắn vái một cái, rồi mở cửa cho Thừa ra. Hắn gãi tai, nói:
- Trình ông lớn, có tin hàng về ạ.
Thừa bước xuống đất, khẽ gật đầu:
- Biết rồi.
Hắn nhìn Ma-ri, hơi nhếch mép cười để chào. Ba chiếc răng vàng óng ánh ở miệng hắn. Hắn đi tuột vào buồng và làm hiệu cho Ma-ri theo.
Hai Điều lấy phất trần, phủi bụi cho xe. Trong khi ấy, lũ con trèo vào trong, mở tung các gói đồ đạc của bố, còn để cả ở trên đệm.
Năm nay, Thừa đã đứng tuổi. Hắn để ria mép, uốn vểnh cong ở hai đầu. Những nếp nhăn trên trán và trên má như đánh dấu cái tật hay cáu bẳn, gắt gỏng của hắn. Nhưng hai má hắn phính những thịt. Thịt của hắn từ mười năm nay là tinh hoa của những chất lợn, chất bò, chất dê, chất chó, nó kết lại thành nạc, thành mỡ, tạo nên thân hình phì nộn của hắn.
Ma-ri cất mũ và cởi áo cho chồng. Tự tay hắn lại rót nước chè vào cốc và pha với đường, rồi đặt trên bàn.
Ta thấy Ma-ri có vẻ kính trọng, chiều chuộng và sợ sệt chồng hơn trước. Đúng thế. Bây giờ Ma-ri tuy chưa già, nhưng sức lực kém trước. Cả ngày chẳng buồn cất nhắc chân tay. Các thầy thuốc đã bắt mạch rất kỹ, cũng không tìm ra bệnh. Họ chỉ cắt thuốc bổ, nhất là bổ thận và bổ não. Vì họ thấy hắn đẻ tất cả tám lần, mà nuôi được có năm, thì chắc bộ máy sinh dục của hắn phải suy nhược và hắn phải cả nghĩ. Nhưng đó là các thầy chỉ căn cứ vào hiện tượng, mà không tìm đến bản chất của người uống thuốc. Ma-ri bây giờ là vợ tay có của. Bệnh của vợ những tay có của là bệnh lười, thích ăn bám vào chồng, cho nên hay phàn nàn là ốm để được vứt tiền vào túi mấy ông lang cưng nịnh mình là lắm bệnh tật, nghe cho sướng tai.
Vì nhan sắc có phần tàn tạ, không thể bay nhảy như xưa, cho nên Ma-ri đành bắt chước các cụ, mà lấy chồng thì nhờ chồng, để sống yên phận bên cạnh một người mà xung quanh công nhận là chồng hắn. Mọi việc công, việc tư, thôi thì phó mặc người ấy lo liệu. Thế là nhàn. Một cái đồn điền như để góp vốn, là đủ rồi. Và vợ chồng nay đã nên ông nọ bà kia, có người lại dùng cả tiếng cụ lớn để gọi nữa, thì dù to nhỏ, nhà này cũng là nhà quan. Vậy vợ chồng phải ăn ở thế nào cho người ngoài người ta trông vào cho hợp với lề thói của nhà quý phái chứ?
Từ ngày hắn gặp xừ Tuynh, hắn đỡ phải uống thuốc. Nhiều lúc, hắn lộ nguyên hình một người nhanh nhẹn, hoạt động, hay cười nhí nhảnh, hay nói ỡm ờ, hay cử chỉ nũng nịu. Bởi thế, muốn êm ấm cửa nhà, hắn càng làm ra vẻ kính trọng, chiều chuộng chồng, vì hắn sợ chồng thật.
Thừa cũng vậy. Mấy năm nay, tựa vào đồn điền của Ma-ri để sống, vừa được lợi, vừa được danh thật, nhưng vốn là con người hoạt động, hay xoay xỏa, hắn lợi dụng đất Cẩu Rồng để kinh doanh. Việc kinh doanh rất phát tài. Nhà ở Hà Nội, hắn đã tậu lớn nhỏ được đến chín chiếc. Cho nên hắn càng muốn ru cho Ma-ri ngủ yên, đừng cựa cạy để phá công việc làm ăn của hắn, như những lần trước.
Công cuộc làm ăn của hắn có hai khoản chính: một là trở nên giàu có. Hai là trở nên danh giá. Giàu có để ăn chơi cho sướng thân. Danh giá để thêm giàu có, ăn chơi càng sướng thân.
Hắn đương lao mình vào cuộc làm giàu, và trở nên giàu có. Nhưng hắn vẫn chưa thỏa mãn. Hắn còn muốn giàu có hơn nữa. Hắn vẫn bao kín ở Hà Nội một số nhân tình trẻ và đẹp, thay cho Ma-ri về già, vợ chồng đối với nhau đã chán chường. Những cô có mang với hắn, hoặc bị hắn cho là cũ, thì hắn bỏ, thay bằng cô khác, trẻ và đẹp hơn.
Bây giờ hắn chỉ chưa danh giá. Ta đã biết Thừa không thú với cái chức vu vơ và khá mỉa mai là ông hàn. Tuy hắn thấy rằng được gọi là quan, hắn chẳng bị ai truy nguyên xem tại làm sao, còn nhân thế mà được quen nhiều bạn quan trọng, kể cả bạn sang trọng của Ma-ri, có cả quan Tây, quan ta. Nhưng hắn cho là thế nào cũng phải tự tay tạo lấy một chức vị, thì đi đâu mới khỏi ngượng, và làm gì mới khỏi chịu lép vế.
Nhiều lúc nhớ lại quãng đời nghèo hèn ngày xưa, và so sánh với cảnh giàu sang bây giờ, hắn tự hào. Hắn tiếc rằng không gặp lại bọn xếp Thìn, Tu-nô ở sở xe lửa, không gặp lại gia đình Phúc Lâm, để cho họ nhìn thấy hắn, mà… lác mắt.
* * *
Buổi tối hôm ấy, trong dinh của ông hàn An-be, có đến hơn ba mươi người khách. Trong hơn ba mươi người này, đàn ông có, đàn bà có. Đàn ông thì người mặc ta, người mặc tây, người lại mặc dở ta dở tây, tức là quần ta, nhưng áo tây. Đàn bà thì người quần thâm, vấn khăn, người quần trắng, quấn tóc. Người chưa thân với chủ nhân thì gọi bằng cụ, bằng ông, bà. Người muốn thân hơn thì gọi bằng bác. Người đã thân rồi, thì gọi bằng anh, chị. Người quá thân thì gọi bằng toa, bằng mày, bằng thằng ông mãnh, con bà cô. Họ ở Hà Nội, ở Hải Phòng, hoặc ở các tỉnh khác về đây để cất hàng. Cho nên trong túi người nào cũng có bạc trăm, bạc nghìn. Họ làm đủ các nghề: nghề đầu cơ tích trữ, nghề cờ gian bạc lận, nghề chủ săm, nghề chủ tiệm hút, nghề lừa bịp, nghề ăn không ngồi rồi, bám vào vợ, và nghề đi chơi. Đi chơi mà gọi là nghề, vì nó làm nảy ra tiền. Ấy là những ông ấm con quan, có cụ thân danh vọng, thuở sinh thời đã dạy được một số học trò thành đạt, làm nên quan. Ông ấm vô công rồi nghề, nhưng muốn ăn tiêu phong lưu, nên hàng năm, đi chơi suốt lượt học trò cũ của bố. Ông thế huynh đến đâu cũng được chè chén, có khi được hát xướng thỏa thuê, ông ở chơi với quan dăm bữa nửa tháng. Ngày về, ông được quan tiễn tiền tàu rất hậu hĩ. Ông đi chơi một lượt từ đầu năm đến gần cuối năm, vừa hết bạn, thì ông có món tiền đem về cùng vợ con ăn tết vui vẻ. Rồi sang xuân, ông lại bắt đầu đi kinh lý như vậy. Cho đến ngày già yếu, không đi được nữa, ông mới thôi nghề đi chơi. Nếu thạo đời, ông nào biết đâu có cái lọ cổ, có cái nhà, có cái đồn điền, có con gái đẹp hoặc giàu để mách mối, thì còn kiếm thêm được lại nữa.
Những quan huyện bị cách, quan hàn quốc trái, quan nghị khóa trước, vv… ấy, là những bạn cũ, bạn mới của Thừa và của Ma-ri. Trong số người cũ, ta nhận được hai cái mặt quen: cái mặt sát đến xương, vàng như nghệ, của bà nguyên vợ Tây Ĩnh con. Và cái mặt xanh nhợt như người ngã nước của ông nguyên văn sĩ Hoài Tân Tử. Ĩnh con về già, người còn toàn xương xẩu, nên mấy năm nay, đổi sang nghề làm chủ nhà thổ lậu. Nó nghiện thuốc phiện. Cạnh Thừa và Ma-ri đương quăng quắc như ngọn đèn pha ô tô, Ĩnh con tù mù như ngọn đèn đĩa hết dầu, hết bấc. Sau cái ngày nó cho Thừa mượn năm con em làm hồ lỳ và hàng sáo trong cuộc chợ phiên cứu tế dân bị lụt miền Nam nước Pháp, Ĩnh con đã nhìn thấy Thừa là một chỗ nương tựa vững chắc cho nó. Nó đi lại với Thừa như một thủ túc. Thấy tình cảnh nó túng khổ, thỉnh thoảng Thừa giúp nó bằng cách đến thưởng thức những cảnh mới hoặc cảnh sộp mà nó giới thiệu là mới, là sộp. Nếu lâu lâu không có gái quê, con sen, con mụ hoặc bà ký, bà phán cho Thừa giải trí, khỏi lo mắc bệnh, thì Thừa lại cưu mang nó bằng cách gọi nó về đồn điền làm nặc nô đòi nợ, cho nó kiếm cái ăn, cái hút. Vì vậy, Ĩnh con sợ Thừa len lét. Thấy cụ Điều là bậc chú mà cũng xưng hô với quan hàn là con, nên tuy nó là dì, nó cũng xưng hô với quan hàn là con. Mỗi bận hàng về, gom góp được đồng nào, nó cũng xin Thừa để cho chút ít, bán kiếm lợi. Đến đây, vào ngày này, nó còn một mục đích nữa, là hút thuốc phiện no nê không mất tiền, và nhân tiện, đi khách hoặc kiếm khách cho cái nhà thổ lậu của nó.
Còn nhà thơ Hoài Tân Tử vừa đen vừa cao thì không làm văn, viết báo nữa. Cho nên ngồi đâu, ông cũng chửi người viết báo nọ là dốt, chê bài thơ kia là tồi. Có ai khen cuốn sách nào hay, ông bảo chính tác giả đã nhờ ông phủ chính cho rất nhiều, nên mới được thế. Vì ông không muốn làm cùng nghề với bọn học trò của ông, chúng nó nhố nhăng, nên bây giờ làng văn mất giá trị, người viết báo bị quốc dân khinh rẻ. Ông từ bỏ cái nghề cầm bút bạc bẽo, không nuôi sống được người, để dùng trái tim khối óc chuyên vào việc kiếm ăn bằng cái nghề lắm lờ lãi này.
Cái nghề lắm lờ lãi này là nghề buôn thuốc phiện lậu.
Mấy năm nay, nếu nhựa tải về bằng đường thủy, trên sông Nhị, thì nơi đổ hàng là đồn điền Cẩu Rồng của hàn An-be Thừa. Khi hàng về đến bến, tất cả những người buôn đã trả tiền trước, phải ra đó mà nhận ngay. Nhận hàng xong, mỗi người đi một ngả. Họ rời sang một nơi mà họ hẹn sẵn khách của họ chờ ở đấy. Họ cũng phân phát hàng một cách chớp nhoáng. Rồi hàng ấy lại qua những người buôn mới để chớp nhoáng đến tay người tiêu thụ cuối cùng.
Mỗi chuyến thuốc phiện về, có đến bạc vạn.
Không phải một mình Thừa có cái vốn kếch xù ấy để buôn đâu.
Nguyên do như thế này:
Dạo Ma-ri mới lên Cẩu Rồng ở với hàn Xương, thì một hôm Thừa nghĩ đến tương lai mà lo lắng. Nếu hắn không kiếm được việc gì để sinh lợi, thì đến ăn hết vốn mất. Hắn sực nhớ đến ông bạn tháo vát Tình muôn thuở. Hắn lại nhà ông, nhờ ông bàn giúp kế sinh sống, ông nhà thơ bảo Thừa đưa tiền, ông bán lại cho một ít nhựa thuốc phiện. Thừa làm thế, hai ba lần, thấy có lãi khá, mới xin ông Hoài Tân Tử cho góp vốn với ông để buôn chung. Vì anh nghiện vốn lười, thấy Thừa rỗi rãi, nên mỗi khi được tin hàng về, mới đùn cho hắn việc đi mua.
Thừa biết chỗ buôn tận gốc. Hắn lại đã gây được vốn, vả sợ ông bạn bịp hắn, hắn không chung vốn ông ta nữa. Tuy vậy, Thừa vẫn hàm ơn ông Tình muôn thuở, không những phục ông là quân sư, mà còn coi ông như cứu tinh. Vì ông đã giúp hắn được ngóc cổ dậy, lần này là lần thứ hai.
Dần dần, Thừa được ông Hoài Tân Tử khuyên là nên bỏ ra hẳn nhiều tiền để buôn to và vĩnh viễn, cho được nhiều lãi. Bởi vì đây là một công ty.
Thừa nghe theo.
Ngày này, hàn Xương đã chết. Thừa nhìn thấy đất đồn điền Cẩu Rồng sau này rất cần cho hắn, hắn mới lừng lững lên với Ma-ri. Vì sợ Ma-ri đuổi, hắn không dám nói rõ là hắn định ở lâu dài, để làm gì. Hắn cũng làm như Ma-ri, mỗi lần Ma-ri về Hà Nội thì ở nhà hắn. Vì Ma-ri là vợ hắn. Bây giờ hắn đến Cẩu Rồng, thì cũng ở nhà Ma-ri. Vì hắn là chồng Ma-ri, rất tự nhiên thôi.
Được ở Cẩu Rồng một cách lặng lẽ như vậy xong xuôi, Thừa mới thực hiện ý định của hắn trong việc buôn thuốc phiện lậu.
Trước hết, hùn vào công ty, nhưng Thừa không được biết là công ty có bao nhiêu vốn, có bao nhiêu cổ đông, là những ai. Vì là hãng buôn đồ quốc cấm, cho nên ông Hoài Tân Tử bảo là một hội kín, phải giữ bí mật. Người hùn vốn vào công ty chỉ được biết một người, là người giới thiệu mình thôi. Các khoản tiền nong, như góp thêm vốn, chia lãi, cổ đông chỉ giao thiệp với một người ấy, và phải tin người ấy.
Thấy ông Hoài Tân Tử là người giới thiệu mình với công ty, Thừa mới đoán không những ông bạn chỉ là một cổ đông thường như mình, mà còn là một yếu nhân của công ty, giữ chức vụ quan trọng. Một lần, Thừa thấy ông nhà thơ làm liên lạc giữa người nhận hàng, với người tải hàng, mỗi chuyến là một người khác, để người này giao cho đúng. Hẳn là ông Hoài Tân Tử ăn lương cao lắm.
Địa điểm cho công ty đổ hàng ngày ấy là gần bến Chèm, trong khu vực nhà ông nghị Khoáng. Ông Khoáng được kiêm cả việc nhận tiền và phân phối hàng. Thừa biết ông Khoáng nhận cả nhiệm vụ khá nguy hiểm, lại làm cái việc hay lầm lẫn, nên công ty trả thêm cho ông một phần trăm tổng số lãi.
Thừa không rõ những người đi mua nhựa và nhất là những người áp tải hàng, họ làm những việc quan trọng và nguy hiểm hơn, thì được bao nhiêu hỏa hồng.
Thừa nhận thấy là từ ngày hắn vào công ty, trong ngót năm mươi chuyến, công ty sểnh ăn có hai chuyến nhỏ. Hình như hai chuyến này, là công ty cố tình thí cho bọn thương chính, để đấm mõm xoa dịu họ. Thừa không lạ gì lòng tham lam của những người buôn thuốc phiện lậu trên mạn ngược. Họ vừa bán buông tay cho người ta, là đã đi máy đoan liền. Nhà đoan bắt đúng tang vật. Thế là họ được thêm món tiền thưởng chỉ điểm. Vậy công ty đã hoạt động từ lâu, thì người bán nhựa có đi báo đoan hay không? Cớ sao công ty vẫn làm ăn êm thấm? Mỗi chuyến hàng tải về xuôi, có lần đến bốn năm chục thùng sắt tây, mà sao đi vẫn trót lọt như thường. Thừa thấy có những người buôn nhỏ, họ dùng những kế rất quỷ quái để giấu hàng. Hoặc họ thông lưng với nhân viên sở xe lửa giúi ngay nhựa vào trong những toa mà nhà đoan sắp cặp chì. Hoặc họ thuê người tải bằng cách lội dọc sông, giả vờ như đi tắm. Hoặc họ làm như người có mang, bẩn thỉu nữa, là như người có kinh nguyệt, phải đóng khố, vân vân. Nhưng dù có trăm mưu nghìn kế, mà người nhà đoan chỉ thoáng nhìn mặt là nhận ngay ra ai ngay, ai gian. Đố ai lọt được mắt họ. Vậy thì ai để cho công ty này buôn bán được êm thấm. Ai tải hàng mà được trót lọt bền thế?
Có một lần, Thừa tò mò hỏi ông Tình muôn thuở xem ông ta có biết hơn gì về mánh khóe của công ty hay không. Thì ông này trả lời úp úp mở mở, cái kiểu biết mà không nói, nhưng lại cố hớ hênh, để người nghe nghĩ mình là một tay quan trọng. Nhưng Thừa tinh, hiểu ngay là ông bạn quý lòe mình. Một hội kín tất phải bí mật tuyệt đối.
Vì vậy, Thừa đoán rằng công ty này phải gồm toàn những người có thế lực. Và không chừng, có những tay tai to mặt lớn của nhà đoan đứng ra điều khiển cũng nên. Chứ nếu không, sao từng bè hàng lậu lại bình yên mà qua được những sở đoan ở Lào Cai, ở Yên Bái, ở Phú Thọ, nhất là ở Việt Trì, họ sục sạo suốt đêm, chiếu những đèn năm pin, sáng rực đến tận bờ bên kia sông.
Một chuyến, trong bóng tối ban đêm, Thừa nhận được mặt người giao hàng, là người mà Thừa đã gặp ở đâu một lần rồi. Thừa cố nghĩ mãi, sau mới sực nhớ ra rằng người ấy chính là cái thằng đã đánh mình ở phố Hàng Đậu ngày trước. Vậy người của Múi ấy chính là một nhân viên của sở Thương chính. Thế nhân viên của Thương chính đi tải cái hàng mà sở ấy cho là lậu, thì chẳng lẽ sở lại bắt người của sở à?
Thừa biết sở Thương chính tuy có Tây lai, gọi là quan phó đoan, và có An Nam gọi là đội đoan, nhưng chia làm hai hạng nhân viên: Một hạng có quyền đi bắt đồ lậu trong tỉnh mình làm việc: một hạng lưu động, có quyền khám xét trong một khu vực rộng, ở nhiều tỉnh. Vậy chắc rằng mỗi lần công ty có thuốc phiện tải đi, thì đến tỉnh nào có người nhà đoan của tỉnh ấy đi kèm cho suốt dọc đường, hoặc có hẳn nhân viên lưu động ngồi ngay ở trên bè. Như vậy, qua đâu, nhà đoan địa phương có đòi giữ lại, thì người áp tải có quyền nhận rằng chính mình đã bắt, và đương giải hàng lậu này về Hà Nội. Nhưng có thể một người đội đoan An Nam nhận như vậy mà được tin ngay không? Không. Phải là lời do miệng một người phó đoan mới có giá trị. Vì Tây lai được tin là không nói dối như “A-na-mít”. Thế thì mỗi chuyến hàng, không phải chỉ một người đội đoan áp tải mà đủ. Phải có thêm một đoan phó. Hẳn là muốn kín đáo, nên lúc hàng sắp đổ bộ, quan phó lánh mặt ở đâu đấy, cho nên không ai nhìn thấy bao giờ. Vậy buôn đồ quốc cấm mà có Tây lai đi tải hàng cho, tất công ty này có Tây thật điều khiển. Và một khi công ty có thế lực như thế, thì vô số quan ta, vô số tay giàu sụ có cổ phần. Công ty này tất là to lắm.
Đoán già đoán non như vậy, lại thấy lãi đùng đùng, cái óc xoay xỏa của Thừa mới bắt đầu cựa cậy. Hắn tự hỏi: Cẩu Rồng cũng có bến ở sông Nhị, nó lại ở xa Hà Nội, không nguy hiểm, tại sao nó không thay được bến Chèm. Bến Chèm dùng mãi, tất bị lộ, công ty là hãng buôn bí mật, tại sao không đổi địa điểm đổ bộ hàng? Rồi hắn tự trả lời: Cẩu Rồng đắc địa hơn, nó phải thay Chèm. Và hắn kết luận: một khi Cẩu Rồng thay Chèm, thì lẽ tất nhiên hắn được thay nghị Khoáng. Hắn không mang tiếng hất cẳng bạn, mà có được địa vị trong công ty, lại khai thác được nhiều mối lại khác ở Cẩu Rồng.
Một mặt, Thừa nói với ông Tình muôn thuở về lợi hại của hai bến Chèm và Cẩu Rồng, một mặt, hắn về Cẩu Rồng ở để thử. Lần đầu hắn ở một ngày. Thấy Ma-ri như thường, lần thứ hai hắn ở ba ngày, vẫn chẳng thấy Ma-ri tỏ ý khó chịu, nên lần thứ ba, hắn ở hẳn một tuần. Rồi đến lần thứ tư, định cố thủ vĩnh viễn, hắn càng làm ra hiền lành, ngoan ngoãn cho Ma-ri không thấy có hại, đừng đuổi hắn.
Khi biết là được lòng Ma-ri rồi, hắn mới vận động ráo riết cho công ty dùng Cẩu Rồng. Song, vì thấy ông Hoài Tân Tử chỉ ậm ừ, không dám quyết định, hắn mới mày mò tìm xem những ai đứng đầu công ty.
Cố nhiên việc này, một mình hắn làm không nổi. Hắn phải nói thực với Ma-ri về công ty, về ý định của hắn, để nhờ nhan sắc và tài giao thiệp của Ma-ri.
Cái dạo điền tốt ở đồn điền cứ thấy ông hàn bà hàn đi vắng luôn, chính là dạo Ma-ri nằm hết giường của Tây nọ, đến giường của Tây kia để giúp Thừa. Ma-ri tỉ tê hỏi chuyện, rồi cuối cùng hắn biết đích xác người giám đốc công ty tên là Mác-tanh, Tây thật, làm chức chánh đoan Yên Bái.
Ma-ri tìm đến Mác-tanh.
Hắn ngoại giao thật mạnh, để tán cho Mác-tanh trọng dụng Thừa, mà hắn gọi tên là An-be.
Vì vậy, đồn điền Cẩu Rồng được chọn làm nơi cho hàng của công ty đổ bộ thay bến Chèm. Và ông An-be được thu tiền và phân phối hàng cho khách thay ông nghị Khoáng.
Lần đâu, vì tỏ ra nhanh nhẹn và thật thà, ông An-be được tín nhiệm và trọng dụng. Mác-tanh cho hắn làm thủ quỹ của công ty.
Từ nay, Thừa và Ma-ri thật đề huề. Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn. Ma-ri vui lòng cho Thừa khai thác tất cả khả năng của Cẩu Rồng.
Lợi dụng những chuyến hàng về, nhà có đông khách, toàn những hạng kiếm ra tiền không mất tí mồ hôi, nước mắt, coi của như rác bão, Thừa mở sòng xóc đĩa cho họ chơi, để lấy hồ.
Hơn ba mươi người khách hôm nay, ai đến sớm thì ăn cơm, ai đến muộn, ăn rồi, thì đến đêm, trước khi đi nhận hàng, cùng mọi người dự xú-đề để lấy sức.
Họ là những người buôn lậu quen, hái ra tiền, nên coi đồng tiền là một phương tiện để có tất cả những cái gì họ muốn.
Khi họ đánh bạc, có người nghĩ đến được thua, nhưng cũng có người chỉ nghĩ đến làm sao cho đội con gái chanh cốm của bà hàn mê tít họ, vì họ lắm của, không tiếc của.
Canh xóc đĩa nào, hai Điều cũng xóc cái. Sau ba cái thái bình, đến tiếng thứ tư, hai Điều xoay bát xong, thì bạc ném vào chiếu như mưa. Năm cô gái non của Ma-ri, cô nào cũng quần lĩnh cạp màu, áo cánh phin trắng nõn, và khăn nhung đen nhánh, ngồi xen lẫn với khách để làm hồ lỳ. Khách nào cũng muốn chen chật vào với các cô, để vờ sát tay vào ngực, vào đùi, vào mông các cô. Họ nói tục, nói nhảm để trêu ghẹo các cô, làm cho má các cô đỏ hây hây. Bà hàn thường dặn các cô:
- Phải khéo léo mà chiều khách để giữ khách. Dù là đối với người không để ý đến mình, mình cũng làm như mê họ, thì tự khắc họ mê mình. Song, dù gì thì nhất thiết cũng phải giữ lấy danh dự con gái. Cho họ thỏa mãn thì họ chán mình ngay. Bắt họ phải thèm thuồng mình thì mình mới làm chủ được họ. Tao nhiều từng trải thì tao bảo, chúng mày cứ theo đúng như thế.
Ông Tình muôn thuở không đánh bạc. Ông chỉ rúc vào bàn đèn. Bây giờ, ông nói:
- Tôi thử cố nghiện, để rồi lúc nào muốn chừa thì chừa. Cho ả Phù dung phục thuấn này là cứng.
Sự thực, thì ông thử cố nghiện từ trước cái ngày ông viết báo Chấn Hưng. Nhưng từ đó, chưa lúc nào ông muốn chừa. Không những ông không muốn chừa, mà ông còn muốn nhiều người mắc nghiện như ông. Trước hết, để họ mất chê ông là quan viên thuốc xái, sau nữa, là cổ đông của công ty này, ông cần đào tạo khách hàng mỗi ngày một đông hơn.
Nằm luôn ở bàn đèn, “trô” từ giờ dần đến giờ dậu, có cả đàn ông lẫn đàn bà, gồm độ năm người, trong đó có Ĩnh con. Vì giường chật, người nọ gối đầu lên người kia. Nhiều lúc Ĩnh con bị sức nặng của những tấm thân khác nó đè lên cái khung lỏng lẻo của xương mình, thì cũng õng ẹo, kêu oai oái. Nó muốn nhắc cho cái chàng vô ý nào đó nhớ nó là người của phái đẹp. Nó cũng nói những lời khêu gợi. Nhưng vô ích. Khi nó hút đã nghiện, đến nỗi ông Hoài Tân Tử mắng rằng có thể ỉa ra khói rồi, nó mới chịu đứng dậy. Nó dốc cả chén xái, gói vào một gói, để đút vào túi. Ở đây, họ hút sang lắm, vừa hút vừa như đổ thuốc đi. Họ chỉ ưa xái nhất bao thôi. Còn xái nhì họ nạo bỏ đi. Thật là xa phí. Thật là đáng tiếc. Ở nhà, Ĩnh con kéo đến xái thứ mười hai, vẫn gọi đùa là “xái hợi”. Nhưng đánh xái hợi, nó đã học được cách, là trộn với ký ninh tán ra bột, thì khi tiêm, điếu thuốc vẫn quánh như thường. Có lần, không còn gì để hút, nó phải ngâm tất cả những mảnh giẻ lau bàn đèn vào rượu, để vắt ra, lấy nước ấy mà uống.
Không được nằm, thì Ĩnh con ra sòng bạc. Nó không đánh nhưng làm hàng sáo lậu. Gọi là lậu, vì mối lợi hợp pháp này thuộc về Ma-ri giữ độc quyền. Cho nên, nếu ai muốn giật lửa Ĩnh con, phải máy nó ra đàng sau, nó lấy lãi nhẹ hơn bà hàn, nhưng bắt người vay phải nghe một thôi một hồi cái bài quảng cáo cửa hàng buôn phấn bán hương của nó ở ngõ Gia Ngư.
Buồng đặt tĩnh không lúc nào ngớt khách. Khách nghiện nằm đó đã đành, khách không nghiện thỉnh thoảng cũng có từng cặp rủ nhau vào. Họ “ken-cờ” xong, rồi đưa nhau đi một nơi. Ấy là những người cần giải đen. Bà nào thua nhiều, mặt mày chín nhừ, tức thì thấy ngay có ngón tay của một ông bám khẽ vào vai, hoặc có mũi giày tây cọ khẽ vào gót chân mình. Bà quay lại. Thì cái ông tay cầm cuộn giấy bạc ấy nháy bà, mỉm cười và gật gật cái đầu. Bà biết hiệu. Nếu bằng lòng thì bà mỉm cười lại, rồi đứng dậy, đi theo ông. Thế gọi là đi giải đen. Cả hai ông bà sang buồng bàn đèn, làm mấy điếu cho dai sức, rồi vào nghỉ trong một buồng riêng, có giường ghế, có chăn đệm, cửa lại có sẵn thìa, ngậm trong lỗ khóa.
Thế là lúc ra, bà có thêm tiền để đánh gỡ. Thường thì trong buồng này không mấy lúc không có người. Nhiều đôi phải đứng đợi. Khi nghe thấy tiếng khóa vặn kêu lạch xạch, thì bà vội vàng trùm cái vạt áo lên đầu và quay mặt vào tường.
Giải đen với nhau, có ông bà không biết tên nhau là gì. Cũng có ông bà làm việc ấy, mà từ đầu đến cuối, chẳng nhìn mặt nhau, xem là trẻ, già, đẹp, xấu thế nào.
Trong khi nhà nhộn nhịp khách khứa, thì Ma-ri đi nằm sớm. Những tối này, xừ Tuynh như người thất nghiệp. Xừ cũng tập hút thuốc phiện, và cũng đánh bạc cò con để có đồng lương nào thì dốc ra cho nhẵn nhụi. Ma-ri không đau mình đau mẩy. Hắn đi nằm, không phải để nghỉ cho yên thân, mà để chờ việc. Trong khi việc chưa đến, hắn thích có người để nói chuyện. Hắn mời những bạn cũ vào, bắt người ấy bắc ghế ở cạnh đầu giường, kể lại những chuyện ăn chơi trong thời niên thiếu. Nghe người ta khen mình còn trẻ, còn đẹp, nghe người ta phục mình là thạo, là hào phóng, Ma-ri được an ủi, thấy như mình khỏe hẳn lên.
Nhưng không phải lúc nào Ma-ri cũng được như sống lại thời xưa. Ma-ri còn phải làm hai việc. Một là đóng vai quan tòa, xử cấp tốc những vụ ghen tuông vừa xảy ra. Có người ghen tuông vì không được Ma-ri triệu vào nói chuyện. Có người ghen tuông vì muốn tranh nhau cô Sen, hoặc cô Huệ. Có lần tranh nhau một mẻng muốn giải đen, máu hăng lên, họ suýt đâm nhau ngay trước mặt Ma-ri. Ma-ri sợ tái mét, muốn hòa giải, đành cứ phải chắp hai tay, lạy cả hai người như tế sao. Việc thứ hai, là cho khách vay tiền để đánh gỡ. Ai muốn vay, phải theo đúng thể lệ đã đề ra, là cần có bảo đảm bằng văn tự nhà, văn tự ruộng, hoặc môn bài cửa hiệu. Tan đám bạc, ai đủ tiền thì chuộc, ai chưa đủ tiền thì gửi vật làm tin ấy đến canh sau. Tiền cho vay, không phải là giấy bạc của nhà băng Đông Dương, mà là một thứ giấy riêng, những mảnh giấy trắng cắt vuông vắn, to nhỏ tùy theo nó là một đồng, năm đồng, hai chục hay một trăm. Muốn ngăn ngừa giấy giả, tờ nào cũng có chữ ký của Ma-ri. Ma-ri khuyên mọi người là trước khi đánh, nên đổi tiền thật lấy giấy này. Để sòng bạc không ra chỗ sát phạt lẫn nhau, mà có vẻ một nơi chơi bời, giải trí. Vì lỡ ra có nhà chức trách ập vào bắt, họ không thấy bằng chứng gì để đổ cho là đánh bạc. Nhưng con bạc không nghe. Họ nói rằng có đánh bằng tiền thật thì được mới sướng và thua mới xót. Ma-ri đành kệ cho họ đánh bằng tiền, nhưng khi họ hết tiền phải vay, thì Ma-ri chỉ đưa họ thứ giấy riêng của hắn thôi. Rồi khi canh bạc tan, ai còn bao nhiêu, mới đổi lấy giấy bạc thật. Không ai có bụng dạ nào ngờ rằng Ma-ri không có tiền, nên mới cho vay bằng giấy ấy. Vì ai cũng thấy không kể của chìm, của nổi khác, ngay tối hôm nay, Thừa đã thu đến hàng vạn bạc hàng rồi. Song, cũng có người phàn nàn qua loa rằng Ma-ri cho vay bằng giấy thường để lấy lãi bằng tiền thật, cứ mỗi đồng, mỗi giờ là năm xu. Vì có khi với cái giấy ấy, Ma-ri giữ được nhà thật, ruộng thật của người ta.
Thừa thì lăng xăng chạy hết vào sòng xóc đĩa lại sang buồng bàn đèn. Hắn không hút mà cũng không đánh. Bởi vì chơi ngay ở nhà này, hắn sợ Ma-ri biết. Nhưng nếu anh em ép hắn khai mạc cho bàn tĩnh, hút điếu đầu tiên gọi là điếu danh dự, phải dành cho chủ nhân, thì hắn cũng không từ chối. Vì nếu thấy lúc nào ở sòng, con bạc có vẻ uể oải, đánh nhỏ, thì hắn cũng đặt dăm ba tiếng thật lớn, làm đà cho mọi người vùng lên. Thế là chiếu bạc lại sôi nổi, tiền tới tấp quăng xuống. Mấy cô hồ lỳ phải đếm mệt.
Thật tình thì những tối hàng về, Thừa bù đầu lên về bận. Không phải chỉ cái việc thỉnh thoảng đảo vài phút vào sòng, vào tĩnh, phân phát đó đây một vài câu pha trò cho khách khứa cười ồ, hoặc duy trì cái không khí hăng hái cho người ta đánh to, đánh bốc lên, nhưng luôn luôn Thừa phải ngồi ở bàn giấy. Hắn cầm bút, tính xem người này đưa bao nhiêu tiền thì được bao nhiêu hàng, người kia đút cho hắn bao nhiêu hỏa hồng thì được bao nhiêu nhựa tốt. Hắn phải đếm từng đồng và xem cẩn thận từng tờ, để khỏi nhận phải giấy giả, hoặc nát quá. Hắn ghim chục một và gói trăm một, cất vào két sắt, để sáng hôm sau đi Hà Nội sớm, giao cho người của Mác-tanh chia lãi cho cổ đông, và chuẩn bị chuyến buôn mới. Những việc tỉ mỉ này, Thừa không thể giao cho ai làm, kể cả Ma-ri, vì hắn không tin ai. Vả, Ma-ri có tính sốt ruột, không kiên tâm, không chú ý, thì thế nào cũng lầm lẫn.
Vậy mà đôi khi Thừa còn phải làm những việc lặt vặt. Là khi Ma-ri dở nói chuyện với bạn, mà có ai đến vay tiền, thì hắn lại đùn cho Thừa làm hộ.
Ngoài những bận rộn này, Thừa còn phải lưu tâm để bảo đảm cho khách chơi được an toàn. Nghĩa là không bị nhà chức trách bắt.
Nhà chức trách địa phương, là lý dịch, chánh phó hội, chánh phó tổng trong vùng, cố nhiên, họ không dám hỗn láo, vì họ cũng có mặt cả ở sòng. Và người nào cũng bị quan hàn xỏ mũi bằng những món nợ chẳng to thì nhỏ.
Có thể bắt bạc, chỉ có quan huyện sở tại. Nhưng quan huyện Lung thì quan hàn An-be thân lắm. Thỉnh thoảng, một đôi khi đi tuần đêm để canh cho đám bạc khỏi bị người của sở mật thám tỉnh hoặc sở mật thám Hà Nội sục đến, quan cũng tạt vào nghỉ ở dinh quan hàn, để quan hàn biết công cho ngài. Ngài được uống sâm banh, hút xì gà. Rồi muốn tỏ rằng mình bình dân, ngài cũng sà vào sòng đánh dăm ba tiếng, hoặc nằm bàn đèn hút dăm ba điếu. Nhiều bận, tuy ngài không thua, ngài cũng cứ giải đen.
Sở dĩ quan địa phương tận tâm giúp đỡ quan hàn An-be, là bởi vì những tối hàng về, có khách khứa đông, bao giờ quan hàn cũng báo trước cho quan tri biết. Không phải để khỏi bị nghi là hội kín, mà bị bắt, vì tụ họp quá hai mươi người, như pháp luật đã cấm ngặt. Nhưng để người đại diện cho nhà nước phái lính đi canh gác hộ. Nếu nó động rạng, tức thì Thừa được phi báo, giải tán ngay khách đi.
Để đền bù cái công lao giữ cuộc trị an, mỗi người lính canh đêm cho sòng, được thưởng năm đồng. Họ không ngớt cảm ơn quan hàn, vì họ so sánh với lương cả tháng của họ chỉ có sáu đồng thôi.
Quan huyện được Thừa chi cho mười phần trăm của tổng số tiền hồ thu được. Không bao giờ quan huyện nghi quan hàn đưa thiếu, vì cái ông cử nhân luật ấy vẫn còn thạo làm toán, nên sòng có bao nhiêu con bạc, đánh trong bao nhiêu lâu, ông ta tính ngay ra được số tiền mà ông ta hưởng, vả lại, bao giờ Thừa cũng đưa một món tiền tròn, to hơn món phải thực nộp. Đáng bốn chục, hắn đưa cả năm, đáng hơn năm chục, hắn đưa cả sáu. Thấy hỏa hồng quá hậu, bao giờ quan phụ mẫu cũng giương tròn hai mắt: “Sao nhiều thế?”. Nhưng không đợi trả lời, ngài đút ngoém tiền vào túi, mỉm cười: “Cảm ơn quan hàn nhé”.
Không những được chia hồ, quan cai trị còn luôn luôn được cung đốn những của ngon vật lạ. Nhưng có một thứ của ngon vật lạ, quan hằng ao ước, mà Thừa vẫn chỉ hứa là sẽ biếu. Những thứ những vật bằng thịt người, xương người này, có sẵn sàng ngay ở trong nhà Thừa. Ấy là mấy con Sen, con Đào, con Mai, con Lan, con Huệ, như đàn chim ra ràng của Ma-ri. Quan phụ mẫu muốn hạ mình xuống làm dân thường, khai thông cho những con nhà đần độn ấy hiểu thế nào là mùi đời. Vì chưa được toại nguyện, nên quan vẫn trách quan hàn là chưa văn minh, là hẹp hòi, không muốn giải phóng phụ nữ.
Thấy quan huyện có điều bất mãn ấy, cho nên Thừa vẫn phải dè chừng ông ta. Hắn biết là bọn quan lại họ trở mặt như trở bàn tay. Tử tế đấy, nhưng mà đểu cáng ngay đấy cũng được. Cho nên mỗi lần nghe báo tin quan huyện đến, một mặt Thừa rất niềm nở, một mặt Thừa để mắt dò xét ngay thái độ của ông ta. Khi tiễn ông ta ra khỏi cổng, Thừa mới yên trí là ông ta không hoạch họe gì mình.
Song tiếng rằng nhờ quan cai trị phái lính đi tuần hộ thật, Thừa vẫn chưa tin rằng quan lính họ thật bụng với mình. Có khi biết là có đám xóc đĩa to, họ dắt mật thám về bắt cũng nên. Cho nên Thừa bắt cả người nhà của hắn, những tay trung thành nhất, canh phòng thật nghiêm ngặt ở các lối vào dinh. Họ phải dựng những lều làm điếm canh, và khắc canh bằng trống. Bởi vì, tuy bọn quan lính địa phương được đấm mồm, họ có thể tận tâm, nhưng còn lũ mật thám tỉnh, lũ mật thám Hà Nội, tức là bọn lâu la của thằng Pha-lăng-xô, Thừa có cho họ ăn đấy, nhất là thằng Tây lai, nhưng biết bụng dạ họ thế nào. Cái lũ mặt người dạ thú ấy, kể cả ta lẫn Tây nữa, còn lật lọng bằng vạn quan, bằng vạn lính kia. Vì vậy, để bất chợt xem bọn người nhà có gác thật cẩn mật không, có đêm Thừa đóng ngựa, thân hành đi củ soát các điếm. Trăm bó đuốc thế nào cũng vớ một con ếch. Một lần, hắn chộp được một anh đương ngủ khì. Hắn lẳng lặng tịch thu cái trống đem về dinh.
Lúc trở dậy, anh này sợ hết hồn. Sáng hôm sau, anh đến lạy van quan hàn. Biết rằng người đầy tớ không cố ý hại mình, nhưng thế là có thể phản chủ, Thừa chỉ đánh anh ta có hai mươi gậy vào lưng thôi.
- Tội của mày là đáng cho một phát súng, rồi quẳng xuống sông Cái.
Gần suốt đêm làm việc căng đầu óc thế, nhưng khi có tin báo hàng đã cập bến, thì Thừa càng bận rộn hơn. Dù mưa, dù gió, lập tức hắn phải đi. Bởi vì, lập tức, hắn phải chia từng món, chọn từng hàng cho từng người. Khi xong ngần ấy việc, hắn sai người về, mời khách ra nhận ngay phần của họ.
Công việc trôi chảy, không mắc mứu gì, Thừa mới về dinh, ngả lưng một lát. Rồi hắn phải dậy, bàn bạc chuyến buôn sắp tới với ông Hoài Tân Tử, để kịp đi Hà Nội, nộp tiền cho công ty, vào buổi sáng.
Ông Hoài Tân Tử đến Cẩu Rồng được biệt đãi nhất. Vì không những ông là nhân vật cao cấp của công ty, mà còn là hai lần ân nhân của quan hàn An-be. Những lúc hàn huyên với nhau, Thừa luôn luôn nhắc lại mình là kẻ chịu ơn sâu nghĩa nặng của người bạn cũ nhất và thân nhất. Cái ngày gặp bước truân chuyên, đương sắp đói meo trên căn gác tối tăm ở Ngũ Xã, Thừa đã được ông Tình muôn thuở cứu cho, vời đi làm chủ bút báo Chấn Hưng. Được no nê, lại no nê bằng cái chức danh giá, Thừa đã đào mỏ khá có kết quả. Đến bây giờ, ông lại vớt cho Thừa khỏi cái tiếng xấu là phú quý trong váy vợ. Ông giới thiệu cho vào công ty, nên Thừa mới giàu có, mở mày mở mặt được với đời.
Vì vậy, về đây, ông bạn quý Hoài Tân Tử được dành riêng một buồng đủ tiện nghi, để ông có mệt thì đi nghỉ, vừa sạch sẽ, vừa yên tĩnh.
Thường thì khi ông nhà thơ ngủ dậy, Ma-ri thân vào buồng để hỏi thăm sức khỏe ông. Tự tay Ma-ri tiêm sẵn độ một chục điếu thuốc phiện, để ông hút súc miệng cho liền một mạch. Khi tỉnh táo, ông điểm tâm bằng cà phê sữa và bánh mì. Lúc này, Thừa và ông, tức là hai yếu nhân cộng sự tối mật thiết của công ty, mới chuyện trò, tính toán, bàn bạc việc buôn bán.
Từ lúc khách khứa đi nhận hàng, không trở lại cái tổ quỷ nữa, từ lúc quan hàn An-be và ông nhà thơ Tình muôn thuở đi Hà Nội, trong dinh được yên ắng thì Ma-ri mới thật sự được nghỉ. Hắn lăn ra ngủ, không nói mê, không ư ự. Ngáy thật đều.
Nhưng bọn đội con gái chưa được ngơi tay. Họ phải làm cho xong cuộc tổng vệ sinh trong các buồng. Họ gánh ba bốn gánh nước, khẽ khàng dội, khẽ khàng cọ cho bà khỏi mất giấc. Nơi nào nơi ấy ngập lên những rác rưởi: vết cáu của nước chè mạn đặc đã khô, tàn diêm, bã thuốc, xương xẩu, dầu, mỡ, quết trầu, bãi đờm, bãi mũi. Vết bẩn bám chắc cả ở trên tường. Nhưng chỉ trong chốc lát, tất cả những thứ ấy được tẩy đi hết. Gạch hoa lại bóng láng, đồ đạc lại sạch sẽ như li như lai.
Nhưng chưa hết việc. Những chăn, gối, màn, chiếu dùng đêm hôm trước, họ phải đem ra ao, giặt giũ suốt lượt. Họ phơi xong, thì vừa lúc bà hàn thức giấc. Bà ú ớ gọi. Họ phải túc trực trong buồng, để khi bà dậy hẳn, họ có mặt sẵn để bà sai vặt.
❀ ❀ ❀
[1] Mùa hè.