Đống Rác Cũ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§10. Nỗi Lòng
X Nỗi Lòng

❊ ❊ ❊

- Em ạ, chị chỉ ân hận một nỗi là trước kia, chị tưởng người ta có vợ rồi, nên mới theo em đến đấy để in giấy cổ động tẩy chay. Chứ nếu biết thế này, thì chị chả đến. Bây giờ người ta hỏi chị, chị sợ miệng thế gian bình phẩm chị đã thế nào với người ta rồi chăng.

Cậu Nghĩa đặt bút xuống bàn, thủng thỉnh đáp:

- Thế thì chị cứ nói toạc ra là chị bằng lòng đám nào có được không?

Cậu Nghĩa nói thế, là bởi vì trong tháng này, cô Lễ có những hai đám nhờ người đến đánh tiếng xin cô. Một đám là anh Thừa, nhờ bà huyện Dần ở Gia Lộc về nói với hai cụ Tú. Một đám là cậu Nhân, học trường Cao đẳng Lục lộ, cháu họ bà Cả Hàng Đường. Cô Lễ chưa biết mặt cậu Nhân, nhưng do bà Cả làm mối, nên cô biết cậu ta góa vợ, chưa có con, nết na, đứng đắn, năm nay thì ra làm tham biện. Cô hay đến thăm ông bà Cả, chắc cậu Nhân gặp ở đấy. Nhưng cô thì không biết mặt cậu, vì bao giờ thấy trai lạ, cô cũng trông thẳng. Còn anh Thừa thì cô rõ quá rồi. Chẳng phải hỏi dò ai, ngay từ trước, chả cứ ý mặt mũi, cả đến tâm tình, quá khứ và hiện tại, cô cũng biết hết.

Cho nên không cần suy nghĩ lâu la, trong bụng cô, cô đã chấm ai rồi. Vì vậy, thấy cậu Nghĩa nói thế, cô chỉ cười:

- Em nghĩ hộ chị.

Cậu Nghĩa tủm tỉm:

- Em có lấy chồng đâu mà em nghĩ.

Cô Lễ mặt đỏ bừng, ôm đầu, vừa rúc rích cười, vừa chạy vào nhà trong.

Cụ tú Phúc Lâm bà thì ngả về phía cậu Nhân. Có thể là do bà Cả Hàng Đường nói vào cho cháu bà cũng có, nhưng không phải là cụ không suy nghĩ. Vì cái trách nhiệm làm cha mẹ đối với việc trăm năm của con là to. Hạnh phúc một đời của cô Lễ là do hai cụ quyết định. Cụ không kể cậu Nhân tuy góa vợ, nhưng chưa có con thì vẫn là con trai thôi; cụ không kể cậu Nhân nay mai đỗ ra, là ông tham; cụ chỉ yên tâm về cái cô được làm dâu ông bà hai Hiền, là chỗ nhà nho. Ông bà hai phúc hậu, biết quý người, cho nên đẻ ra cậu Nhân cũng nết na, đứng đắn. Cô Lễ sẽ là cháu hai bề của bà Cả, mà bà Cả đứng mối, thì chắc cô được bà dạy dỗ, bảo ban cho những điều không nên không phải, để giữ tình thân cho cả ba gia đình.

Cụ nghĩ về anh Thừa. Tuy cũng là con nhà có chí khí học hành giỏi, ăn ở có thủy có chung, chẳng kém gì cậu Nhân, nhưng dù sao thì gia đình anh cũng là gia đình xa lạ. Vả lại, bây giờ anh bỏ nghề làm thuốc, ra làm báo, là cụ không thích. Cụ nói với cụ ông:

- Thế là anh này đương có nghề đứng đắn hẳn hoi lại đi làm cái việc lông bông, gần như vô nghề nghiệp. Xưa nay, các cụ vẫn coi làm văn thơ là việc phù phiếm. Các cụ bận về chức vụ, có lúc nào nhàn rỗi mới làm văn làm thơ để tiêu khiển. Bây giờ gọi làm văn làm thơ để đăng báo là nghề kiếm ăn, thì tôi không chịu, ông chả thấy anh Sinh làm báo là gì. Anh ta làm ở Đông Dương tạp chí đâu có mấy tháng, lúc tìm được việc chắc chắn hơn, thì anh ta thôi làm báo ngay. Cho nên, làm báo là một việc tạm bợ, để chờ đợi một chân khác. Mà kể ra, làm báo cũng bấp bênh thật, báo còn thì nghề còn, báo đình bản thì nghề mất. Bảo làm báo là nghề thì khó nghe thật. Tôi không biết làm chủ bút báo thì giỏi thơ, giỏi văn thế nào, chứ mà tôi suy anh Sinh ra thì biết là chỉ bẻm mép, chế bác chẳng từ ai. Thấy nhà ai có việc gì, là vào nhật trình ngay, để nói xấu. Ông Vĩnh chả bị bát Soạn cho một trận ở Hàng Bông là gì. Mà ai danh giá hơn ông Quỳnh, bây giờ cũng bị đánh xuống rồi. Cho nên, tôi lạ cho cái anh này có đức hạnh mà sao lại đi làm cái nghề lăng nhăng khởm này[1].

Một lát, cụ nói thêm:

- Mà quái, là con nhà tử tế, nhưng tôi trông mặt mũi, nhất là cái mồm đầy răng vàng, cứ như thằng kép hát tuồng hay như thằng sốp-phơ ấy.

Cụ Tú ông ngồi lặng. Cụ vừa nghe, vừa mở từng trang báo Chấn Hưng ra để nhìn. Chắc cụ có suy nghĩ. Một lát, cụ đứng dậy, vào trong buồng thờ, lấy ra cuộn tử vi, xem lại lá số của cô Lễ. Cụ tính, cụ bấm, rồi cụ thở dài, không nói gì.

Trong khi ấy, cô Lễ từ nhà trong ra nhà ngoài, lại đi từ nhà ngoài vào nhà trong. Cô biết giờ phút này là giờ phút quyết định hạnh phúc cho đời cô. Cho nên, cô nghe ngóng, nhìn sắc mặt của cha mẹ, để đoán ý.

Nhưng đến khi hai cụ không nói chuyện với nhau nữa, và tối hôm ấy cụ bà không bảo gì cô, thì cô chỉ thở dài. Có hai con đường trước mặt cô, cô nhìn rõ rồi. Nhưng không biết được đi trên con đường này, hay đi trên con đường kia. Đi trên con đường này thì thế nào? Đi trên con đường kia thì thế nào? Thân gái như hạt mưa sa. Đời người con là của cha mẹ. Thôi thì tùy cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.

Một hôm, cậu Nghĩa học xong, mới gấp sách vở lại, đến ngồi gần cô Lễ, nói nhỏ:

- Chị ạ. em đã đi hỏi rồi. Cái anh Thừa này không tốt đâu.

Cô Lễ tái mét mặt.

- Hình như anh ta lấy nhiều vợ rồi, nhưng lại bỏ, chứ không phải chưa có vợ đâu.

Cô Lễ cuống queo, hai tay quờ quờ xuống chiếu.

- Mà cũng không rõ anh ta làm thuốc thế nào.

Cô Lễ khẽ đáp:

- Thầy với chị đã uống thuốc của Phòng thuốc nhà giàu đấy.

Ý cô muốn nói thuốc hay, nhưng cô sợ lộ cái ý là bênh anh Thừa. Cậu Nghĩa nói:

- Anh ta không phải người tốt, hay đi lừa. Không khéo cũng định lừa nhà ta đấy.

- Thế sao ngày độ tẩy chay, học trò lại hay lui tới nhà anh ta, và khen là tốt.

Cậu Nghĩa thấy chị bẻ lại thì im, một lát mới nói:

- Tốt là tốt với tẩy chay thôi. Còn cái tư cách, có lẽ là không tốt.

- Sao lại có lẽ. Phải biết chắc chắn để nói chắc chắn, kẻo oan người ta.

- Có oan cũng oan vừa, chứ không oan hẳn. Cái chuyện ông cụ Điều nào đó nói về cô con gái ở Móng Cái với anh ta, là chuyện bịa đặt đấy.

- Nhưng thầy quý cụ Điều, thầy vẫn khen là đứng đắn kia mà.

- Thầy ít đi ra ngoài, nên có thể là thầy xét người không đúng. Thầy bảo cụ ấy là bạn ông Tú Xương thì là chỗ thanh khí. Nhưng có bao giờ cụ ấy nói đến thơ ông Tú Xương đâu. Câu chuyện anh ta với cô con gái Móng Cái, rồi sau em nghe hệt như chuyện ông Đặng Trần Thường ngày xưa, lúc ông ta vào Phú Xuân theo ông Nguyễn Ánh để phản lại nhà Tây Sơn ở Bắc Hà. Ông ta cũng gặp người con gái giúp tiền như thế. Rồi đến khi ông Gia Long lên làm vua, ông Đặng Trần Thường ra Bắc Hà tìm ân nhân cũ để lấy làm vợ, thì người ấy đã chết. Từ đó, ông ta lấy ai cũng nhận là thứ, là thiếp mà thôi.

Cô Lễ thở dài. Cậu Nghĩa tiếp:

- Mấy lị em nhận thấy thế này. Bà cử Dần chẳng tử tế gì với nhà ta đâu. Trước kia, bà ấy xin chị làm lẽ bà ấy, dỗ dành mãi, nhưng chị không bằng lòng. Thì tất nhiên, bà ấy không yêu gì chị. Bây giờ bà ấy lại đến, hẳn chả phải định đem hạnh phúc cho nhà ta. Có khi bà ấy rước tai họa đến để rửa nhục rửa thù cũng nên. Em nghe nói hình như về tích cái nhà mua bán thế nào ấy, cái anh Thừa này bị bà ta lừa, nên bây giờ phải đền anh ta bằng việc giúp anh ta hỏi chị.

- Bà ta là bà quan mà?

- Là bà nào mà chả biết lừa. Càng là bà quan lại càng lừa khỏe, chị ạ.

Thấy mỗi câu đưa ra, cậu Nghĩa lại chống được ngay, cô Lễ luôn luôn thở dài. Cậu Nghĩa lại nói:

- Về việc chị, em nghĩ thế này. Nhà ta là nhà nho. Ngày trước, thầy có can dự việc Đông Kinh nghĩa thục, nhưng vì không đủ chứng cớ, cho nên nhà nước không làm án được. Chị em mình lớn lên, cũng là người biết nghĩ. Vì từ việc Đông Kinh nghĩa thục, việc ông Đề Thám bị giết, việc ném bom hai thằng quan binh Mông-grăng và Sa-puy ở Hà Nội ô-ten và lão tuần Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình, việc nhà nước bắt lính, bắt mua quốc trái gửi sang Tây, cho đến những năm gần đây, việc vua Duy Tân ở Huế, việc ông ba Lương Hoài Quyến[2] khởi lên ở Thái Nguyên, việc vua Khải Định ngự giá Bắc tuần, việc tẩy chay, thầy đều nhân lúc rỗi, giảng cho ta hiểu. Tuy thầy nói ít, nhưng ý thì nhiều. Thế là thầy muốn dạy dỗ cho chị em ta phải yêu nhà, yêu nước. Việc mà thầy đẻ kén chọn kỹ cho chị, chắc cũng là do muốn có chàng rể cho xứng đáng. Vì vậy, em nhắc lại việc cũ, chị đừng buồn nhé, anh Côn chết đi, là thầy tiếc lắm. Cho nên, nếu bây giờ chị lấy phải người chồng không ra gì, thì phí cả công thầy đi.

Cô Lễ nói:

- Nghe đâu anh này cũng là con nhà có đầu óc mà?

- Tin thế nào được cái lời người gán việc ông Đặng Trần Thường cho anh ta? Không khéo rồi anh ta cũng như ông Đặng Trần Thường…

Cô Lễ nhìn cậu Nghĩa để đợi một câu khen là chung tình, nhưng cậu Nghĩa tiếp:

- … Nghĩa là lừa thầy, phản bạn, đi giúp cái kẻ cõng rắn cắn gà nhà, làm cho nước mình phải lầm than nô lệ.

Cô Lễ lại thở dài, hỏi:

- Thế theo ý em thì chị nên thế nào?

- Về anh Nhân, em không biết, cho nên em không có ý kiến, nhưng về cái anh Thừa này, thì hễ bà huyện Gia Lộc có đến, chị cứ làm như độ trước, là tránh mặt đi. Em nghe phong thanh hình như đẻ mặn anh Nhân đấy. Thế ý chị về anh Nhân thế nào?

Cô Lễ yên một lát, rồi nói:

- Về việc của chị, chị cứ tùy thầy đẻ thôi. Nhưng chị chỉ nghĩ rằng bây giờ chị đã lớn, chị biết lo thân chị, thì ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên.

Cậu Nghĩa không hiểu ép duyên là ép cô lấy ai. Cậu không rõ tâm sự của cô bây giờ, để hiểu thế nào là ép. Ép, vừa là ép cô lấy cậu Nhân, vì phải bỏ anh Thừa, vừa là ép cô phải bỏ anh Thừa, để cô lấy cậu Nhân.

Đêm hôm ấy, cô trằn trọc, không sao ngủ được. Không dám để mẹ biết nỗi lòng, nên cô trở dậy, ra sân đứng thở dài, rồi khóc.

Con đường nhân duyên của cô Lễ mỗi ngày một rõ dần trước mắt cô. Bên gia đình cậu Nhân đã đi cơi trầu rấm ngõ. Và bà Cả Hàng Đường đã đến bàn với hai cụ Tú về ngày làm lễ vấn danh.

Thấy vậy, bà huyện Dần coi như hết nhiệm vụ. Bà về Gia Lộc để kèm chồng làm việc quan.

Thế là cô Lễ tuyệt vọng. Gặp anh Thừa ở chỗ anh hẹn, lần nào cô cũng chỉ khóc. Song, vì không dám đứng lâu với anh, chưa lần nào cô thổ lộ được hết nỗi lòng cho anh hiểu, để cô được hả hê. Rồi cô ốm.

Cô ốm thì ngày hẹn với anh Thừa bị lỗi. Cho nên cô càng buồn. Cô thương anh đã chờ đợi mỏi mắt. Và không những chờ đợi một lần ấy, con người si tình và chung tình này hẳn còn đón cô nhiều lần khác nữa. Chắc rằng anh buồn, và không khóc kém cô. Bởi vì cô biết anh là người rất đa cảm. Bây giờ nhật đường nhau rồi! Đứt mối dây liên lạc với nhau rồi! Rồi đây, làm thế nào để ly biệt nhau, tạ tấm lòng của người tri kỷ?

“Héo gan nát ruột vì ai.

Ai ơi có tưởng đến người vô duyên!”

Nghĩ đến câu ấy, cô thở dài não nuột.

Hai cụ Tú thấy cô Lễ ốm, thì khuyên cô uống thuốc.

Nhưng cô từ chối, vì tự xét mình chẳng có bệnh gì.

Hai cụ không hiểu sao, nên càng lo.

Một hôm, nằm trong chăn, cô mở mắt ra nhìn. Cô thấy ở sân, hai cụ và vợ chồng cậu Nghĩa lom khom quanh cái hỏa lò đặt cháo cho cô ăn. Bỗng cô nghĩ ngợi, cô nghĩ đến gia đình cô, rồi nghĩ đến tâm sự thầm kín của cô bấy nay. Cô đâm ra hối hận. Thì ra cô đã lầm lỗi. Có không có phép tự ý yêu một người đàn ông, dù người ấy tốt, nhưng cả gia đình không ai bằng lòng. Kết quả bây giờ là cô sầu khổ, gây lo lắng cho cha mẹ và hai em. Vậy cô phải cam chịu số mệnh, vui lòng mà tuân theo sự xếp đặt của hai cụ. Cô phải đặt chữ hiếu với cha mẹ lên trên tình riêng của cô. Hiện nay, cô còn vấn vương nên ốm. Nhưng tháng ngày qua, nỗi khổ tâm sẽ nhạt dần. Cô sẽ lại như thường, để đón chờ ngày cưới. Rồi vui duyên mới, cô sẽ quên tình xưa. Khi ấy, gặp người ấy ở đường, tất là cô quay mặt đi, hoặc nhìn thẳng. Cô coi người ấy như người dưng nước lã.

Hơn nữa, cô coi người ấy là một cái gì cần xua đuổi ngay, cho khỏi khuấy đục lòng cô đương yêu chồng.

Cô Lễ biết trước từng bước trên đường đời mà cô sẽ đi là như vậy. Dù không phải con người bạc bẽo, nhưng bắt buộc cô phải nghĩ như thế, và làm như thế. Bởi vì không ai có chồng rồi lại có thể làm khác, trừ phi là con người lẳng lơ. Cô không thể tha thứ những con người bất chính.

Vì không nên cưỡng số mệnh, cô Lễ muốn ngay từ bây giờ, ép mình theo số mệnh.

Cô phải dứt khoát với hiện tại. Hiện tại là lúc nào cô cũng còn luyến tiếc anh Thừa, một người có học thức, có đạo đức, nhiều lần đã nói ra miệng là phó thác đời mình vào hai tay cô. Cô muốn quên hẳn con người đáng thương, đáng yêu, đáng quý này. Cô muốn lánh đi một nơi, có cảnh khác, người khác, để câu chuyện khác không nhắc nhở, khêu gợi trong lòng cô nỗi buồn ngấm ngầm.

Cô xin hai cụ cho cô về quê ngoại, ở với cậu mợ là ông bà nhì Tòng. Cô nói là để tránh nơi huyên náo làm cho cô nhức đầu. Sự thực, cái nó làm cho đầu cô nhức nhói, là cái hy vọng có hoàn cảnh để hẹn hò với anh Thừa, vì cô còn ở Hà Nội này. Không hẹn hò, thì nóng lòng sốt ruột, không đứng yên, ngồi yên. Mà hẹn hò thì gặp, tình sẽ càng nặng, nghĩa sẽ càng sâu, mối tuyệt vọng sẽ càng lớn. Chứ bao giờ lại dứt khoát được. Cô là vợ cậu Nhân kia mà. Không ở Hà Nội cô còn tránh được cái ảnh hưởng về tinh thần của anh Thừa đối với cô. Tờ Chấn Hưng ngày nào cũng tới nhà, thì ba chữ Trần Đức Thừa in trên mặt báo ngày nào cũng bắt cô nhìn, như thấy mặt anh. Rồi những bài cổ động tự do kết hôn, làm cho cô buồn tủi, khi nghĩ đến quyền làm người của cô. Đến những thơ, những đoản thiên tiểu thuyết, có lẽ của anh Thừa làm, nhưng ký biệt hiệu khác, nó nói cái nỗi lòng của đôi lứa yêu nhau, sao mà giống hệt tâm sự của cô thế!

Cho nên cô phải lánh hẳn đi một nơi xa, ở tận gần chùa Hương, thì tu chẳng đi tu, nhưng cũng như thoát tục.

Cụ Tú thấy cô Lễ ốm mà muốn thay đổi chỗ ở, thì cụ bằng lòng ngay. Trước khi cô ra xe điện đi Hà Đông, cụ ông chỉ dặn một câu:

- Con nhớ nói với cậu mợ cho các em đưa đi thăm mộ ông bà ngoại.

Và cụ bà dặn thêm:

- Còn đến hôm về, nếu gặp ngày phiên chợ, thì con mua cho đẻ một chục chiếc bánh rán của nhà cụ Táo. Bánh rán nhà nó thì Hà Nội cũng phải thua.

* * *

Cô Lễ ở với cậu mợ. Cô vui thích lắm. Cái gì ở nhà này, cũng khác. Ở nhà cô, cậu Nghĩa và mợ Nghĩa ít nói, thì ở đây, ba em liến láu suốt ngày. Cô em gái tên là Trinh, mười lăm tuổi, động ngồi trên khung cửi là hát. Hai cậu em trai, Tiết và Tháo, không lúc nào để yên chân, yên tay, yên miệng. Cậu Nghĩa học chữ Tây ở trường Pháp Việt, thì Tiết và Tháo học chữ nho và chữ quốc ngữ ở nhà, ông nhì dạy. Ông nói:

- Làng này như thượng du của tỉnh Hà Đông, nên cả Mỹ Đức có mỗi một trường trên phủ.

Rồi ông cười:

- Đuốc văn minh của nhà nước bao giờ soi sáng được khắp nơi!

Cô dạy Trinh thêu bằng chỉ màu, và tỉa hoa thược dược bằng quả đu đủ. Bà nhì đứng xem, thấy con gái vụng về và có vẻ sốt ruột, thì bà bảo:

- Mấy khi chị về mà dạy cho. Con cứ chịu khó học đi.

Chiều chiều, ăn cơm xong, cô hay rủ Tiết và Tháo đi tha thẩn trên đê, nhìn cánh đồng bát ngát, nhìn dòng sông lững lờ, nhìn rặng núi lô nhô. Nhà quê sáng hơn, thoáng mát hơn Hà Nội. Được ngắm phong cảnh rộng rãi, xanh tươi, đẹp đẽ, tự nhiên cô thấy trong người nhẹ nhõm. Đến tối, cô thích bắc ghế, ngồi ở sân với các em, để hưởng ánh trăng xanh, mà Hà Nội không có. Lúc này, thấy Tiết và Tháo chạy nhảy khắp sân, cô cũng hay giỡn với hai con chim sơn ca đáng yêu ấy.

Một lần, không biết cậu nào để quên ở mặt tường hoa quyển Cách trí Trần Văn Khánh. Cô Lễ toan giấu đi, nhưng Tiết trông thấy:

- Của em, của em, chị cho em xin.

Cô Lễ đùa:

- Của chị chứ?

- Không, của em!

- Thế sao em lại để ở đây?

Nói đoạn, cô trả Tiết. Tiết cầm sách đi ba bước, rồi quay lại, cười sằng sặc:

- À phải. Chị Lễ nhận vơ là vợ nhân.

Thấy em tinh quái, đã bắt đầu nghĩ ra được tiếng để chế chị, cô bật buồn cười, đuổi theo Tiết. Thì cả Tiết lẫn Tháo cùng xô vào cô:

- Nhận vơ là vợ Nhân! Vợ anh Nhân!

Cô xấu hổ, lại đuổi theo hai em, rồi bắt được Tháo. Cô bảo:

- Bận sau, em không được nói tiếng ấy nữa nhé. Tháo vừa cười vừa đáp:

- Vâng.

Cô buông Tháo ra, thì Tháo vừa chạy, vừa quay lại:

- Chị Lễ nhận vơ, vợ Nhân.

Bà nhì nghe tiếng, cấm hai con không được hỗn với chị. Tiết và Tháo không dám chế cô nữa.

Nhưng tối hôm ấy, cô không khỏi không thao thức. Cái tiếng Nhân nhắc nhở đến tiếng Thừa. Cô man mác buồn.

Một hôm khác, tan học, Tiết và Tháo khoe với cô những tiếng mới học. Tiết nói:

- Em đố chị nhé. Tính cộng chữ nho gọi là gì nào?

Cô cười:

- Gọi là cộng chứ là gì?

- Không phải. Gọi là gia.

- Thế thì chị chịu em.

- Tính trừ gọi là gì nào?

Tháo nhắc khẽ cô:

- Giảm.

Cô nói:

- Giảm.

Nhưng Tiết xua tay:

- Không chơi nhắc. Chị biết được tiếng này mới tài. Tính nhân là gì?

- Chị chịu.

Tháo nói ngay:

- Nhân là Thừa.

Rồi hai anh em liến thoắng:

- Nhân là thừa, nhân là thừa. Nhận vơ là vợ nhân, vợ nhân là vợ thừa.

Nói đoạn, hai cậu cùng chạy rồi quay lại:

- Chị không là vợ nhân thì là vợ thừa. Vợ thừa! Vợ thừa!

Cô Lễ vừa cười, vừa đuổi theo. Nhưng hai em đã biến ra ngõ:

- Vợ thừa! Vợ thừa! Vợ anh Thừa!

Biết là hai em vô tình mà trêu cô, cô vừa ngượng, vừa thích. Thích và ngượng lẫn lộn. Chứ không xấu hổ khi nghe tiếng vợ nhân.

Nhưng đêm ấy, cô thao thức nhiều hơn đêm trước. Cô không buồn man mác, nhưng buồn đến đau khổ.

Từ hôm sau, cô hay ngồi bần thần một mình.

Tự nhiên, nghe đến tên người cũ, cô lại nhớ cảnh cũ. Nhớ người Hà Nội, cô nhớ cái cảnh Hà Nội. Cô nhớ đường đá, nhớ xe điện, nhớ dãy phố thẳng những nhà gạch mở cửa hàng đến tận khuya, người đi đường huyên náo dưới ánh đèn điện.

Ở đây, thì núi yên, sông lặng, cánh đồng hờ hững. Hết tuần trăng sáng bàng bạc, thì từ chặp tối, đã mịt mù như bưng mắt. Buổi chiều, cô cũng tha thẩn trên bờ đê, mong rằng phong cảnh làm cho cô khuây khỏa chăng. Nhưng trái lại, cô vẩn vơ nghĩ. Cô nhìn con sông. Không biết dòng nước này chạy đi tìm ai, có đổ vào Nhị Hà để chảy qua Hà Nội không? Cô nhìn làn mây. Không biết mây này có bay qua Hà Nội không? Mây ở trên cao, có thấy hiện giờ cô và người ở Hà Nội đương làm gì không? Cô nhìn rặng núi. Mọi ngày ở Hà Nội, cô có thấy xa xa một rặng núi, vậy có phải là núi chùa Hương này không? Núi ngồi đợi ai mà yên lặng thế? Cô nhìn cánh đồng. Lúa có gì vui mà nhảy nhót thế kia? Thóc của đồng này có bán ra Hà Nội không? Và hạt gạo ở đây, rồi được nhà nào mua? Bây giờ, cô nhìn nước, nhìn mây, nhìn núi, nhìn lúa, mà nhớ Hà Nội. Không biết người Hà Nội hiện giờ này, có ai nghĩ đến cô không? Chắc chắn là cha mẹ cô, em trai và em dâu cô nghĩ đến cô. Và có lẽ, một đôi khi, cậu Nhân cũng tìm hỏi tin tức cô. Nhưng ngần ấy người chưa đủ. Phải còn một người nữa kia. Người nữa kia! Còn nhớ nhau hay quên nhau rồi?

Xung quanh cô, bấy lâu nay, ban ngày là chuyện đồng áng, cày cấy, tiếng các em cô đùa nghịch. Ban đêm là tiếng giun đùn, dế gáy, chẫu chuộc kêu và tiếng mõ cầm ranh. Chứ không phải chuyện buôn tơ. Không phải tiếng lạch cạch bánh xe sắt, tiếng leng keng chuông xe điện. Càng không phải tiếng âu yếm của con người chung tình, đa sầu, đa cảm, tiếng Thừa yêu Lễ, viết tắt là TYL.

Cảnh nông thôn lặng lẽ, nhưng sao cô thấy như nó đè trĩu trong đầu óc cô: thế mà đầu óc lại như có chỗ trống trải. Ông bà nhì thấy cô buồn, thì hỏi, nhưng cô giấu:

- Thỉnh thoảng cháu vẫn thế.

Cô muốn lấp chỗ trống trải bằng chuyện Hà Nội.

Cô bảo Tiết xem trong làng có ai mua báo, thì mượn cho cô. Cô dặn em cẩn thận:

- Có báo Trung Bắc hay Thực Nghiệp hãy mượn.

Cô tránh nói đến tên báo Chấn Hưng.

Ông Nhì bảo:

- Ở nhà quê thì chỉ có báo Trung Bắc, chứ Thực Nghiệp có phải là báo nhà nước đâu mà làng phải mua.

Tiết đến nhà lý trưởng, đem về một chồng báo chưa bóc băng. Cô mở xem mục việc vặt Hà Nội. Những tin đánh nhau, tin mất ví, mất chó, cũng làm cho cô vợi được nỗi nhớ cảnh nhớ người.

Một hôm, tờ báo mới đem về, cô mở ra, nhìn lướt qua từng trang. Bỗng ở mục Bá cáo việc riêng, có ba chữ tên ký là Trần Đức Thừa làm cô giật nảy mình. Cô vội vàng chăm chú đọc.

Mấy câu mào đầu của tòa soạn in ngả như sau:

Bản quán nhận được bài lai cảo sau đây của ông chủ bút báo Chấn Hưng. Vì tình đồng nghiệp, xin cứ nguyên văn đăng báo, thực hư thế nào, về phần người viết phải chịu trách nhiệm.

Bài Bá cáo việc riêng như sau:

Tôi xin có lời thanh minh cùng quốc dân một việc phạm đến danh dự của tôi.

Báo Thực Nghiệp số ra ngày hôm qua, trong mục Thiên hạ đồn, có đăng một vụ ẩu đả xảy ra ở giữa phố HĐ., lúc mười một giờ đêm.

Theo bạn đồng nghiệp, người bị đánh tên là TĐT. chủ bút một tờ báo mà bạn nói rằng tòa soạn là một tổ quỷ. Và người hành hung là một người đàn bà buôn bán trên Ngũ Xã, tên là M. Nguyên là M. có tư thù với TĐT. đâu là một chuyện tình xưa nghĩa cũ, bội tín vong ân thế nào đó. M. lại được một người tòng sự ở nha Thương chính giúp, nên kết quả, TĐT. bị thương, phải vực vào nhà thương Bảo hộ.

Ở Hà Nội này, chủ bút một tờ báo mà tên viết tắt là TĐT, thì chỉ là tôi. Nhưng xin nói ngay rằng tòa soạn báo Chấn Hưng ở phố Hàng Bồ. Nếu gọi là tổ quỷ, thì có gọi phố Hàng Dầu của quý đồng nghiệp là phố mẹ dầu có những tay đánh đĩ bằng bút không?

Vậy tôi xin cải chính rằng người bị đánh ở phố HĐ. đêm hôm qua, không phải là tôi. Tiếc rằng ông Thuận Phong Nhĩ nào đó không những điếc mà còn mù, nên đã trông lầm. Tôi không quen một người nào tên là M. ở Ngũ Xã, nên không có tư thù.

Số là đêm nào, vào lúc mười một giờ, tôi cũng hay thơ thẩn đi chơi ở phố HĐ., rồi về tòa soạn. Vụ ẩu đả đêm qua, tôi có trông thấy. Tôi cũng làm nhiệm vụ người cầm bút, là mở cuộc điều tra để viết bài tường thuật.

Sự việc chỉ có thế. Nhưng chẳng may, lúc tôi đi về được vài bước, thì một cảnh làm tôi xúc động quá, đến nỗi tôi ngã ra đường, bất tỉnh nhân sự. Thấy vậy, hàng phố vực tôi vào nhà thương. Bà con HĐ có thể chứng nhận cho bệnh của tôi, vì một lần trước cách đây mấy hôm, cũng gần chỗ này, tôi đã ngã ngất và được bà con cứu chữa.

Vậy thì việc M. hành hung và việc tôi vào nhà thương chữa bệnh tim, là hai việc không dính dáng gì với nhau. Tiếc vì bạn đồng nghiệp yêu quý của tôi đã bôi nhọ danh dự tôi để cạnh tranh với báo Chấn Hưng một cách bất chính.

Về việc này, tôi sẽ viết rõ ràng trong báo Chấn Hưng. Và tôi sẽ nhờ pháp luật can thiệp để phân hắc bạch.

TRẦN ĐỨC THỪA Chủ bút báo Chấn Hưng

Cô Lễ thở dài. HĐ. là Hàng Đào! Cô đọc lại một lượt nữa. Cô đọc kỹ lần thứ ba, từ quãng có chữ số là đến hết dòng có câu Và được bà con cứu chữa.

Cô rưng rưng nước mắt.

Cô đi nằm, luôn luôn thở dài. Bữa chiều, cô bỏ cơm.

Buổi tối, cô lại mở báo, đọc bài Bá cáo việc riêng một lần nữa.

Rồi tình cờ, mắt cô để tới mục Từ phú thi ca, một bài ký tên là Trọng Lễ. Thấy tên tác giả trùng với tên cô, nên cô đọc:

MÂY NƯỚC

Chân mây làn nước uốn.

Mặt nước áng mây lồng.

Ta ước được như nước.

Theo mạch vào giếng trong.

Chậu vàng khăn bông trắng.

Vuốt ve đôi má hồng.

Cho bõ công lặn lội.

Dò ngọn nguồn lạch sông.

Ta ước được như mây.

Bay nam bắc tây đông

Lặng lẽ trôi theo gió.

Lọt vào tận khuê phòng.

Cầm tay hỏi cặn kẽ:

Đằm thắm hay lạnh lùng?

Lòng dạ ra mây nước.

Hiu hắt ngọn thu phong!

Cô đặt tờ báo xuống, quật mạnh cánh tay xuống chiếu:

- Trời ơi!

Cô rưng rức khóc.

Đúng là con người hai lần ngã ngất vì qua nhà cô làm bài thơ này chứ không còn ai. Anh đã lấy tên cô cho kín đáo, để dò ngọn nguồn lạch sông, hỏi cô đằm thắm hay lạnh lùng. Anh còn nặng tình với cô, nên mới dùng chữ trọng, Trọng Lễ.

Để đáp lại tấm lòng này, cô nên xử trí ra sao đây? Cô trằn trọc suốt đêm.

Rồi tang tảng sáng hôm sau, cô đòi về Hà Nội. Cô cứ thu xếp quần áo vào va-li.

Ông bà Nhì giữ thế nào cũng không nổi.

❀ ❀ ❀

[1] Khỉ này.

[2] Báo Trung Bắc tân văn in tên nhà cách mạng Lương Ngọc Quyến là Lương Hoài Quyến, rồi Quyến.

anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc k
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.