Anh Xi vào ở trong nhà Thừa, tuy anh cho như nằm trước miệng hùm, có nguy hiểm đấy, song không phải không có thuận lợi. Nếu anh hết sức giữ gìn từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động, thì nguy hiểm không còn, chỉ có thuận lợi thôi.
Thuận lợi thứ nhất, là làm quản lý, anh có quyền đi khắp các nhà nông dân để tìm hiểu họ. Thuận lợi thứ hai, là ở với Thừa và Ma-ri, anh dò xét ngay được xem hai người có dã tâm gì đối với cách mạng, với nông dân. Anh sẽ có thể kịp thời đối phó, hoặc ngăn cản.
Một tối, hai Điều vào buồng anh. Hắn nằm kềnh càng bên cạnh anh. Hắn nói xấu ông Hàn bà Hàn một lúc, rồi bỗng hắn hỏi:
- Bác đội nhỉ - tiếng đội là tiếng quen mồm để gọi quản lý, cũng như tiếng quan hàn là chức quen mồm để gọi chủ đồn điền - Bác đội nhỉ, bác có nhớ ngày xưa, ở phòng thuốc nhà giàu, cái lần bác về Hà Nội chơi xem tẩy chay ấy, có một anh học trò trường Bưởi vẫn đến nhà ta in giấy cổ động với người chị gái không nhỉ?
Thấy thằng già định làm mật thám một cách ngô nghê, lố bịch, anh bật cười. Anh tặc lưỡi, đáp:
- Việc từ đời tám hoánh, ai nhớ được. Mà ngày ấy, hàng chục học trò đến, thì để ý sao được từng người.
Hai Điều nói:
- Cái anh chàng ít nói, có người chị gái ốm yếu, vẫn đến nhờ xem mạch, xin thuốc ấy mà?
Anh Xi lắc đầu:
- Tôi không nhớ.
Rồi anh quay lão già:
- Cụ hỏi làm gì?
Hai Điều lảng:
- Sực nhớ đến thì hỏi chơi.
Anh Xi sợ hai Điều để ý đến lời anh vặn, nên phỉnh:
- Thế mà cụ nhớ lâu hơn tôi. Trí não cụ tốt, còn thọ.
Hai Điều được thể, hỏi thêm:
- Hai chị em con nhà hiệu Phúc Lâm ở Hàng Đào ấy mà?
- Tôi không nhớ.
- Cái nhà mà tôi với anh đã vào xem bày cỗ tháng tám ấy mà.
Anh Xi lại lắc đầu:
- Tôi không nhớ. Lâu quá rồi.
Như đốt phải cái pháo tịt ngòi, lão già không thể cậy thêm anh Xi bằng những câu hỏi sau nữa.
* * *
Một hôm - lần ấy Thừa về Hà Nội để dạm bán nhà cho ông Lăng - trời vừa sáng, Ma-ri còn đương ngủ, thì hai Điều đã chạy lên nhà trên, tay gõ dồn dập vào cửa sổ buồng, miệng cuống quýt gọi:
- Bà lớn ơi! Bà lớn ơi!
Ma-ri giật mình, hỏi:
- Gì thế, ông?
Lão già vừa thở vừa đáp:
- Bà lớn ơi! Có các bác ấy đến. Bác Đội lại đi vắng. Mời bà lớn ra, mau lên!
Ma-ri hỏi lại:
- Các bác nào?
Không thấy hai Điều trả lời.
Biết là việc cần. Ma-ri vội vàng bới tóc, rồi ra nhà ngoài. Hắn mở cửa buồng giữa.
Bỗng hắn giật nảy mình. Ở dưới sân, có đến hai chục tá điền, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà có, đứng lố nhố.
Hắn biết ngay họ đến làm gì.
Vội vàng, hắn đóng ập cửa lại. Con người vốn có tính liều, cho là cứ ù xịa, bạt mạng, rồi đâu lại vào đấy hết.
Tiếng ông già Thâm nói:
- Chào bà, chúng tôi có câu chuyện muốn thưa với bà.
Ma-ri không đáp. Hắn cũng không ra. Hắn vặn khóa.
Bởi vì hắn sợ quá. Đúng là đám người này đến biểu tình đưa yêu sách cho chủ, như các báo thường tả đây. Hắn không biết đối phó như thế nào. Không tiếp họ là tốt nhất. Giơ mặt ra, lỡ lúc tức, họ đánh cho thì ốm đòn. Ông già Thâm lại nói to:
- Mời bà ra đây. Sao bà lại không mở cửa?
Ma-ri chõ miệng nói ra, trả lời:
- Đợi hôm quan về, các người muốn gì hãy hay.
Tiếng ồn ào đáp lại:
- Không. Đồn điền này là của bà, chúng tôi chỉ biết bà, chúng tôi không biết quan nào cả.
Ma-ri biết nói là hớ, nên nín lặng. Hắn ngồi trên ghế. Hắn định mặc kệ, ai nói gì cứ nói, hắn cứ làm thinh. Nói chán, tất họ phải về. Hắn mà trả lời, thì hắn một câu, họ mười câu, không biết đôi co đến bao giờ. Lỡ hắn hấc lờ câu nào, họ dồn vào chỗ bí, thì hắn mắc. Chi bằng muốn khôn ngoan, hắn cứ trốn tịt ở trong này, đánh nước bài ỳ. Họ nói thì họ nghe. Tấn công vào chỗ hẫng mãi, tất họ phải chán. Chờ hôm Thừa về. Để đàn ông cứng rắn mới đối địch được với họ.
Bỗng lại ồn ào:
- Bà mở cửa ra!
Ma-ri không nhúc nhích.
- Bà Hàn! Bà Hàn!
Ma-ri không trả lời.
Tiếng chân người lên thềm. Hình như họ kéo nhau đến cửa. Họ phá cửa chắc? Ma-ri lẩy bẩy, giơ tay rút cái kích, cầm ngang cán để giữ thế thủ.
Nhưng không ai phá cửa. Cũng không ai gõ cửa. Ông giờ Thâm lại nói:
- Bà không ra, chúng tôi cũng cứ thưa chuyện. Chúng tôi báo trước với bà là vụ này chúng tôi chỉ nộp một nửa thóc thu hoạch được thôi. Chắc bà đã biết là lúa má xấu lắm.
Một người nhắc để nhấn mạnh:
- Nộp một nửa thóc thu hoạch, xin bà nhớ kỹ.
Ma-ri trợn mắt, cắm cái kích vào giá lộ bộ.
- Chúng tôi lại xin bà bỏ cái lệ đánh đập, và trả chúng tôi bài vị tổ tiên chúng tôi giam ở trong này.
Ma-ri tức run lên. Một tiếng đàn bà nói:
- Ai chả có ông bà cha mẹ, hở bà?
Ma-ri hầm hầm đứng dậy, dòm qua kẽ cửa xem ai nói. Nhưng cửa khít quá, hắn không nhìn thấy gì.
Yên lặng một lát. Rồi một người nói:
- Bà không ra, thì chúng tôi cứ ở đây. Chúng tôi đã nói trước là chúng tôi chỉ nộp một nửa thóc thu hoạch. Bà không nói gì là bà bằng lòng rồi.
Ma-ri không nhịn được, vội vàng chõ mồm nói ra:
- Không nộp cả thóc thì trả lại ruộng!
Bất đồ tiếng nói nổi lên rầm rầm:
- Thì chúng tôi trả. Trả hết. Bà đòi ruộng của một người, tất cả chúng tôi cũng trả hết. Chúng tôi trả thì ruộng của bà là đất hoang. Chúng tôi vỡ chỗ khác, cũng đủ ăn được, chứ không chịu đói.
Ma-ri đỏ mặt tía tai, toan dọa lại. Hắn muốn bảo họ là nhìn gương anh Xi đấy, đất ở đâu không là đất của đồn điền.
Nhưng hắn thấy là cãi họ nữa thì dại. Hắn vừa nói một câu, họ đã ồn ào lên, trả lời bướng bỉnh. Đã liều trốn vào đây, thì cứ đành ngậm miệng là hơn.
- Thật đấy, bà nghĩ kỹ mà xem. Có chúng tôi làm thì ruộng đẻ ra thóc, chúng tôi bỏ, thì cỏ mọc, lại thành đất hoang.
Ma-ri muốn cãi: “Chúng bay không làm, thì khối đứa xin làm, bà không cần”. Nhưng không dám mở miệng. Hắn chỉ thở dài.
Hai chục người tá điền còn nói nhiều nữa.
Nhưng họ tiến quân vào chỗ không có người. Họ nổ súng, mà không bị bắn lại. Cho nên, họ nói ít dần. Câu ngắn dần. Và rời rạc dần. Có tiếng chân lệt xệt xuống thềm. Hình như một vài người chán, bắt đầu bỏ về. Ma-ri khoái là mình đi nước cờ cao. Hắn tủm tỉm một mình. Rồi không có tiếng nói nữa. Nhưng vẫn có tiếng ho. Rồi tiếng xệt chân.
Ma-ri cố tìm một kẽ để nhìn ra. Nhưng không có. Cái lỗ khóa thì thìa cắm kín vào rồi. Không hiểu những người này đã về hết chưa? Hay họ xuống sân, vờ đứng im, để Ma-ri tưởng không còn ai ở đấy, thì mở cửa. Họ sẽ túm giữ Ma-ri lại, bắt trả lời nhượng bộ họ. Nửa giờ. Một giờ. Gần hai giờ rồi. Quái! Sao không thấy cụ quản lên? Lũ đội con gái đâu? Dễ thường đám biểu tình chưa đi thật. Đã liều để có kết quả, thì cứ kiên tâm mà liều.
Thành thử Ma-ri phải ngồi chờ để nghe ngóng. Bong bóng của hắn và ruột già của hắn muốn bài tiết, nhưng hắn đành cố nhịn. Nghĩ đến nước bài ỳ có công hiệu, Ma-ri cũng phải nhịn cười.
* * *
Hôm Thừa ở Hà Nội về, Ma-ri thuật lại việc xảy ra ở nhà cho hắn nghe. Hắn không quên khoe cách hắn đối phó để đi đến thắng lợi của hắn.
Thừa bực mình lắm:
- Được rồi. Đã thế thì trước khi bán đồn điền cho nhà thờ, vụ này, nhất định ta hãy cúng cho nhà nước một nửa số thóc thu.
Ma-ri hỏi:
- Phải có dịp gì mới cúng chứ?
- Không thiếu dịp. Hiện nay, nhà sinh viên Đông Dương ở Pa-ri đương xây dựng. Chắc chính phủ Pháp không từ chối tiền của thuộc địa này.
- Nhưng làm gì có thóc mà cúng?
Thừa giảng:
- Bà chưa hiểu ý tôi. Lúa năm nay xấu, đồn điền nào cũng thu kém vụ trước, cho nên chúng nó xin giảm một nửa. Thường ruộng tốt của ta, quy chế định mỗi sào gặt bảy mươi cân thóc, thì chúng nó phải nộp ta một nửa. Nhưng vụ này, trông chừng mỗi sào được bốn mươi cân là cùng. Ta thu nhiều lắm là hai mươi cân. Nếu giảm một nửa nữa thì chỉ có mười cân. Đấy là tính theo con số trung bình và vào trường hợp bình thường.
Ma-ri hiểu:
- Được ăn cả, ngã về không. Chứ chịu nhịn cho chúng nó bắt nạt mình thì ức lắm.
Thừa lắc đầu:
- Sao lại về không? Chúng nó nộp mười cân, thì còn giữ lại ba mươi cân để ăn. Nhưng mình cúng cho nhà nước, thì nói rằng cúng cái số thóc thu hoạch theo quy chế, tức là ba mươi nhăm cân một sào.
Ma-ri gật gật:
- Ừ nhỉ. Mình cúng cho nhà nước một nửa, thì mình còn được mười bảy cân rưỡi. Lợi hẳn bảy cân rưỡi!
- Cho nên muốn vét sạch sành sanh thóc đi, mình phải nhờ bàn tay có thế lực của nhà nước.
- Nhưng nếu mình phải thu, rồi nộp cho nhà nước, thì mỗi sào được có mười cân thôi à? Lấy gì mà bù?
Thừa cười:
- Mình mà cúng như thế, thì nhà nước phải phái người về coi chung với mình mà thu thóc chứ?
Ma-ri ha hả cười:
- Thế thì chắc lính khố xanh phải về. Bọn thịt gà lá chanh mà mang súng đến đâu, thì đố đứa nào dám nho nhoe. Mình đứng yên, được cười hả!
Rồi hắn khen Thừa:
- Mưu mô hay đấy. Cúng cho nhà nước, bắt nhà nước gặt và thu thóc cho mình, một mặt, đối với trên, mình vẫn được tiếng tốt là hay làm việc nghĩa, đối với dưới, mình tránh được tiếng ác.
Thừa gật đầu:
- Mà mình mượn được nhà nước trả thù chúng nó cho mình.
Hắn tặc lưỡi ghé vào tai Ma-ri:
- Tức là mình sai nhà nước làm đầy tớ, giết chết chúng nó hộ mình. Có gì đâu!
* * *
Hai Điều nghe câu được câu chăng việc quan ông quan bà định hiến thóc. Hắn bép xép với anh Xi. Anh Xi nhìn rõ ngay thấy cái chân tướng của việc gọi là hiến này, nó chỉ là âm mưu thâm độc giết người của thằng gian ngoan. Anh nói với lão già:
- Nhà nước chả nhận đâu.
- Vì sao?
- Vì nhà nước khôn chán. Tôi chỉ sợ các quan hiểu lầm là hai bác hàn nhà mình sai nhà nước gặt hộ, thì phụ lòng tốt của hai bác thôi. Cụ phải can đi mới được.
Hai Điều cho là anh Xi có ý phản đối. Nó hớt lẻo với Thừa và Ma-ri.
Thừa gọi anh Xi lên. Hắn hỏi:
- Tôi nghe ông quản nói chú bảo việc tôi hiến thóc cho nhà nước là sai nhà nước gặt hộ à?
Anh Xi đáp:
- Vâng. Tôi sợ nếu các quan trên hiểu lầm là bác sai nhà nước gặt hộ, vì bác không gặt nổi, thì các ngài không nhận, còn nghi ngờ bụng tốt của hai bác.
Ma-ri thấy anh Xi tinh ý thì nhìn Thừa. Nhưng Thừa thản nhiên, cố làm như chưa hiểu. Tuy hắn đã nghe rõ câu anh vừa nói, nhưng vặn lại để dò anh:
- Sao chú lại nghĩ lẩn thẩn rằng thế là tôi sai nhà nước nhỉ?
Anh Xi mỉm cười lắc đầu:
- Không phải tôi nghĩ, mà tôi sợ nhà nước nghĩ thế. Là vì nếu gọi là hiến, thì nhà mình gặt lấy, rồi mới hiến chứ?
Ma-ri cãi:
- Nhà mình là nhà ai? Hãy hỏi tôi, nhà tôi hay chú?
Hắn đay:
- Mà chú thì lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại là không quen việc quản lý. Vậy hãy hỏi cả ba người có thu nổi của chúng nó hột thóc nào không? Phi nhà nước, thì vụ này đố ai lấy thóc của chúng nó được!
Anh Xi nói như giao hẹn:
- Đấy, rõ ràng là hai bác sai nhà nước chứ còn thế nào nữa. Nhà nước tinh khôn, chứ không dại đâu. Cho nên tôi chắc nhà nước không nhận. Không khéo hai bác còn bị các quan quở nữa đấy.
Ma-ri tức:
- Lại đến cái nước ấy nữa. Đã được thóc hiến, lại còn quở. Quở cái gì?
Anh Xi dọa già:
- Đấy, hai bác không nghe tôi, cứ thử làm mà xem. Chẳng lẽ tôi biết lại không can hai bác.
Thừa thở dài, ôn tồn hỏi:
- Thế theo ý chú, thì nên như thế nào?
- Một là mình gặt, rồi hiến thóc, thế mới là hảo. Hai là đừng giở dói hiến với cúng làm gì.
Thừa nhìn chằm chặp vào anh Xi.
- Rầy rà quá! Tiên sư những thằng cộng sản. Chúng nó gây khó khăn cho mình!
Muốn quật lại Thừa, anh Xi gật đầu:
- Vâng, đúng là những thằng cộng sản gây khó khăn. Đồ cộng tiền, cộng của, cộng vợ, cộng chồng!
Quả nhiên Thừa tím mặt lại. Nhưng Ma-ri không hiểu là hắn bị đau. Hắn nói:
- Quân tam vô ấy chỉ đáng chết chém hết!
Anh Xi vờ ngớ ngẩn:
- Thưa tam vô là thế nào ạ?
- Là vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo.
Anh Xi làm như biểu đồng tình:
- Vâng, những quân phản lại tổ quốc, bỏ cha mẹ vợ con, chẳng theo hẳn đạo nào, thật đáng chết chém hết!
Thừa nói lảng:
- Thôi về việc tôi hiến thóc, chú nói thế nào thì tôi biết thế. Để tôi suy nghĩ kỹ.
Ma-ri hằn học:
- Nhưng tức lắm kia. Có chú biết đấy. Hôm chúng nó vào xin giảm thóc, tôi bảo không nộp đủ thì tôi đòi lại ruộng, chúng nó còn bướng, dọa lại rằng hễ tôi đòi một đứa thì chúng nó trả hết ruộng.
Thừa nói:
- Chúng tôi chỉ có một lỗi là hay thương người, không nỡ làm hại ai. Nhà tôi hiền lành, chứ nếu hôm ấy tôi có nhà, tôi quyết giữ lại vài thằng. Tôi dỗ dành hoặc làm như kiểu mật thám, hỏi xem đứa nào xui, thì chúng nó phun ra hết.
Ma-ri gật đầu:
- Phải, xưa nay người mình có tiếng là tốt, nước mình có tiếng là trật tự, trên ra trên, dưới ra dưới, người trên bảo gì một câu, người dưới nghe răm rắp ngay, có bao giờ dám hỗn láo như thời buổi khốn nạn này đâu.
Anh Xi cười lạt:
- Chà phải ai xui đâu, bác ạ. Hễ đói thì đầu gối phải bò, bò đến nhà chủ mà xin giảm thóc. May là tôi làm quản lý, chứ nếu phải nộp thóc, tôi cũng xin.
Anh nhắc lại chuyện cũ:
- Bác có nhớ ngày xưa, làng ta bị lụt ba năm liền các cụ nhà mình bảo nhau làm đơn xin giảm thuế không? Thế thì cộng sản nào đã có mà xui?
Thừa biết là anh Xi muốn chặn họng mình, hắn nói:
- Nhưng bây giờ thì thế nào chẳng có kẻ xui. Không có cộng sản, sao tất cả ngần ấy đứa lại đồng lòng nhau kéo đến đây, dám ăn nói bướng bỉnh thế?
Thừa nhìn mặt anh Xi. Nhưng anh Xi vẫn thản nhiên như thường:
- Chả lẽ cứ làm điều gì phải, nói câu gì đúng, cũng là cộng sản à? Thế ra hai bác cũng cho cộng sản là phải, là đúng à?
Thừa cứng lưỡi, không trả lời được.
* * *
Mười lăm hôm sau, là ngày hẹn, Thừa đi Hà Nội để báo cáo về anh Xi cho thằng Pha-lăng-xô nghe. Theo lời dặn của thằng mật thám, Thừa phải khai đúng, không thêm không bớt:
- Sự thật thì tôi không thấy nó nói hoặc làm gì khác, đáng chú ý cả.
- Nhưng chẳng lẽ nó không nói gì, không làm gì. Ông kể lại một vài câu, một vài việc của nó cho tôi nghe.
Thừa nói cho thằng Tây lai biết là thỉnh thoảng anh Xi đến các nhà điền tốt, như xừ Tuynh ngày trước vẫn đi. Hắn có hỏi dò một vài nhà xem anh nói chuyện gì, thì họ bảo chỉ là hỏi thăm công việc làm ăn, lúa má thôi. Hắn cũng nhắc lại ý anh Xi về việc hắn định hiến thóc.
Thăng Pha-lăng-xô nói:
- Nếu ông không thấy ở nó cái gì khác, một là vì nó rất kín đáo, hai là vì ông không có cái mắt và cái tai của chúng tôi. Cho nên ông thấy gì cũng là thường. Thằng quản lý trước đến nhà nông dân có mục đích khác, nhưng nó đến lại có mục đích khác. Những người mà nó đến nhà, có lẽ cũng là tụi nó, cho nên họ giấu ông. Vả lại chỉ hỏi thăm công việc làm ăn, lúa má thôi, không lo sửa soạn cái ngòi cho lần sau nó nói chuyện khác quan trọng hơn à? Nhưng tư tưởng nó rõ rệt nhất là ở cái việc nó ngăn ông đừng hiến thóc. Kể ra nó nói đúng. May cho ông, là ông chưa hiến. Chứ không, nhà nước nào ngờ nghệch nhận làm đầy tớ không công cho ông? Ông mà hở ra mánh khoé ấy, thì bao nhiêu việc nghĩa trước của ông làm, đều bị nghi là thủ đoạn hết. Nhưng về phần nó, nó đã tìm được một lý lẽ khá cứng, một lý lẽ tuy bề ngoài là cứu ông khỏi bị mang tiếng, nhưng bề trong chính là để cứu bọn nông dân của nó khỏi bị mất hết thóc, ông đã hiểu chưa?
Thừa gật đầu:
- Đã.
- Thế thì phải đặt vấn đề như thế này: Tại sao thằng Xi vốn hiền lành, thật thà, mà bây giờ, đến mỗi việc, nó đều biết đối phó một cách xa xôi nhưng sâu sắc, biết ăn nói cứng cỏi và đối đáp trôi chảy những câu hỏi khó, nhưng không phải suy nghĩ lâu? Một mình thằng quê kệch ấy không làm nổi. Tất gặp phải việc khó, nó phải bàn bạc với một đứa nào thông thạo, có nhiều kinh nghiêm đấu tranh, theo tôi, không ngoài thằng Nghĩa đâu, ông ạ. Vậy là luôn luôn thằng Xi gặp thằng Nghĩa mà ông không biết.
Thừa gật đầu:
- Ông thật là anh minh.
Rồi hắn sực nhớ:
- Đúng nó là cộng sản.
Pha-lăng-xô hất hàm. Thừa nói:
- Bởi vì nó cứ chối hộ cho cộng sản, và chửi xỏ những người không là cộng sản.
Hắn nhắc những lời anh Xi nói rằng không có cộng sản nào xui nông dân.
Thằng Tây lai ghi vào sổ. Bỗng nó nhún vai:
- Phải là thằng Nghĩa mới có luận điệu ấy. Nhưng ông ạ, thằng Nghĩa như con ma, lúc hiện, lúc biến, không thể theo dõi nó được. Chính sở mật thám, đến nay, biết là nó luẩn quẩn ở Vĩnh Yên, mà vẫn chưa tìm thấy nó. Bây giờ nghe ông nói, tôi biết đích là không phải nó ở thị xã, chính nó lẩn lút ngay trong đồn điền ông thôi. Vậy tôi nhờ ông tìm nó hộ tôi. Nó ở đâu, ông báo ngay cho tôi biết.
Thừa nghĩ ngợi, rồi nói:
- Nhưng nó hiện, nó biến bất thần, nếu tôi tìm được tung tích nó, mà đến báo được ông, thì nó không còn ở đấy nữa.
Pha-lăng-xô gãi mép:
- Ừ nhỉ, khó thật.
Rồi nó hất hàm, hỏi:
- Ông có thể giúp tôi điều này không?
- Xin ông cứ bảo.
- Tôi nhờ ông chứa hộ tôi hai thằng mật thám An Nam ở trong nhà. Chúng nó ở gần ông, thì khi ông tìm thấy thằng Nghĩa, ông giao cho chúng nó theo sát.
Thừa cười:
- Việc ấy, có gì là khó?
Pha-lăng-xô trợn mắt, thì thầm như sợ tiếng nói của nó lọt ra ngoài:
- Khó đấy. Vì còn thằng Xi. Thằng Xi biết thì hỏng việc.
Thừa gật đầu:
- Tôi có cách.
- Cách thế nào?
- Buồng quản lý ở dãy lẫm thóc, khuất với nhà trên, chỗ tôi ở. Thằng Xi lại ít lên nhà trên. Cho nên, nếu hai người mật thám ở với tôi, thì thằng Xi không thể biết được. Chỉ cần họ đến kín đáo thôi. Thế thì chờ đêm khuya, cả nhà ngủ, tôi hãy đưa họ vào. Họ phải ở luôn trong nhà, đừng ra ngoài. Hay còn một cách nữa, là họ cứ đàng hoàng với tôi về đồn điền. Tôi nhận là bạn bè về chơi.
- Nhưng họ có thể ở lâu, bao giờ tìm được thằng Nghĩa mới đi. Thì nói là về chơi không ổn.
- Ông tin ở tôi. Tùy cơ ứng biến. Tôi cam đoan là giấu người của ông thật kín đáo.
- Nhất là đừng cho thằng Xi biết mặt. Mật thám mà cho cách mạng biết, thì không còn gì là mật nữa.
- Vâng. Tôi xin hết lòng.
Thằng Pha-lăng-xô vỗ vai Thừa:
- Ông làm nổi việc này, thế nào cũng được trọng thưởng đấy nhé.
* * *
Vì lập tâm bắt anh Lâm và anh Xi để được trọng thưởng, Thừa không quản công. Hắn cho là nếu anh Xi gặp anh Lâm, thì tất chỉ vào buổi tối, hoặc đêm khuya thôi. Hắn phải rình. Muốn đứng trong buồng ngủ mà cũng nhìn thông thống đến cửa buồng anh Xi, hắn bắt dỡ một gian bếp, cho khỏi khuất mắt. Để thức ban đêm, thì ban ngày hắn ngủ. Và đến tối, hắn uống chè tàu hoặc cà-phê pha thật đặc.
Nhiều lúc đêm tĩnh, ngồi một mình sau hai cánh cửa chớp khép hờ, hắn có nghĩ về hai người mà hắn đương rình.
Anh Lâm và anh Xi đều làm những việc mà nhà nước không dung thứ. Hắn trừ họ là đền được nợ nước. Anh Lâm và anh Xi lại xui nông dân đấu tranh với điền chủ. Tức là làm hại hắn. Đối với riêng hắn, hai người đều có tư hiềm. Anh Lâm nuôi mối thù sâu, có thể phạm đến tính mạng hắn để giải oan cho người chị ruột. Hắn trừ được hai người, nhất là anh Lâm, là rũ sạch được thù nhà.
Ý nghĩ trọn vẹn được nợ nước thù nhà khuyến khích Thừa thêm phấn khởi, hăm hở.
Thừa thức đêm đầu, rất khỏe khoắn, tỉnh táo. Đêm thứ hai, còn khỏe khoắn, tỉnh táo. Nhưng đến đêm thứ ba, hắn bắt đầu mệt nhọc, hơi sốt ruột, chán nản. Hắn lại nghĩ về hai người mà hắn đương rình. Nghĩ đến anh Lâm, hắn nhớ đến chị anh, một người dịu dàng, trung hậu, yêu chiều hắn. Cô Lễ đã chết vì tay hắn, vì hắn không lấy nổi cái nhà. Hắn được trở nên giàu có thế này, chính là do nhờ cô. Hắn lại đổ cho cô tiếng xấu để được trắng cái án giết người. Nhớ lại những việc ấy, hắn thở dài. Hắn thương người chết oan. Hắn thương người bị đổ tội oan để cho hắn thành vô tội. Bây giờ hắn lại đương mưu toan hại nốt em cô. Em cô là người làm việc nước, việc xã hội, chứ không làm việc riêng, không làm điều gì xấu. Có nên nhẫn tâm mà xử một người có đầu óc hay không? Thừa lại thở dài. Nghĩ đến anh Xi, Thừa nhớ những ngày cũ. Anh Xi là người làng là bạn của hắn từ thuở hai người còn để chỏm chòe trên đầu. Lớn lên, vì nghèo khổ, hai người phải kiếm những việc vất vả để mưu sống. Hắn nhớ như in cái hôm hắn đói, lang thang ở các phố, rồi gặp anh Xi kéo xe ở Bờ hồ, trước của hiệu Gô-đa. Hôm ấy, có hai hào trong túi, anh giúp cả cho hắn hai hào. Rồi cái lần hắn trốn Múi, anh chứa hắn ở nhà, không cần đắn đo là làm như thế, anh có gặp nguy hiểm gì không. Những ngày đầu tiên lập nghiệp, nhiều khó khăn, chỉ có anh giúp hắn một cách tận tâm, chẳng nề hà là kéo xe hầu bạn. Tình nghĩa anh Xi đối với hắn thật là nặng. Thế mà hắn đương rình bắt anh cho sở mật thám làm tội. Có nên đang tay không?
Thừa lại thở dài nữa. Hắn tưởng tượng đến nét mặt tuyệt vọng của anh Lâm và anh Xi khi hai người bị mật thám khóa tay. Hắn hình dung ra thân thể đầy máu me của hai anh, khi bị thằng Pha-lăng-xô tra tấn. Điểm lương tâm trỗi dậy. Thừa muốn chùn tay.
Nhưng Thừa như nhìn thấy thằng mật thám tây lai nó vỗ vai, và hứa hẹn hai tiếng trọng thưởng. Không lẽ lại bỏ lỡ một dịp tốt hiếm có này? Bao nhiêu lâu nay, hắn đã chịu thiệt khá nhiêu công của, vì một mục đích là lo chạy công danh. Việc thành công lần này sẽ bồi đắp thêm vào những thành tích cũ của hắn. Vậy có nên vì chút tình nghĩa riêng mà nhụt chí tiến thủ hay không? Thừa cương quyết rằng không. Dại gì mà để lương tâm nó ngăn cản bước đường công danh của hắn.
Thừa lại pha cà-phê, hãm cho thật đặc, rồi mới nhắp từng hụm nhỏ.
Song, hắn vấn không thấy khỏe khoắn, tỉnh táo như đêm đầu. Chờ đến bao giờ? Phải thức mấy đêm nữa? Thức lâu mới biết đêm dài. Thức một mình mới thấy sốt ruột mong sáng.
Sực hắn nghĩ ra một ý. Hắn nhớ lại lời thằng Pha-lăng-xô đoán về anh Xi. Sở dĩ anh Xi biết đối phó với các việc khó khăn, là vì mỗi lần có gì mắc míu, anh đã tìm gặp anh Lâm, hai người bàn bạc với nhau cách giải quyết. Vậy nếu bình thường, thì anh Xi không cần gặp anh Lâm. Không cần gặp anh Lâm, thì anh Xi không cần đi đâu. Anh không đi đâu, thì hắn còn phải rình mãi. Chi bằng, muốn mau mau cho anh Xi cần gặp anh Lâm, hắn phải tạo ra cho anh một việc không bình thường. Như vậy, hắn không phải rình lâu, không phải thức mãi chưa biết đến bao giờ, không phải mệt nhọc chán nản.
Rắp tâm như vậy, hôm sau, Thừa gọi anh Xi lên nhà trên. Hắn thân mật hỏi chuyện:
- Chú có biết ở bên Cẩu Rồng giáo, người ta làm thế nào mà điền tốt không xin giảm thóc không?
Anh Xi cười:
- Tại người ta lấy đạo để dụ. Dân bên ấy vốn tin cha cố. Cha cố lòe là không nộp đủ thóc thì Chúa đói. Vì thế, con chiên không xin giảm.
Thừa cũng cười:
- À, khôn nhỉ. Nhưng điền tốt có vui lòng nộp đủ thóc như thường lệ không?
- Cha đã nói, con chẳng vui lòng, cũng cố mà vui lòng.
- Thế làm cách gì họ kiếm ra đủ thóc để nộp?
- Thôi thì bán nhà bán cửa, bán đồ bán đạc, bán xống bán áo, bán con bán cái đi, chứ còn làm cách nào? Không còn gì nữa, thì bán nốt cả mình thay trâu ngựa để làm giàu cho nhà thờ chứ gì!
- Kể ra, điền tốt bên Cẩu Rồng lương mình còn dễ chịu hơn điền tốt bên Cẩu Rồng giáo nhỉ.
Anh Xi lắc đầu:
- Bác không làm ruộng, bác không biết, nên tưởng họ dễ chịu đấy thôi.
- Không, tôi nói là dễ chịu hơn bên giáo kia mà.
Anh Xi im. Thừa làm ra vẻ băn khoăn một lát, rồi nói:
- Tôi có việc này bàn với chú nhé. Không phải vì tôi muốn xử ác với điền tốt bên Cẩu Rồng lương mình đâu, nhưng nếu tôi không làm, thì chính tôi bị hại. Chú ạ, tôi không muốn giữ đồn điền để làm nữa. Thóc thu mỗi ngày một khó khăn, không những vì họa thiên tai mà còn vì cái họa cộng sản nữa. Cho nên tôi định để lại đồn điền cho nhà thờ. Tôi về Hà Nội, kiếm việc khác để kinh doanh. Nhưng nói trước với chú, là anh em mình chúng ta không bỏ nhau. Tôi làm gì, ở đâu, thì chú cũng ở đó, để giúp tôi, như ngày trước và như bây giờ. Chú nghĩ thế nào?
Anh Xi đáp:
- Việc giữ lại, hay để lại đồn điền là tùy hai bác quyết định. Tôi chỉ phiền một nỗi rằng từ ngày giúp hai bác làm quản lý, tôi chưa làm lợi gì cho hai bác. Chắc hai bác cũng chẳng trách tôi, vì trước sau, tôi cũng nói là tôi không biết làm quản lý, nể hai bác thì tôi nhận lời cho hai bác vui lòng thôi. Còn như nếu nay mai hai bác về Hà Nội, làm việc khác, hai bác nghĩ tình cũ, bảo tôi đi theo, tôi chỉ ngại là việc lạ, không biết làm, thì tôi lại phiền hai bác lần nữa thôi.
- Chú nghĩ kỹ đi. Tôi chỉ muốn chú hiểu bụng cho tôi là tôi không bỏ chú đâu.
- Vâng, bác cho tôi nghĩ kỹ.
Thừa lôi được anh Xi vào bẫy, bắt anh nghĩ kỹ, là bắt anh phải tìm anh Lâm, để bàn bạc xem anh nên theo hắn để ngăn chặn hắn đừng làm hại người nghèo khác, hay nên ở lại để tiếp tục tuyên truyền nông dân ở đây chống lại chủ mới.
Quả nhiên, anh Xi trúng kế. Đến mười một giờ khuya, khi cả nhà ngủ yên tĩnh, anh Xi mở cửa buồng, đi ra phía sau, chui qua hàng rào, ra ngoài.
Thừa đã trông thấy rõ mồn một.
Hắn không đánh thức hai thằng mật thám đóng vai bạn hắn, nằm meo ở nhà hắn mấy hôm nay. Hắn đi một mình lẻn theo anh Xi.
Trời sáng trăng vằng vặc. Anh Xi mặc quần áo nâu, nên dù anh đi xa, Thừa vẫn nhìn thấy hút. Hắn rảo cẳng, mắt chăm chắm vào cái màu quần áo nâu của anh.
Thì ra anh đến nhà cũ của anh. Cái nhà này trước kia có một gian và hai chái. Vì anh không ở, cho nên đổ gian giữa và một chái. Anh Xi chui vào cái chái không đổ.
Thật không ai ngờ trong cái túp bẹp này, lại có người vẫn ở. Một lần thấy nhà anh Xi đổ, Thừa có khuyên anh nên bán tre lá cho người khác, kẻo nó nát ra thì phí. Anh Xi chỉ ừ ào, nhưng không làm. Thế thì tự nhiên nhà này vì không có người ở mà đổ thật, hay chính anh Xi đánh bẹp nó xuống, cốt giữ lại một chái để dùng, cho khỏi bị ngờ?
Thừa đứng rúc vào một bụi rậm. Hắn chắc rằng người ở trong chái nhà này, người mà anh Xi cần gặp ấy, không phải ai khác anh Lâm đâu. Hắn càng cho việc hắn không đánh thức hai người khách để họ cùng đi là đúng. Bởi vì nếu bây giờ ba người xông vào ngay để bắt, ngộ chỉ thấy có một mình anh Xi đương làm việc gì ấy, thì sao? Công hắn giương bẫy sẽ bị lộ, không bao giờ hắn tìm ra anh Lâm nữa. Vả lại, ừ thì anh Xi vào đó với một người, nhưng nếu là anh đi trai gái, như xừ Tuynh chẳng hạn, thì chẳng lẽ hắn chữa thẹn bằng cách đi đánh ghen hộ chị Xi hay sao? Mà dù nếu trong ấy có một người đàn ông đi nữa, nhưng lại không phải là anh Lâm, thì sao? Đi săn cáo lại chịu bắt mèo à? Dù người này tránh đằng trời cũng không khỏi là cộng sản, nhưng biết có nguy hiểm như anh Lâm hay không? Định câu cá sộp, lại vớ phải con săn sắt, có bõ công không?
Cho nên phải kiên tâm chút nữa mà điều tra cho đích xác. Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Thừa cứ nấp trong bụi để chờ.
Chừng quãng gần ba giờ sáng, thì anh Xi ra về. Thừa chỉ nhìn thấy một mình anh thôi. Hắn không theo về. Hắn phải ở lại, để chờ cho biết có còn ai ở trong túp ấy hay không. Nếu có, người ấy là ai.
Trăng lặn. Sao rụng dần. Sương làm ướt lưng áo hắn. Nhưng trời phía đông, đã hơi rạng.
Bỗng Thừa nín thở. Hắn thấy tiếng động ở phía nhà anh Xi. Một người ở trong đó chui ra.
Hắn tỉnh táo, khỏe mạnh hẳn lên. Hắn hồi hộp, cố giương to mắt, để nhìn cho kỹ.
Người ấy đúng là em trai cô Lễ. Rõ quá rồi. Cậu Nghĩa đi vội vàng về phía Cẩu Rồng giáo. Thừa mừng lắm. Sào huyệt của người cộng sản nguy hiểm là đây chứ là đâu!
* * *
Thừa bàn việc bắt anh Lâm với hai thằng mật thám ở nhà hắn. Một thằng đánh điện mật cho thằng Pha-lăng-xô đến mười hai giờ đêm hôm ấy, chờ Thừa ở đầu phố Huyện. Một thằng đứng rình ở nhà Xi, chờ anh Lâm để theo dõi.
Thừa định vào khoảng hai giờ sáng thì ập vào bắt anh Lâm, rồi hãy trở về bắt anh Xi. Anh này tóm lúc nào nên lúc bấy giờ, còn anh Lâm thì phải chộp giữa lúc anh đương ngủ say.
Thừa sốt ruột vì thì giờ đi chậm quá. Mấy đêm nọ phải thức, hắn thấy đã dài, nhưng chưa dài bằng ngày hôm nay. Bao giờ cho đến chiều? Bao giờ cho đến tối? Bao giờ cho đến nửa đêm? Bao giờ cho đến hai giờ sáng?
Để hắn thấy kết quả việc của hắn là trừ được hai tay phiến loạn. Để hắn thấy kết quả của việc hắn làm là thằng Pha-lăng-xô bảo cho biết sẽ trọng thưởng thế nào.
Tự nhiên, trong người hắn phơi phới. Hắn tươi cười, hay nói đùa bỡn. Đến bữa cơm, hắn ăn thêm được một bát nữa. Nhưng buổi trưa, đi nằm, hắn không sao ngủ được, óc lúc nào cũng tỉnh táo. Luôn luôn, hắn nhìn đồng hồ, lại nhìn mặt trời.
Nhưng trời vốn vô tư. Cho nên rồi mười hai giờ đêm cũng đến cho hắn.
Thừa gặp thằng Pha-lăng-xô. Nó về với bốn thằng lâu la mới.
Cả bảy đứa đều ăn mặc quần áo nâu cho khác dạng, đi đất cho êm, và đội nón lá cho khỏi lộ mặt. Chúng đi đứa nọ sau đứa kia vài chục thước. Và muốn không ai ngờ, thằng đi trên đường cái, thằng đi trên bờ ruộng cách xa.
Gần đến nhà anh Lâm ở, Thừa lần vào bụi rậm hôm trước để lánh mặt. Năm thằng mật thám chia nhau vây quanh lều. Chỉ thằng Pha-lăng-xô với một thằng tay sai nữa xông vào trong thôi.
Nấp ở chỗ kín một mình, Thừa hồi hộp. Trăng vẫn vằng vặc như hôm trước. Hắn trông rõ lắm.
Bỗng có tiếng vật lộn nhau. Độ năm phút sau, tiếng ấy im bặt. Rồi từ trong lều ra, thằng Pha-lăng-xô đi trước, hai người bị xích tay với nhau đi thứ hai, cuối cùng là thằng chó săn. Thằng này ôm một bọc gì khá to. Chắc là tang vật.
Thừa trông không sai. Không những anh Lâm, mà cả anh Xi cũng bị bắt.
Bọn mật thám đưa hai người ra ngoài trời. Thằng Pha-lăng-xô hùng hổ, chĩa súng vào họ:
- Chúng mày chống cự nữa đi!
Cố nhiên hai nạn nhân đã bị xích tay chặt. Họ không còn gì để chống cự. Cho nên thằng Tây lai bắt đầu ra oai.
Nó cầm báng súng, bổ vào đầu anh Lâm. Nhưng tức thì, cả bốn cổ tay dúi vào nhau, cùng giơ lên để đỡ. Sắt chạm sắt, kêu đánh chát. Thằng Tây lai cáu, bổ bất cứ vào đầu của ai. Bốn cánh tay cứng cố che cho nhau được kín. Thấy anh Lâm và anh Xi cứu đỡ nhau, bốn cánh tay không rời nhau, thằng Pha-lăng-xô xích riêng hai người, để đánh tỉa.
Thừa nghe tiếng sắt nện vào xương sọ kêu cốp cốp, mà rùng cả mình. Nhưng hắn không nghe thấy ai kêu, hắn ngạc nhiên lắm.
Thằng Pha-lăng-xô không đánh vào đầu nữa. Nó quật vào lưng. Rồi nó dùng tay chân để đấm đá.
Bọn lâu la cũng xông đến để hành hung giúp chủ. Thêm sáu thằng nữa hợp sức với thằng Tây lai, quần hai người.
Thừa thấy chúng nó đánh như đánh đòn thù. Hắn rợn cả tóc gáy. Mỗi cái tát, mỗi cái thụi, mỗi cái đạp, anh Lâm và anh Xi đều thốt lên những tiếng ức ức khẽ. Nhưng thằng Pha-lăng-xô thì to mồm. Luôn miệng nó chửi, luôn miệng nó thách. Sau cùng, muốn chừng nó mệt, nó dừng tay và nói như gầm:
- Sao chúng tao đánh thế mà chúng mày không kêu!
Thừa hiểu. À ra nó muốn được nghe tiếng kêu để thấy việc nó hành hung là không mất công toi. Vẫn im lặng. Thằng Pha-lăng-xô thét lên:
- Đồ chiến bại! Tao phải đánh nữa cho chúng mày kêu tao mới tha. Mày nghĩ kỹ đi! Có kêu không?
Tiếng anh Lâm trả lời - Thừa vẫn thấy giọng nói nhỏ nhẻ của cậu Nghĩa:
- Các ông có bảy người, đánh đập, hành hạ chúng tôi rất tàn nhẫn để mong nghe chúng tôi kêu cho các ông hả dạ. Nhưng chúng tôi không kêu. Vậy chúng tôi với các ông, ai là chiến bại?
Một thằng chó săn vừa xông vào anh Lâm, vừa quát:
- Im mồm!
Nhưng thằng Tây lai giơ tay ra ngăn. Nó hất hàm nhìn vào anh Xi. Anh Xi nói:
- Bên các ông có bảy người có mặt tại đây. Nhưng muốn bắt chúng tôi, các ông còn phải dùng vô số người nữa không có mặt ở đây để dò la chúng tôi. Rồi còn phải bàn bạc với nhau, bày mưu lập kế, bắt được có hai người. Vậy ai là chiến bại?
Thừa giật nảy mình rồi run lên vì sợ. Chắc anh Xi nói hắn. Mà sao anh lý sự hoạt bát thế. Còn thằng mật thám thì tức lồng lên. Nó nhảy vào anh Xi. Nhưng lần này thì chính anh Lâm giơ tay ngăn nó lại. Nó chỉ kịp nói có câu ngắn:
- À, chống cự!
Anh Lâm nói:
- Chúng tôi không chống cự bằng sức. Chúng tôi chỉ đưa lẽ phải để ông đừng nói sai. Ban nãy ông thách hai người chúng tôi bị ách tay chống cự với bảy người các ông có đầy đủ khí giới. Lời thách ấy không phải lời của người chiến thắng. Bên các ông, bên chúng tôi, ai thuyết phục được lòng người theo một ngày một nhiều chứ không phải bắt bớ, tù đày người ta thì bên ấy chiến thắng, ông không nên căn cứ vào việc hiện giờ các ông dùng bạo lực mới bắt nổi có hai người chúng tôi mà bảo là chúng tôi chiến bại. Chiến thắng hay chiến bại, chưa phải là việc của hôm nay.
Thằng khốn nạn không chịu được nữa:
- À, mày tuyên truyền!
Trận đòn lại như mưa vào anh Lâm. Nhưng anh Xi nhích lại gần, lấy thân đỡ cho bạn.
Thằng Pha-lăng-xô càng hung hăng. Nó đánh cả hai người.
Dưới ánh trăng, Thừa thấy mỗi lần một cánh tay của thằng Tây lai giơ lên để bổ xuống, thì liền cả bốn cánh tay của anh Lâm và anh Xi cũng giơ lên để đỡ.
Mười lăm phút sau, thằng chủ thở hồng hộc vì mệt. Nó ngừng tay, ra lệnh cho bọn lâu la giải phạm nhân đi.
Thừa nhìn rất rõ anh Lâm và anh Xi qua ngay trước mặt hắn. Người nào cũng quần áo rách tả tơi, bê bết những máu. Hai anh có vẻ rất đau đớn, nhưng không mặt ai nhăn nhó. Ánh trăng chiếu vào họ. Bốn con mắt họ vẫn sáng ngời.
Bỗng Thừa thở dài.
Nhìn anh Lâm, hắn mường tượng nét mặt cô Lễ lúc bị hắn khảo của. Nhìn anh Xi, hắn nhớ lại nét mặt anh âu sầu, lúc anh đưa hắn hai hào.
Lòng hắn nao nao.
Hắn thương hại cho hai anh đã rất là dại dột, tự nhiên giơ tay hứng đòn cho nhau.
Con người ích kỷ có đôi mắt phàm ấy, nhìn hình ảnh ấy, sao mà thấy được cái ý nghĩa cao cả của tinh thần đoàn kết, tương trợ, sống chết có nhau, đẹp đẽ và khỏe khoắn, trong những người hy sinh dũng cảm này!