Hội Kiếp Bạc lại sắp tới, Thừa bàn với hai mại bản:
- Năm ngoái, trong dịp này chỉ có hai mươi ngày từ mồng một đến hai mươi tháng tám, mà hai chiếc tàu của ta thu bằng năm tháng ngày dưng, và bằng ba hội đền Tranh. Là vì cả chiếc Đại Pháp cũng giúp chiếc Bắc Kỳ mà đi đường Hải Dương - Kiếp Bạc. Là vì hai chiếc tàu được độc quyền chở khách. Nhưng nhất là vì hai con làm việc hết lòng hết sức. Cho nên, ngoài lương và hỏa hồng thường lệ, pa-pa đã thưởng thêm để đền bù sự khó nhọc của hai con. Nhưng pa-pa nhận thấy tuy ta chở khách bằng hai tàu, mà người phải đi ô-tô, đi xe, đi thuyền, và cả đi bộ nữa, còn vô khối. Vậy pa-pa thử hỏi các con xem năm nay, ta có thể cho chạy mỗi tàu hai chuyến đi, hai chuyến về một ngày được không?
Chưa để hai mại bản trả lời. Thừa nói ngay:
- Kể ra như vậy, thì ba-toong, tài xế khó nhọc hơn mại bản nhiều. Pa-pa định món tiền thưởng sẽ to hơn năm ngoái.
Thằng Pôn nói:
- Nếu đủ than, đủ dầu, đủ mỡ, và máy khỏe, thì con xin đi một ngày bốn chuyến. Có hai mươi ngày chứ mấy!
Thằng Giăng thêm:
- Con cũng vậy. Nhưng con sợ một nỗi là tàu của ta là tàu cũ, thì máy yếu. Lần trước, lục lộ khám, tàu Bắc Kỳ đã phải nghỉ mất mấy ngày để chữa. Vừa đây, tàu Đại Pháp bị khám, may con Rô-da-lin với con Ma-gơ-rít khéo tán cho anh Tây lục lộ trẻ híp mắt lại, nó mới ngơ đi cho. Cho nên, tháng này, pa-pa phải bảo hai đứa làm thế nào cho họ đừng khám. Chứ khám vào ngày hội, lỡ phải bỏ khách mà đi chữa, thì thiệt hại lắm đấy.
Thừa cho là phải:
- Được, về việc ngoại giao, pa-pa bắt bọn em chúng con phải chu đáo. Hai con lại ra tay một phen nữa, để hội đền này, thu nổi lấy nghìn bạc. Pa-pa sẽ thuê thêm tàu cho chạy đường Hải Dương - Hải Phòng.
Cả thằng Giăng lẫn thằng Pôn được khuyến khích, được động viên, nên đều phấn khởi. Cuối cùng, Thừa nói:
- Pa-pa nhắc lại, mỗi chiếc tàu là của một con, vậy các con phải tập làm ông chủ. Chủ thì phải chiều khách, trọng khách. Đừng làm như kiểu ông hai Sơ, em ông ký Bưởi ngày xưa. Các con có hiểu không?
Cả hai mại bản đều gật đầu. Chúng nó hiểu. Vì làm nghề này, chúng nó vẫn được nghe chuyện về những bậc tiền bối và bạn đồng nghiệp của chúng nó. Chúng nó biết là ông hai Sơ có buồng ngủ riêng trên tàu Phi Phượng. Tính ông đĩ, nên ve được cô hành khách nào, ông dắt vào buồng, cho ngủ chung. Nhiều bận, ông lại hiếp cả hành khách. Hành khách đem nhiều tiền đi tàu sợ mất cắp, nên có quyền gửi mại bản giữ hộ. Ông hai Sơ lợi dụng khách đàn bà con gái nhờ giữ tiền, ông bảo vào buồng ông để đưa tiền và lấy giấy biên lai. Ai đứng đắn, thì ông không dám sàm sỡ. Nhưng ai có vẻ nhí nhảnh, là ông chòng ghẹo ngay. Có người không bằng lòng, ông cũng cứ đóng ập cửa lại, và khóa tách lại.
Ma-ri đã tả tỉ mỉ những mánh khóe của ông hai Sơ khi đã nhốt được khách đàn bà con gái vào buồng mại bản. Hắn khuyên hai con đừng bắt chước ông ta mà mất khách.
Chúng ta đã biết thằng Pôn và thằng Giăng không đứng đắn gì hơn ông hai Sơ. Bây giờ, được mẹ cho nhìn tấm gương sáng, nên từ đó, gặp cơ hội thuận tiện, hai đứa không ngần ngại mà không thực hiện bài học của thầy hai Sơ.
* * *
Bỗng ở bờ sông Hải Dương, có một bọn người đem cuốc xẻng đến miếng đất ngay bên cạnh bến tàu của hãng Trần Đức Thừa. Họ rẫy cỏ, san đất cho bằng, và nện cho phẳng.
Thừa hỏi, thì bọn người đáp:
- Làm bến tàu cho hãng Phúc Lai Thành chở khách trảy hội Kiếp Bạc.
Thừa tái mét mặt. Thế này thì mất độc quyền.
Tối hôm ấy, gọi hai mại bản đến, hắn cho chúng nó biết cái tin mới, và bảo:
- Nhưng ta không nên nao núng. Ta không mất khách đâu mà sợ. Người Nam mình tốt, tất chỉ tìm tàu Nam để đi. Ông ký Bưởi ngày trước cũng nhờ vào tình đồng bào đồng chủng, nên mới nổi nghiệp. Người ta kể chuyện là hồi mới buôn tàu, ông ta chỉ trông vào lòng tốt của đồng bào không đi tàu của chủ nước ngoài. Mỗi chiếc tàu, ông ta để một hòm quyên. Ngày nào, ngoài tiền bán vé, ông ta cũng thu thêm được chút ít của đồng bào cúng. Một hôm, mở hòm quyên, ông ta cảm động quá. Lẫn với hào, với xu lẻ, có một tờ giấy hai chục. Cho nên nhất định ta không sợ tàu hiệu tranh khách của ta. Chỉ cần hai con hết sức tử tế, nhã nhặn để chiều khách. Pa-pa cho già lắm là năm hôm ế khách, hãng Phúc Lai Thành không chịu nổi, phải rút tàu về Hải Phòng.
Quả nhiên như Thừa đoán. Năm hôm đầu, tàu hãng Phúc Lai Thành ế khách thật. Nhưng hãng ấy không chịu rút tàu về Hải Phòng. Hãng ấy chỉ rút tiền vé, hạ mỗi vé hai hào xuống hào rưỡi.
Thấy việc cạnh tranh bắt đầu ra mặt, Thừa không chịu. Hắn cũng hạ mỗi vé xuống năm xu. Khách vẫn đổ xô đến hai chiếc Đại Pháp và Bắc Kỳ.
Pôn và Giăng bán vé sướng tay. Khách đi tàu không những đổ xô quanh chiếu vợ chồng anh hát xẩm, quanh chiếu ông Hai Tây làm trò xiếc, và quanh chiếu anh lùn đóng hề hát chèo, họ còn xúm đông xúm đỏ quanh một vài con công đệ tử, ngay từ nhà, đã mặc áo đỏ, đội khăn xanh, vừa xuống tàu, vừa múa đôi kiếm gỗ một mình như người điên, rồi hò hét, bắt tà, và xiên lình ngay ở trên boong. Tàu hiệu không có những trò giải trí ấy.
Nhưng hai hôm sau, tàu hiệu hạ vé xuống còn có hào hai.
Thừa bảo hai mại bản:
- Không cần. Ta cũng theo. Nếu mỗi chuyến chở được trên hai trăm khách thì vẫn còn lãi.
Thằng Giăng nói:
- Hãng Phúc Lai Thành cậy có trường vốn, nên cho là ta không theo đuổi được.
Thừa bảo:
- Đã đâm lao thì phải theo lao. Dù có lỗ, ta cứ giữ lấy khách. Giữ được nhiều khách thì lỗ ít. Để phen này, chủ An Nam thắng, hay chủ Trung Hoa thắng.
Giá vé lại xuống đến một hào. Thừa bảo:
- Đến mức này là cùng, cho ăn kẹo hãng Phúc Lai Thành cũng không dám hạ nữa.
Nhưng hãng Phúc Lai Thành hạ hai nấc nữa. Hôm trước vé xuống tám xu. Hôm sau, giá vé còn có năm xu.
Thừa đau đớn lắm. Hắn cũng phải hạ.
Chỉ sung sướng cho hành khách. Họ không đi ô-tô, không đi thuyền, không đi bộ, phải bỏ ra hơn năm xu, mà không được nghe chèo, nghe xẩm, xem xiếc, xem con công đệ tử bắt tà xiên lình ngay dưới tàu.
Gần đến ngày hội đền chính, có lẽ không lý gì lại chở khách cung phụng, hãng Phúc Lai Thành vẫn giữ giá vé năm xu, nhưng biếu thêm mỗi người một gói chè Sinh Thái, giá cũng đến một xu.
Thừa không chịu. Hắn không biếu khách bằng chè gói lẻ, mà cứ để nguyên cả gói nửa lạng lấy ở hiệu. Hắn biếu hai mươi người chung nhau một gói. Như vậy lợi cho khách là mỗi người được một gói to hơn gói của tàu hiệu. Mà họ còn hy vọng nếu trúng ảnh Lưu Bị, Quan Công hay Trương Phi, thì được thêm gói chè thưởng nữa.
Thừa còn khiêu khích tàu Phúc Lai Thành. Bao giờ hắn cũng cho chiếc Đại Pháp đi trước tàu hiệu mười phút, rồi khi chiếc tàu hiệu nhổ neo, thì chiếc Bắc Kỳ theo sát liền ngay sau. Thành thử chiếc đi giữa bị chèn. Thế là chiếc này dù to, máy khỏe, nhưng không thể vọt hẳn lên trước, hay lùi hẳn lại sau để lấy khách dọc đường được. Nó phải đi đúng luồng. Chệch luồng thì mắc cạn. Mà chiếc Đại Pháp thì nghênh ngang, lúc lái bên phải, lúc lái bên trái, cốt làm cho tàu hiệu không lách được lối mà nhoi lên.
Rồi gần tới bến, đến chỗ luồng rộng, chiếc Bắc Kỳ nhẹ nhàng vượt chiếc tàu hiệu. Thằng Giăng giục khách đứng ở mạn vỗ tay và reo để chế nhạo chiếc tàu cồng kềnh và vắng khách, làm cho những người làm tàu bên ấy tức và xấu hổ.
Thừa chờ hãng Phúc Lai Thành điều đình với hắn để lên giá như cũ. Nhưng thấy hãng Phúc Lai Thành găng, nên hắn sốt ruột, phải xuống Hải Phòng, điều đình với hãng Phúc Lai Thành vậy. Hắn nói xa xôi là ông chủ quay quắt, xử tệ với người vừa mua lại tàu của ông. Hắn giảng là chủ tàu phải đồng lòng nhau để làm lợi cho nhau, không nên làm hại nhau để lại cho khách họ chẳng ơn gì, mà còn cười mình.
Người Hoa thương giận về tiếng quay quắt, nên lắc đầu:
- Đã ganh nhau thì một còn một mất. Ông cậy ông là người An Nam thì tôi cậy tôi có tiền. Nếu cần, tôi phải đánh đắm tàu Bắc Kỳ của ông, cho nó mất trêu gan tàu của tôi đi!
Thừa vẫn kiên nhẫn:
- Còn vài hôm nữa thì đến ngày hội chính. Khách thập phương đến lễ đền mỗi ngày một nhiều. Nếu ông bằng lòng thì ta cùng lên giá hai hào như cũ. Chỉ thu vài ngày, cũng thừa cái thiệt hại trong từng ấy hôm.
Người Hoa thương cười:
- Thiệt hại, tôi không sợ. Tôi có thể chịu thiệt đến hôm nào tôi độc quyền chở khách. Tức là đến hôm ông không dám cho tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ ra đương đầu với tàu của tôi. Tôi xin nói trước là nếu ông không chịu cho tôi độc quyền, thì thế nào tôi cũng đâm cho một chiếc của ông phải đắm. Chiếc còn lại sẽ mất khách.
Thừa bực mình:
- Ông cứ làm!
Hôm sau, bỗng cả hai chiếc tàu của Thừa từ Kiếp Bạc về Hải Dương vắng hẳn khách đi. Thừa tìm lý do, hắn hỏi hành khách, thì họ nói:
- Bến tàu của ông, người ta ỉa bẩn lắm, cho nên không ai dám đến.
Thừa xuống bến để xem xét. Quả nhiên như thế thật. Hắn biết là thủ đoạn của hãng Phúc Lai Thành, thuê tiền cho người làng làm việc này đây.
Thừa bảo mạch-nô dọn cho sạch. Nhưng hôm sau, bến lại bẩn bằng hai.
Thừa cáu quá. Hắn cho thằng Pôn và thằng Giăng ở lại rình.
Ngay từ tinh sương hôm sau, hai đứa đã phải ra bến. Đã có đến mười người ngồi như bụt mọc ở đấy rồi.
- Các ông ơi! Bến của nhà tôi, các ông đừng làm bẩn, để hành khách có chỗ sạch sẽ mà lên xuống tàu nhé.
Nhưng họ mần thinh.
Người nào xong việc thì đứng dậy. Người nào chưa xong cứ việc làm nốt, như không nghe thấy gì.
Cả hai thằng đều tức.
Bọn người này về, bọn người mới lại đến.
- Xin các ông đi chỗ khác. Đây là bến của nhà tôi. Nam quốc Nam nhân. Các ông đừng hại chúng tôi thế.
- Mặc kệ, tôi không biết. Đất làng tôi, tôi có quyền tự do.
Hai thằng cùng tức. Chúng nó không ngọt nữa. Thấy một người sắp làm việc vệ sinh trái vệ sinh, thằng Pôn hùng hổ:
- Ra chỗ khác!
Người ấy cãi:
- Không ai có phép cấm!
Người ấy cứ tụt quần và ngồi rất tự nhiên.
Nhịn không được, hai thằng phải dùng đến võ lực. Chúng nó xúm lại sừng sộ với một người, khiến người này phải chạy. Nhưng muốn khỏi thẹn với lương tâm là lấy không tiền của người mà chẳng được việc cho người, anh ta rúc vào bụi cây, phạch vội một bãi vào tàu lá chuối khô, rồi ném ra chỗ cấm địa.
Thằng Pôn và thằng Giăng không làm thế nào ngăn ngừa nổi. Khắp mặt bến, nhan nhản những bãi to, bãi nhỏ. Bãi của người lành dạ còn khá nhã nhặn, đến bãi của người độc dạ thì eo ơi, nó nhơ bẩn còn toe toét ra một khoảng đất rộng. Mùi thối xông lên. Hai chú mại bản phải luôn luôn nhổ toèn toẹt.
- Thế này thì còn ai dám bước chân vào đây nữa!
Thằng Pôn lo lắng nói thế. Thằng Giăng đáp:
- Được, ta bàn với pa-pa.
Thừa nghe hai con kể lại việc. Hắn cau mặt, nghĩ một lát, rồi gật đầu:
- Được, pa-pa trị nổi.
Hắn đi Kiếp Bạc, xuống bến, rồi vào làng. Hắn gọi một vài người đứng tuổi đến, rồi nói:
- Tôi là chủ tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ. Ít lâu nay, tôi thấy người làng ta cứ ra bến của tôi để bậy. Hai con của tôi nói thế nào cũng không được. Thôi thì đất của làng, các ông cứ việc tự do, tôi chả dám cản. Tôi chỉ xin dọn thôi. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta là người cùng nước thì chúng ta nên thương nhau mà giúp nhau. Vậy tôi thuê các ông dọn cho tôi. Ai ỉa cứ việc ỉa, nhưng trước khi tàu đến và nhổ neo, tôi nhờ các ông giữ sạch cho hành khách của tôi đi. Người Nam giúp người Nam để cạnh tranh với người khách. Tôi có lợi, mà các ông cũng có lợi. Vậy ai bằng lòng giúp, tôi xin trả tiền ngay.
Vô số người đến nhận việc. Thừa lại nói:
- Nếu các ông giữ bến của tôi được sạch sẽ, thì tôi trả lương hẳn hoi.
Hắn thuê hẳn hai người làm việc dọn cứt.
Hôm sau, hai người này ra bến thật sớm. Họ không phải dọa dẫm, không phải đánh đập ai. Là người làng với nhau, thì họ bảo nhau dễ. Họ ngọt ngào, nhẹ nhàng với nhau thôi. Thế là chẳng một người nào nỡ vác đít ra đấy ỉa bậy, để người làng lại phải dọn.
Bến tàu của Thừa lại sạch sẽ như cũ.
Thấy cha lắm mưu trí, cả thằng Pôn lẫn thằng Giăng phục lăn.
Hãng Phúc Lai Thành thất bại lần nữa. Họ giở đến thói cạnh tranh thâm độc cuối cùng. Lúc gần tới Kiếp Bạc, đến chỗ luồng rộng, chiếc Bắc Kỳ len lên trước, thì lập tức chiếc tàu hiệu xoay ngang ra chắn. Sợ đụng vào thành tàu hiệu, Bắc Kỳ vội vàng hãm máy, và cũng xoay mũi cho trẹo sang bên phải. Bị rùng rình bất thình lình, hành khách nôn nao, chạy ồ cả ra mạn để xem. Chiếc tàu nghiêng lệch đi.
Thừa hét to:
- Mời hành khách bình tĩnh. Không có việc gì cả.
Nhưng người ba-toong tàu hiệu bỏ bánh lái, ra chỗ mạn, trỏ vào mặt người ba-toong Bắc Kỳ:
- Có thách ông đâm đắm không?
Người ba-toong Bắc Kỳ tức nôn ruột, cũng bỏ bánh lái, ra cãi nhau với đối phương.
Thành thử hai chiếc tàu vẫn chạy nhưng không ai bẻ lái. Cả hành khách của hai chiếc tàu đều níu người ba-toong của tàu mình lại để can:
- Thôi. Xin các ông. Thiệt của ông chủ các ông đã đành, nhưng thiệt mạng chúng tôi.
Người ba-toong Bắc Kỳ vào buồng lái. Anh ta nhằm thẳng vào thành tàu hiệu, rồi giật chuông, bảo tài xế mở hết tốc lực.
Thấy tình thế nguy ngập, người ba-toong tàu hiệu vội vàng giữ tay lái, vặn cho tàu mình né đi.
Hai người đỏ mặt tía tai, vẫn trỏ vào nhau để chửi nhau.
Thằng Giăng cầm chiếc gậy sắt, đứng ở mũi tàu, giơ lên, dọa mại bản tàu hiệu:
- Tiên sư mày, ông mà không nghĩ đến tính mạng đồng bào ông, thì thử xem, cái nào đắm trước!
Hành khách qua cơn hú vía, từ hôm sau, họ bảo nhau không đi tàu thủy nữa.
Bốn chiếc tàu lềnh bềnh đi về, mỗi chiếc lơ thơ độ ba chục người.
Thừa bị cạnh tranh, đau như hoạn.
Đền Kiếp Bạc giã hội. Ngày hai mươi mốt âm lịch, qua trận mưa gọi là mưa rửa cửa đền, Thừa cũng cho rửa lại tàu rồi tính sổ.
Hắn thở dài.
Lãi hội đền năm trước chưa bù được cái lỗ hội đền năm nay! Hắn bảo thằng Pôn và thằng Giăng:
- Đấy, chúng mày xem, kiếm nổi được đồng tiền của thiên hạ, đã chật vật chưa!
Nhưng thằng Pôn và thằng Giăng không cần thấy lỗ lãi.
Chúng nó chỉ thấy là trong hai mươi ngày ròng, chúng nó đã làm việc gấp đôi, thì chúng nó phải đòi lương gấp đôi. Chúng nó đòi lương cho chúng nó, chúng nó lại đòi lương cho cả nhân viên làm ở hai tàu.
Lần này, Thừa không ngọt ngào với chúng nó nữa:
- Chúng mày định dùng số đông để bắt ép tao nhượng bộ phỏng?
Thằng Pôn vênh cái mặt bướng bỉnh để cãi:
- Không phải là cái chuyện bắt ép. Chỉ là công bằng mà thôi. Xin pa-pa xét cho rằng tuổi chúng con là tuổi vui vẻ, trẻ trung, chúng con đã phải nghe lời pa-pa, buộc mình vào công việc từng ấy tháng trời. Chúng con hy sinh đoạn đời thanh niên của chúng con, thế là chúng con thiệt quá lắm rồi.
Thừa đập bàn:
- Thanh niên thì ăn chơi, phá của phỏng? Thằng Pôn đáp:
- Thôi, chúng con nói, thì pa-pa cho là cãi, rồi chửi là bất hiếu. Con chỉ nói ngắn một câu là nếu chúng con làm việc thêm giờ, mà không được bồi thường xứng đáng, thì chúng con xin pa-pa cho chúng con nghỉ đúng hai mươi ngày để chúng con được lại sức.
Thừa cười gằn:
- Chúng mày dọa đình công! Chúng mày phải biết ở đây có sở Mật thám. Không lẽ bố con với nhau, mà tao nỡ tố giác tội của chúng mày với ông chánh cẩm Két-x-moa, hay với cụ Sứ.
Nói đoạn, Thừa đứng dậy, mở cặp, lấy ra cuộn giấy bạc, đếm bốn mươi đồng, rồi ghi vào sổ lương:
- Tao lấy tình bố con mà xử với chúng mày, thì tao cho. Nếu tao lấy cái lý ông chủ với người làm công, thì tao bỏ tù chúng mày rồi. Đây, ký nhận đi.
Đưa tiền cho hai con, Thừa giao hẹn:
- Tao cấm chúng mày không được nói hở với chúng nó là tao nhượng bộ. Chúng nó muốn yêu sách gì, thì bảo vào đây, tao sẽ đối phó.
Rồi Thừa lắc đầu:
- Từ đứa lớn đến đứa bé, hư hỏng hết! Tao mất trông cậy.
Thừa muốn nhắc đến tội ba đứa con gái.
Phải, một dạo con Rô-da-lin có xuống Hải Dương làm thư ký cho hãng.
Nhưng nó không ở được trọn một tháng, thì bỏ việc lại về Hà Nội.
Nó bảo:
- Tưởng Hải Dương thế nào!
Nó tưởng Hải Dương cũng hoa lệ như Hà thành, có lắm công tử lượn qua nhà, để ngắm nghía, hoặc trêu ghẹo nó.
Nhưng hãng tàu Trần Đức Thừa ở bờ sông, suốt ngày chỉ rầm rập những người làm ăn, lam lũ. Có ra đến phố chính, vào sáng chủ nhật, thì họa hoằn nó mới trông thấy một người đáng nhìn.
Nó giục thằng Pôn, thằng Giăng, chiều chiều dắt nó đi chơi phố, hoặc đến sân quần vợt. Vì ở đó có nhiều công chức trẻ. Nhưng hai thằng anh có chỗ chơi riêng của chúng nó. Cho nên con Rô-da-lin không chịu được nỗi hiu quạnh trong tâm hồn. Nó nói với Ma-ri:
- Con không ở đây nữa. Mặc pa-pa với ma-măng! Con là phận gái, bé thì cha mẹ phải nuôi, lớn thì chồng phải nuôi, già thì con phải nuôi. Không cần làm việc gì cả.
Thế là nó xách va-ly về Hà Nội.
Hồi đầu, Thừa định dần dần đưa cả con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít lẫn con Ca-mê-li-a về Hải Dương, để Ma-ri trông nom. Thừa biết là chúng nó không thể tự do một mình ở chốn phồn hoa, có lắm cái khêu gợi cho dễ hư đốn.
Vì không thực hiện được kế hoạch như ý muốn, Thừa phải bảo Ma-ri về Hà Nội ở luôn với con gái, chỉ chiều thứ bảy hãy xuống Hải Dương, thay công việc mại bản cho con trai nghỉ việc ngày chủ nhật.
Một chốn đôi nơi, mà sự thực là ba nơi, vì còn Xuy-dan sắp đẻ nữa, Thừa thấy lúc nào cũng phải phân tâm, và lo lắng vì ăn tiêu ngày một tốn kém.
Bọn con gái ở Hà Nội được kéo cái đời vô công rồi nghề. Vì nhà rộng, mỗi đứa ở một buồng, để tiện tiếp bạn riêng. Cả con Ca-mê-li-a, bé loắt choắt như con chuột nhắt, cũng cố nuôi tóc cho dài, để chải cho mượt, được khen là suối tóc. Nó cũng đánh phấn, bôi son. Nó học được giọng nói của mẹ, bắt chước được điệu bộ của hai chị. Nó cũng có khối bạn trai.
Buồng của con Rô-da-lin và của con Ma-gơ-rít như cái trạm nằm chờ. Chờ chồng. Ở đầu giường, cuốn Đời mưa gió, tập báo Loa, báo Phong hóa, Tiểu thuyết thứ ba, để ngổn ngang. Trên mặt bàn, là một cuốn tập ảnh chúng nó chụp. Cạnh sách ảnh, có quyển vở, bìa dày, màu đá hoa, bọc giấy bóng kính, trong là giấy lụa đỏ. Vở này, chúng nó chép những bài thơ mà chúng nó thích, nên có tên viết ở bìa. Vở của con Rô-da-lin đề là Tâm sự em bằng chữ đỏ. Vở của con Ma-gơ-rít thì vẽ một trái tim, có hai chữ kẻ mờ là E và chữ M.
Ngay trang đầu vở Tâm sự em, con Rô-da-lin chép một bài, không biết nó lấy ở đâu, y như một bản tuyên ngôn cho lý tưởng của nó:
XÂY ĐẮP TƯƠNG LAI
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng môi son.
Nhất là được cậu huyện non,
Nhì cậu tham đốc, ba con nhà giàu.
Một ô-tô, dãy nhà lầu,
Sẵn tiền, mợ sẵn kẻ hầu, người sai.
Tài xế đưa mợ đi chơi,
Cơm thì thằng bếp là người chuyên môn.
Từ gạch hoa đến lọ, đôn,
Từ bàn mộc, đến án sơn, đồ đồng,
Thì thằng Nhỏ phải làm xong,
Đánh, chùi cho bóng là công một ngày.
Còn việc vặt mợ bảo đây,
Đưa ống nhổ, cất khăn tay, quạt hầu.
Lấy tăm, rót nước, gội đầu,
Gãi lưng, rửa cẳng, vá, khâu, giặt, là,
Lại thêm những việc ngoài nhà,
Thuê truyện, mua quà: bổn phận con sen.
Mạ là bà chủ, người trên,
Có sai kẻ dưới, trả tiền mới công,
Lấy chồng mà đáng tấm chồng.
Bõ khi trang điểm, má hồng, môi son,
Nào chàng tham, đốc, huyện non!
Nào con ông chủ! Đưa đơn! Em chờ.
Còn tuồng phán, ký, giáo sư,
Xin đừng bén mảng mà dơ dạng hình!
Trăm năm chồng vợ là tình,
Nghìn năm vàng bạc mới thành tơ duyên.
Như vậy, con bé đỡ phải giãi bày ý kiến. Cậu nào có đúng tiêu chuẩn trong bài thơ, thì có tâm sự em.
Biết lũ con gái là hư, nhưng Thừa không bỏ phí chúng nó. Thừa cắt chúng nó vào việc đúng với sở trường của chúng nó là ngoại giao với sở Lục lộ. Sở này có quyền hạn và nhiệm vụ khám xét các phương tiện giao thông vận tải chạy bằng máy móc. Và chỉ có sở ở Hà Nội với Hải Phòng làm việc này. Thừa thấy rằng tàu của hắn đỗ ở Hải Dương, mà phải bỏ khách để chờ được kiểm soát thì thiệt hại. Hắn đặt giải cho hai con gái, đứa nào đưa được người kiểm soát về Hải Dương để người ấy khám xét, thì được trọng thưởng. Việc này, con Ma-gơ-rít đã thành công. Người Pháp trẻ, nhận là bạn thân của nó, đến Hải Dương, lần nào cũng vậy, không dòm ngó gì đến tàu thủy thế nào, mà chỉ uống rượu, nếm hoa quả, ăn tiệc. Người ấy coi Thừa như cha, vì cũng gọi Thừa là pa-pa.