Hôm nay Thừa bực mình lắm. Hắn lại vừa gặp người vợ cả của hắn.
Sau cái ngày mẹ Mão đến phá Phòng thuốc nhà giàu, thì chị về ở nhà quê. Những người làng biết chuyện, ai cũng mát ruột thay cho chị, và thấy đáng kiếp thằng đàn ông bạc tình. Nhưng khi việc đến tai ông bà bếp, tuy bà bếp không nói gì - bởi vì mấy đời bánh đúc có xương - còn ông bếp thì bênh con, cho nên giận chị lắm. Ông chửi chị là tai ngược, đánh cho một trận thật đau, rồi đuổi đi. Chị phải bế Mão về bên nhà ngoại.
Lúc bấy giờ dư luận trong làng về chị cũng lắm. Có người đoán chị và Thừa rồi sẽ tái hợp. Bởi vì người chồng này không thể làm ăn ở Hà Nội nữa, sẽ lại bò về nhờ dì ghẻ và nhờ vợ. Có người cho rằng vợ chồng như vậy là tuyệt ân tình, bỏ đứt nhau, không còn mặt mũi nào trông thấy nhau nữa. Có người chắc sau này chị sẽ lấy anh Xi, vì anh Xi góa vợ, mà xem ra hai bên đi lại mặn mà với nhau lắm. Nhưng mà ra không phải. Chồng chị không về quê. Chị làm mối cho anh Xi lấy người chị họ của chị cũng góa sớm. Hai bên rổ rá cạp lại, ăn ở với nhau rất hòa thuận, và cùng thương quý chị bội phần.
Lại đến ngày ông bếp ốm nặng, bà bếp nhắn ra Hà Nội năm tin, mười tin, mà Thừa không về, thì bà thấy người nàng dâu cũ, tuy đã bị ông ruồng bỏ, ngày nào cũng đến thăm nom. Bà xin vái ông cho chị về ở nhà như cũ. Nhưng chị không về. Không phải chị dỗi với bố chồng, nhưng chị giận chồng. Chị không muốn ở đây, rồi phải nhìn mặt con người gian ác đã làm hại đời chị. Chị làm thuê, làm mướn quanh năm, lần hồi giật gấu vá vai, cũng đủ nuôi miệng chị và con chị. Bây giờ, về với ông bà bếp, dù sao thì cũng mang tiếng là nhờ chồng, mà sự thực chị nhờ cái gì? Thấy ông bếp thuốc thang chả có, cơm cháo chả ăn được, chị còn chắt bóp để dành tiền, thỉnh thoảng mua được cho ông đồng quà tấm bánh. Đến ngày ông bếp chết, chị cũng mua được mấy vuông khăn xô, đến để chịu tang. Lúc đưa ông ra đồng, chị cũng cố khóc lóc thảm thiết, y như một người nàng dâu hiếu thảo biết thương xót thật. Họ hàng nghe những tiếng sáo mà chị kể lể, nào những là “bơ vơ như chim mất tổ”, nào những là “con không cha như nhà không nóc”, thì đều yên tâm là ông bếp tốt số, vong linh không đến nỗi tủi nhục. Người ta còn lắng tai để xem trong lúc khóc lóc, chị có cạnh khóe oán trách chồng bạc tình, bố chồng thiên vị và dì ghẻ chồng cay nghiệt hay không. Nhưng mà tịnh không. Cho nên càng nhìn cái mũ gậy treo ở đầu đòn, họ càng so sánh người con trai vắng mặt với người con dâu có mặt để nguyền rủa thằng con bất hiếu, và khen ngợi con người thảo hiền.
Đến năm mươi ngày ông bếp, Thừa mới về quê. Gọi là tạt về quê thì đúng hơn, vì hôm ấy, hắn phải đưa thằng Pôn đi Hải Phòng, nhờ ông thầy khách quen vá cho nó cái môi rách. Thằng Pôn đánh nhau với thằng Giăng, bị thằng em hăng tiết, cầm hòn đá giáng cho một cái trúng mồm. Hôm ấy, Thừa đi bằng ô tô, chiếc Béc-li-ê bốn chỗ ngồi mới sắm, sơn màu lá cây rất đẹp. Thừa dắt thằng Pôn về nhà. Bà bếp kể sự tình ông bếp ốm thế nào, chết thế nào, ma chay thế nào. Bà không quên khen mẹ Mão ăn ở có thủy chung. Bà khuyên Thừa nên đối xử lại với người vợ tấm cám, để người ấy đỡ tủi nhục. Nhưng từ đầu đến cuối, Thừa chỉ nghe mà không nói. Thằng Pôn thì kêu đau, cứ giục bố đi ngay, cho nên Thừa càng sốt ruột. Họ hàng thấy Thừa giàu có, sang trọng, thì rủ nhau đến chào. Nhưng Thừa cứ chân trong chân ngoài định ra xe. Lão hai Điều xun xoe đến xin Thừa việc làm, hoặc cấp cho ít ruộng để cấy. Thừa dặn hôm nào lên đồn điền hãy nói chuyện kỹ. Sự thực, Thừa không muốn ngồi lâu, để phải gặp mẹ Mão. Hắn yên trí rằng sở dĩ mẹ Mão làm ra ăn ở có thủy chung, chẳng qua vì từ khi hắn bỏ, thì bơ vơ, không biết làm gì để sinh sống, nên nghèo khổ quá. Nay nhân dịp này, thì lấy lòng hắn, mong hắn nghĩ lại, để hoặc cho về như cũ, hoặc ít ra cũng đền công cho một món tiền. Ấy là nếp nghĩ của những người giàu đối với người nghèo, tưởng việc gì của những người này làm cũng là một thủ đoạn như mình, có một mục đích lợi dụng. Cho nên, âu cũng lại là nếp nghĩ của Thừa lâu nay, hắn muốn tránh mẹ Mão để khỏi chi một sự từ thiện vô ích. Nhưng may sao, hôm ấy mẹ Mão không lên lễ ông bếp. Thừa ở nhà độ một giờ đồng hồ. Lúc ra đi, hắn mở ví, đưa cho dì ghẻ một trăm bạc, nói là để xây mộ cho bố, còn bao nhiêu thì giữ lấy mà ăn. Thấy Thừa rộng rãi, bà bếp mách rằng thằng Mão rách rưới quá, và mẹ nó túng bấn lắm. Bà nhắc Thừa nên cưu mang cho mẹ con nó chút ít. Nhưng Thừa không nói gì. Bà lại mời Thừa ra đồng thăm mả ông bếp, và giữ hắn ở lại, chờ xong cơm cúng, để hắn mũ gậy, ô hô ông ba tiếng, khấn ông về. Nhưng Thừa nói rằng vội phải đi, kẻo hết giờ. Thế là Thừa đứng dậy. Họ hàng tiễn hắn ra xe đến hơn chục người. Muốn thi ân với người làng, hắn vừa đi vừa tung hàng nắm xu ra đường. Trẻ con, và cả người lớn nữa, kéo ồ ra nhặt, tranh nhau, chửi nhau, đánh nhau. Thằng Pôn nhân tiện, bắt nạt những đứa bằng tuổi nó, đến cướp tiền. Nó đá lung tung, lia lịa, và cười sằng sặc. Thấy bọn trẻ cười rồi chạy, thì nó chửi. Nó chửi đến hai mươi câu, không câu nào trùng câu nào. Mà chửi rất trơn tru như người học trò chăm chỉ, đọc thuộc bài.
Đi từ nhà ra đường cái là chỗ xe đỗ, Thừa cũng rất sợ gặp mẹ Mão. Hắn không thể quên được cái hôm mẹ Mão đến Phòng thuốc nhà giàu, và cũng không thể quên được những lời cô Lễ nhắc lại cho hắn nghe về cái lý lịch của hắn. Cái lý lịch của hắn mà mẹ Mão tố giác với cô Lễ, bây giờ đầy hơn trước, và hắn cũng biết là nó đầy hơn trước gấp bội. Gặp làm gì? Thừa nghĩ: “Để nó vòi tiền, hoặc để nó bêu mình phen nữa à? Không cho nó, thì người làng chê cười là hẹp hòi. Mà cho nó thì thật là vô lý!”.
Nhưng mẹ Mão đâu? Sao hôm nay là năm mươi ngày ông bếp, chị không đưa thằng Mão đến? Sao một chiếc ô tô về làng, trẻ con rủ nhau lũ lượt đi xe, chị không hỏi là xe ai? Sao một người chị thù hằn như vậy, hôm nay chợt dẫn xác về cho chị sỉ nhục, lại không có ai mách cho chị biết?
Thật ra, thì vô số người mách cho chị cái tin Thừa về làng. Người ta đợi chị làm gì để được xem, hoặc để bõ ghét cái thằng khốn nạn, hoặc để tò mò xem hai người đã bỏ nhau, bây giờ ăn nói với nhau như thế nào, hoặc để được thấy một đám chửi nhau, đánh nhau cho vui tai, vui mắt.
Song, mẹ Mão không dằn mặt Thừa. Chị xui thằng Mão nhiều điều, và bảo nó cầm con dao phay, rồi đưa nó ra chỗ xe ô tô đỗ. Người ta đoán chị sẽ giết Thừa, hoặc tự làm mình có thương tích để ăn vạ. Nhưng mà không. Đến trước xe, người ta thấy thằng Mão lấy dao băm bập vào mũi, vào mui, vào đệm ô tô, nhưng lại trừ chỗ ngồi của người cầm lái. Rồi nó xuống ao, vốc bùn bôi bê bết vào những chỗ đã băm.
Thằng Mão làm những việc này vừa xong, thì thấy bố ra đến đầu làng, theo sau có vô số người. Nó sợ, toan chạy, thì mẹ nó ngăn lại:
- Mày cứ đứng lại. Nó có hỏi ai băm xe, ai trát bùn lên xe của nó, mày cứ bảo mày đấy, xem nó có dám làm gì không nào? Mày không băm, không trát bùn lên chỗ đệm nó ngồi là được rồi. Còn chỗ khác, mày có quyền, cả làng bênh mày kia mà, sợ gì?
Quả nhiên, Thừa không làm gì nổi thằng Mão. Trước hết, thoạt Thừa nhìn thấy một thằng bé con gầy gò, rách rưới, mặt mũi chân tay nhem nhuốc những bùn, đứng trừng trừng nhìn hắn, thì hắn tưởng là một thằng điên. Sau, hắn thấy xe của hắn cũng đầy bùn, thì hắn đoán ngay là có chuyện. Hắn nhìn kỹ lại thằng bé con điên lẹm cằm, thì đoán ngay nó là thằng Mão.
Tất cả những người xúm quanh, yên trí thế nào thằng bé cũng bị quan hàn cho một trận đòn thù. Họ yên lặng để đợi. Nhưng họ tâng hẩng. Thừa nhìn Mão bằng đôi mắt dịu dàng, vẫy nó lại gần, và mỉm cười, gọi:
- Mão phải không? Lại thầy bảo.
Thằng Mão tay vẫn cầm con dao, phăng phăng đến. Nó hằn học trông Thừa và trông thằng Pôn. Thừa ôn tồn, nói như khuyên nhủ:
- Bận sau, con đừng làm hại xe của thầy nhé. Của thầy là của con chứ của ai?
Mão lắc đầu:
- Là của con đĩ tây lai, là của những đứa con của con đĩ tây lai, chứ không phải của tôi.
Ai nấy thấy Mão đối đáp rất tính khôn, thì nín thở, xem quan hàn xử thế nào. Song quan vẫn mỉm cười, lẳng lặng rút trong túi ra chiếc mùi-soa, lau qua chỗ bùn ở đệm đằng trước. Rồi quan mở ví, lấy ra tờ giấy hai mươi đồng, đưa cho thằng Mão:
- Thầy cho.
Thằng Mão cầm tiền, nhưng vứt xuống đất:
- Tôi không thèm. Giả u tiền đóng thẻ thuế thân đây!
Thừa vẫn tươi như thường. Hắn không nhặt tờ giấy nhưng dịu dàng bảo thằng Mão:
- Con lên đồn điền ở với thầy nhé.
Thằng Mão đáp:
- Ỉa vào.
Thừa bẽn lẽn, nhìn những người xung quanh:
- Thôi, chào các ông nhé.
Hắn bảo thằng Pôn lên xe, rồi mở máy. Xe chạy.
Lúc bấy giờ mẹ Mão mới ở trong bụi đi ra. Mọi người xui chị cứ cầm lấy tiền, vì là của bố thằng Mão cho thằng Mão. Hoặc chị cứ kể như đây là món trả nợ chị đã chạy tiền đóng thẻ cho bố thằng Mão đến chục năm nay. Có người khen chị là khéo dạy con, biết ăn nói cứng rắn, và biết khinh đồng tiền đáng khinh, để bọn nhà giàu rởm hợm và rực của họ khỏi khinh nhà nghèo. Nhưng lại có người khen quan hàn là đại lượng, tuy bị con hỗn, nhưng vẫn thương nó, cho tiền nó và bảo nó lên ở. Những người này chê mẹ Mão là quá quắt. Họ phàn nàn rằng làng mới có một người giàu và danh giá, lại hào phóng, có thể cho bà con nhờ vả, thế mà hoạ hoằn ông mới về một lần, chị làm như vậy, thì rồi ông đến bỏ làng mất!
Việc phá ô-tô đến tai bà bếp. Bà nửa bằng lòng mà cũng nửa không bằng lòng. Bà bằng lòng vì bà thấy rõ rằng Thừa bạc ác, bất nhất. Đối với bố chết mà hắn chẳng đoái hoài, chẳng thăm mả, chẳng mũ gậy lễ đến một lễ, khóc lấy một tiếng, thì sau này, bà có nằm xuống, bà hòng gì hắn ma chay, cúng giỗ. Nhưng bà không bằng lòng vì bà nghĩ đến một trăm đồng bạc của Thừa đưa bà xây mộ cho ông bếp. Thừa bây giờ giàu, lại là ông hàn, thì còn sống ngày nào, bà còn phải trông cậy vào Thừa, chẳng gì cũng là con chồng. Thế mà Thừa bị mẹ Mão làm đến cạn tàu ráo máng, thì bà mong gì đến trăm ngày, đến giỗ đầu ông bếp, Thừa lại về để cho bà tiền.
Song, dù sao thì bà cũng không nói gì với mẹ Mão. Bà nghĩ đến những buổi mẹ Mão đi lại thăm nom ông bếp trong những ngày ông ốm nặng, và sắp chết. Bà nhớ những câu mẹ Mão khóc lóc kể lể, khi đưa ông bếp ra đồng. Ai nghe những câu ấy mà không xót xa? Ai nghe những câu ấy mà không bảo chị là nàng dâu hiếu thảo? Nếu ông bếp mà sống khôn chết thiêng, biết nàng dâu khóc mình thế, cũng phải hả vong linh. Chẳng rõ người chết còn hiểu gì không? Chẳng rõ ông bếp nằm trong quan tài lúc người ta khênh ra đồng, kèn trống inh ỏi, thì hồn vía bơ vơ đã nhập vào thân cụ chưa? Chẳng rõ ông thấy mẹ Mão khóc có sướng tai không? Chứ mà bà sống đây, là lấy làm hả dạ lắm. Bà muốn rằng sau này bà chết, lúc rước bà đi, cố nhiên là chẳng trông cậy gì cái thằng con chồng nó về chịu tang, nó mũ gậy, và đi giật lùi trước đòn, như hồi mẹ nó chết, nhưng đã có người nàng dâu này, với những tiếng hờ tiếng kể này, đám ma bà sẽ đậm đà, khỏi sái.
Vì vậy, bà cần lấy lòng mẹ Mão. Bà chữa lại thói quen gọi chị là con mẹ cu, con mẹ Mão, để đổi lại là chị Mão, có lúc dịu dàng, bà gọi là chị hàn, mợ hàn. Bà dỗ dành chị về ở với bà cho vui, cho ấm cúng cửa nhà. Chị nhất định từ chối. Nhưng đến mãi tận sau ngày bà bếp chết, nhiều người trong họ Trần khuyên chị cho con về nhà ông bếp mà ở, đừng để nhà nát, vườn hoang mà phí, nên chị nghe. Chị đã suy tính nhiều về việc này. Chị cho rằng dù đã dứt tình, nhưng hai vợ chồng chưa đem nhau đến cửa quan để bỏ nhau, thì chị vẫn là vợ của con người ấy. Vả lấy nhau ngần ấy năm trời, con sống có, con chết có, nay còn với nhau chút nghĩa đấy, tức là thằng Mão này, thị chị phải ăn ở cho vẹn nghĩa. Vả lại dù chị chẳng có quyền ở nhà của Thừa, thì nhà này là nhà của ông bếp, chính còn mồ ma ông bà bếp, lúc sinh thời, ông bà vẫn bảo chị về ở, thì tức là ông bà vẫn nhận chị là dâu. Nhưng dù chị không có quyền ở nhà này, là nhà của con trai ông bếp, thì thằng Mão là cháu nội, cháu đích tôn ông bếp, nó có quyền ở nhà của ông nó, của bố nó. Chị có theo nó về ở đấy, là để nuôi nó, chứ không phải là cần nương tựa vào cái thằng bạc tình.
Mẹ Mão đưa Mão về ở bên nội được hai năm, thì phải gửi nó đi ở chăn trâu cho vợ chồng anh Xi. Bởi vì anh Xi có vợ, tức là có thêm cánh tay, thì làm ăn khấm khá. Nhưng chẳng may, rồi ba năm liền, trời làm lụt loạt, mất mùa, căn nhà đổ nát, chị không thể chữa chạy, vả lại ở vào thời gạo châu củi quế, vắt mũi chẳng đủ đút miệng, chị phải bỏ làng, đi thiên hạ kiếm ăn. Vợ chồng anh Xi cũng vậy, gia tài gần khánh kiệt, phải tính đến chuyện đi siêu. Hai người lấy cớ là phải nuôi thằng Mão, mới rủ nhau lên Cẩu Rồng, nhờ hàn Thừa cấp ruộng để cấy. Vì anh Xi biết Ma-ri ghét anh, mà anh cũng chẳng nể, chẳng trọng gì Ma-ri, cho nên anh xin Thừa cho chỗ ruộng ở xa dinh. Thừa thấy một người làng, một người bạn cũ, một người cộng tác cũ, một người đầy tớ cũ, một người tốt bụng, đã có lần cho hắn hai hào để hắn qua được ngày vừa ốm vừa đói, dù người ấy có tính bướng, tính khí khái, trước kia đã bỏ hắn, nhưng nay người ấy đến xin xỏ, thì hắn không hẹp hòi. Đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh kẻ chạy lại. Vả lại, giúp anh Xi ruộng, để anh nuôi cả thằng Mão, cho nên hắn bảo Ma-ri xếp cho anh ba sào ở tận mép Cẩu Rồng, chỗ gần những đồi hoang không thuộc về đồn điền, và chưa ai khai phá. Thừa khuyên anh Xi nên vỡ thêm những đất ấy mà trồng trọt.
Từ ngày anh Xi đem Mão lên Cẩu Rồng, thì mỗi năm một lần, mẹ Mão lại đến thăm con. Và mỗi lần vào nhà anh chị Xi, phải qua chỗ Thừa và Ma-ri ở, gọi là dinh quan hàn, thì chị lại sực nghĩ đến cái thằng để khó cho chị, hàng năm phải khổ nhục chạy cho nó mấy đồng bạc đóng thuế thân. Chị như phát điên. Chị hăng tiết lên, không sợ lũ chó rồ ra cắn, không sợ ông hai Điều và bọn người nhà cầm roi gậy ra dậm dọa, chị cứ xông tuột vào nhà chính giữa để chửi rủa, phá phách.
Thừa và Ma-ri rất hoảng. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây. Lôi thôi với chị, quan ông quan bà chẳng được gì, mà chỉ bị thiệt. Trái lại, mẹ Mão chẳng thiệt gì, mà được chửi sướng miệng, phá sướng tay.
Cho nên, Thừa và Ma-ri cho tốt nhất là đành xử nhũn. Hai người phải bảo ông quản gia hai Điều và vợ chồng anh Xi điều đình ôn hòa hộ. Về việc nuôi Mão, Thừa đảm nhiệm hoàn toàn. Mỗi tháng, hắn trừ cho anh Xi mười hai cân thóc, tức là mỗi năm, ngót một tạ rưỡi, làm lương ăn cho Mão, để Mão khỏi phải chăn trâu vất vả. Vì anh Xi chỉ lĩnh canh có ba sào, phần thóc phải nộp không đủ số lương ăn của Mão, nên Thừa bù thêm bằng tiền. Hắn lại ngỏ ý muốn giúp cho mẹ Mão một món tiền để buôn, để khỏi làm lụng lam lũ. Nhưng mẹ Mão không nhận ân huệ của kẻ thù. Đối với Mão, Thừa phải nuôi, là bổn phận của người bố. Chị không ngăn cản. Nhưng đối với chị, chị không muốn dùng đồng tiền bẩn thỉu để xí xóa hết lòng căm phẫn của chị, cho đôi gian phu dâm phụ ăn ở với nhau được vui vẻ. Chúng nó đày đọa chị, thì không bao giờ chị để cho chúng nó được yên ổn.
Từ ngày Thừa nuôi Mão, thỉnh thoảng Mão cũng được đưa về dinh chơi. Trước hết, Mão gọi Thừa là ông, gọi Ma-ri là bà. Không ai xui, nhưng Mão đã biết ghẻ lạnh thế. Thừa bảo mãi. Mão mới gọi Thừa là thầy, và nhất định vẫn gọi Ma-ri là bà. Mão chỉ e dè bố, còn đối với Ma-ri thì bất cần. Gặp Ma-ri, Mão không chào. Không bao giờ Mão nói ôn tồn với Ma-ri. Còn đối với lũ Rô-da-lin, Ma-gơ-rít và Ca-mê-li-a, năm bấy giờ còn bé, chưa đi học, thì thật là mặt trăng, mặt trời. Mão gọi chúng là con, là cái, con Rồ, cái Ma, con Câm. Nhiều lần Mão đánh chúng đến chảy cả máu mồm, máu mũi. Ma-ri bênh con, thì Mão chửi tuốt.
Mỗi lần trong nhà có những trận nội chiến như vậy, thì Ma-ri lại đè Thừa ra mà giày vò, xui Thừa cấm cửa thằng bé bất trị. Rồi vợ chồng lại giận nhau đến mấy ngày.
Sau hết, Thừa cũng không chịu nổi Mão mỗi ngày một xấc láo cả với mình. Muốn trừ cái bướu, hắn gửi Mão đi Hà Nội, nói rằng con đến tuổi phải học hành. Thừa đưa Mão đến nhờ người bạn thân giáo dục hộ, để học làm người. Người bạn thân này là ông nhà thơ Tình muôn thuở.
Ông Tình muôn thuở ngày ấy đã nghiện nặng, cho nên tự nhiên được thằng bé đến để nó đun nước hầu và lau bàn đèn hộ, thì ông mừng lắm. Dần dần, thấy nó có vẻ ngang tàng, ông mới dạy nó học tiêm thuốc phiện, và giáo dục nó bằng những cảnh thực tế diễn ra trước mắt.
Nhưng không phải vì Mão không ở Cẩu Rồng mà mẹ Mão không còn lý do gì để thỉnh thoảng không về khuấy lộn sự yên vui của cái gia đình càng ngày càng giàu có và danh giá này. Không phải chị khuấy lộn với mục đích làm tiền, mà chị khuấy lộn để làm nhục cái thằng đã bắt chị phải chịu mãi cái nhục nộp thuế thân cho nó!
Hôm nay mẹ Mão đến rầy la Thừa về cái tội giết thằng Mão. Thoạt nghe tiếng giết, Thừa giật nảy mình. Chị mới giảng cho Thừa hiểu thế nào là giết, và bắt Thừa phải lập tức thay chỗ ở cho con chị. Vì hôm nọ, đến thăm Mão, chị được Mão khoe rằng bác Hoài dạy nó hút thuốc phiện. Nó đã hút một điếu. Nó nói thuốc phiện không xóc như thuốc lào, thuốc lá. Hút khói vào trong người, không bị ho, sặc, mà thấy dìu dịu, nhàn nhạt như không. Chỉ bị ngứa ngáy khắp mình, không thể ngủ được, suốt đêm cứ sồn sột gãi. Mẹ Mão bực mình quá, bắt con rời ngay khỏi nhà ông nhà thơ, không cho ở đấy một giờ nào. Mão nhất định không chịu theo mẹ. Nó nói rằng ở với bác Hoài vui lắm, vì tối nào quanh bàn đèn nhà bác, cũng có đông khách đến chơi. Những bác cử, bác nghè, bác kỹ sư, bác trạng sư, bác đốc tờ, học ở bên Tây về, nói lắm chuyện rất lạ. Mẹ Mão hỏi chuyện gì. Nó bảo là chuyện trai gái. Mẹ Mão lại hỏi có phải vì thích nghe những chuyện ấy mà nó mến bác Hoài hay không. Nó đáp không những thế, mà ở đây nó được tự do hơn ở với bác Xi, hoặc ở trong dinh Cẩu Rồng. Vì bác Hoài bận, đi vắng cả ngày, nó tha hồ muốn làm gì thì làm, không ai ngăn cấm, mắng mỏ. Nó chỉ bận có một lúc vào buổi tối, khi bác Hoài bảo nó tiêm thuốc cho bác, hoặc cho khách của bác hút. Bây giờ bác Hoài thường khen nó đã tiêm khéo rồi, và bảo nếu biết hút, thì tiêm khéo hơn. Nó còn khoe chẳng có ở đâu hơn ở đây, vì nhiều tối nó được xem cái mà nó gọi là xi-nê-ma. Mẹ Mão đoán ngay ra những cảnh này là thế nào, cho nên rất kinh tởm, quyết không cho con mình vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay. Chị xỉa xói vào mặt Thừa:
- Thằng bé không đói khát mà phải học cái nghề làm bồi tiêm thuốc phiện! Nó không nứt mắt ra đã tập cái se, cái lọ! Nó không đến nỗi đốn mạt mà phải hầu cái quân vợ chồng đổi lẫn.
Rồi chị nhiếc móc:
- Nhà này chả thiếu giống đĩ!
Mỗi lần mẹ Mão đến dinh để rày la như vậy, Thừa cáu tiết lắm. Hắn trả tiền đóng thẻ, mẹ Mão nhất định không thèm nhận. Cho nên hắn đành cứ phải nhịn. Hắn cho rằng một câu nhịn là chín câu lành. Ít lâu nay, hắn học nhịn, nhịn người ngoài, nhịn Ma-ri làm nhục, đã quen rồi. Vả lại không nhịn mẹ Mão, không nhịn cái con mụ liều lĩnh, sát khí đằng đằng này, thì nó chửi rủa, nó gầm thét, nó đập phá, nó làm mất hết sĩ diện với đầy tớ, với điền tốt, với thiên hạ. Cái cảnh khủng khiếp ở phòng thuốc nhà giàu ngày trước, Thừa không muốn tái diễn ở trong dinh này, là đất đương làm ăn thịnh vượng. Biết đâu mẹ Mão lại không dắt mấy thằng du côn, chúng nó nấp ở đâu đây.
Nhưng, cũng như mọi lần phải nhẫn nhục, Thừa hay tìm một ý nghĩ của những người kẻ cả, để tự an ủi là mình cao thượng, không phải là hèn. Thừa nghĩ rằng phải tha thứ cho mẹ Mão. Mẹ Mão không có diễm phúc làm vợ hắn, cho nên mấy năm nay, dần dần cứ rạc như xác ve, rách như tổ đỉa, đem tấm thân tàn đi khắp đó đây để kiếm ăn. Bởi thế cho nên người đàn bà cố cùng ấy trở nên ác như một hung thần. Vậy thì mẹ Mão chỉ là một người đáng thương, chứ không đáng giận. Những bậc gọi là thượng lưu xã hội, phải biết nhủ lòng thương tới những người đáng thương. Thế thì một ông chủ đồn điền, một ông hàn, một hội viên hội Khai Trí Tiến Đức, có tránh một con ác thú, cũng không lấy gì làm xấu hổ. Tội gì mà đổ thêm dầu vào lửa?
Chính Ma-ri cũng sợ mẹ Mão lắm. Không bao giờ hắn dám dàn mặt. Sự thực thì ít lâu nay, sức lực hắn kém trước, hắn tự biết không thể đương đầu với cái người tuy gầy đét nhưng rất hung hăng này. Thừa thường khuyên hắn là tránh voi chẳng xấu mặt nào. Vả lại hắn cũng không dám nhìn mẹ Mão. Hắn rờn rợn, như nhìn thấy ma. Hắn đã làm hàn Xương chết. Một dạo, lúc đêm khuya, trông ngọn đèn hoa kỳ, hắn cũng tưởng tượng như mắt người chết thao láo giương ra để dọa hắn. Song, hàn Xương chết, một nửa là do hắn làm cho rạc sức, nhưng một nửa cũng do hàn Xương quá mê hắn, mà dâm dật đến kiệt sức. Hàn Xương chết rồi, chết thật rồi. Đèn sáng giong đêm làm cho hắn không thấy con mắt của oan hồn. Thời gian và công việc bận bịu hằng ngày cũng xóa nhòa giúp hắn cái hình ảnh của kẻ tình si. Và cái miếu xây để thờ người xấu số đã làm cho hắn yên tâm là người ấy được giải oan. Ma-ri so sánh hàn Xương với mẹ Mão. Người đời đổ cho hắn giết hàn Xương, nhưng một phần là do hàn Xương tự sát. Còn mẹ Mão, sở dĩ bây giờ như ma dại, như hung thần, là do hoàn toàn tại hắn. Người đàn bà này không chết hẳn như hàn Xương, nhưng chết dần. Hắn đã nhìn thấy mẹ Mão hồi ở nhờ dãy bếp nhà thằng Tu-nô. Lúc ấy chị ta trẻ, xinh và béo tốt. Nhưng do hắn tranh cướp mất chồng, mà người ấy trở nên thế này. Thân hình thì gầy gò như cá mắm, mặt mũi thì xấu xí như quỷ sứ, áo quần thì tả tơi như con mẹ ăn mày. Trông thật gớm chết! Thế thì chính là do bàn tay của hắn đã tạo nên mẹ Mão bây giờ, cái mẹ Mão gần đất xa trời, cái mẹ Mão giống con ma hơn là con người. Cho nên cái con nửa người nửa ma ấy thỉnh thoảng lại hiện ra để dọa hắn, hắn sợ mẹ Mão như sợ ma. Con ma ấy hiện ra ban ngày, chứ không hiện ra ban tối, mà có thể dùng ánh sáng đèn đuổi được. Con ma ấy lại không chết thật để có thể mời thầy đến cúng, trừ tà, hoặc gọi thợ đến xây miếu giải oan. Vì vậy, mẹ Mão tới, không bao giờ Ma-ri dám ra mặt. Hắn không dám sinh thêm chuyện để giữ tiếng với ngoài. Hắn tránh bị đòn. Nhưng nhất là hắn thấy rờn rợn như gặp ma. Hắn sợ.
Song, sợ con ma mẹ Mão, mà hắn vẫn không nén được cơn ghen với người vợ cả của chồng hắn. Cho nên, mỗi khi thấy bóng mẹ Mão tới, Ma-ri thụt ngay vào buồng, khóa cửa lại. Hắn để mặc một mình Thừa phải đối phó, phải chịu đựng. Nhưng hắn không thể yên tâm mà không tò mò lắng tai xem hai người nói với nhau những gì. Có ra dáng còn tình nghĩa với nó hay không. Có thậm thụt tư túi cho nó tiền hay không. Và cứ mỗi lần nấp sau cửa để nghe lỏm, thì y như Ma-ri phải uất lên. Hắn uất vì nghe mẹ Mão đay nghiến bóng gió hắn. Hắn càng uất vì thấy Thừa nghe những lời mẹ Mão đay nghiến bóng gió hắn, mà cứ im. Hắn ức với mẹ Mão mà không làm gì nổi, nhưng hắn ức với Thừa thì hắn trút ngay lên đầu lên cổ bọn kẻ ăn người làm, nhất là với năm cô trong đội con gái vô tội. Hắn chửi, hắn đánh họ vô hồi, cho hả cơn điên. Rồi, khi mẹ Mão về, hắn xỉ vả, hắn giày vò chồng. Hắn khóc lóc, vật mình, vật mẩy. Hắn nhắc lại vài câu mà Thừa nói với mẹ Mão để đổ cho chồng tử tế với mẹ Mão hơn hắn, thương yêu thằng Mão hơn thằng Pôn, thằng Giăng, hắn bỏ cơm, đòi uống thuốc. Vì hắn ốm, hắn ghen.
Cứ mỗi lần mẹ Mão đến dinh, thì sau đó, Thừa rất khổ. Hắn như cái sọt chứa đựng tất cả những lời đay nghiến, nhiếc móc của mẹ Mão và của Ma-ri, nó như những nhát búa, nhát rìu bổ vào óc, vào tim của hắn. Hắn cũng đâm ra nghĩ ngợi, buồn phiền. Hắn cũng mất ăn mất ngủ, cho đến hôm Ma-ri mệt quá, không còn sức nói dai để làm tình làm tội hắn nữa. Trong lúc đầu óc rối beng, Thừa cũng thẫn thờ như ốm, chẳng thiết gì làm ăn gì. Cả ngày, hắn cáu bẳn, gắt gỏng.
Nhiều lúc, Thừa chán nản. Một đôi khi, ôn lại cuộc đời, hắn thấy bây giờ hắn đau khổ hơn. Hình như hắn là nạn nhân của cái giàu và cái danh giá. Bởi vì, nếu không có giàu, không danh giá, hắn đã có cách xử trí quyết liệt với mẹ Mão. Và cũng do hắn giàu có và danh giá, cho nên mới thành một mối ghen tị về đối xử giữa tôi với nó, và giữa con nó với con tôi.