Hôm nay là ngày cuối cùng trong đời Thừa. Gọi tiếng chữ, là ngày quy tiên.
Lúc ấy độ tám giờ sáng.
Bỗng Ma-ri mừng rỡ, chạy rầm rập lên gác, vào buồng Thừa, tay cầm một tờ giấy đánh máy:
- Ông ơi! ông được quan thống sứ cử làm đại biểu nhân dân Bắc Kỳ.
Ma-ri cười ha hả:
- Sướng quá! Danh giá quá! Khỏe lên, ông ạ. Ông đừng chết mà uổng đời.
Thừa cầm tờ giấy. Nhưng mắt hắn đã lờ đờ. Hắn thở khó lắm rồi.
Hai Điều nói khẽ:
- Trình bà lớn, hai chân ông lớn đã nề lên rồi.
Ma-ri thản nhiên:
- Thế thì ông đi mời ngay cụ tú Trác đến cho tôi hỏi.
Bỗng ở nhà dưới có tiếng reo, rồi tiếng con Ca-mê-li-a nói:
- Đi lên Đông Hưng viên, khao pa-pa được cử làm một cái sự nghị viên chúng mày ơi!
Hai Điều hỏi:
- Cụ tú Trác nào?
Tiếng con Rô-da-lin:
- Đ… vào Đông Hưng viên! Đ… có chỗ nhảy!
Ma-ri trả lời hai Điều:
- Cụ tú Trác mở hiệu đối trướng ở Hàng Bông ấy mà.
Thừa gắt:
- Đã chết đâu mà rối lên thế! Còn sống ít ra là ba hôm nữa.
Tiếng thằng Pôn:
- Ít cần nhảy nhé. Hôm nay chủ nhật. Ăn xong, chúng ông đi đánh cá ngựa.
Hai Điều nói:
- Con cứ tưởng cụ tú Trác là cụ lang.
Tiếng con Ma-gơ rít:
- Thế thì lên Mê-trô-pôn[1]! Bảo nó dọn cho buồng riêng.
Tiếng con Ca-mê-li-a:
- Nhưng ăn ban ngày, làm gì có một cái sự âm nhạc.
- Đét cần. Đứa nào rủ bạn nấy, đem âm nhạc riêng đi mà chơi.
Tiếng thằng Giăng:
- Chả có thì tối tổ chức nhảy ở nhà. Ông với thằng Pôn phải đi đánh cá ngựa, không nhảy được.
- Nhưng ông cụ ốm. Nhảy ở nhà thì bất nhã lắm.
- Ít cần ông cụ nhé! Con Ca-mê-li-a lên bảo bà cụ cho tiền khao đi. Còn phải đi mời bạn, còn phải com-măng tiệc[2], kẻo muộn.
Ma-ri nghe rõ từng ấy lời nói của các con. Hắn gọi Thừa:
- Ông! Ông!
Thừa nhìn Ma-ri:
- Chùm chìa khóa, ông để đâu?
Thừa nói không ra tiếng:
- Làm gì?
- Để tôi lấy tiền cho chúng nó đi khao nghị viên của ông.
- Không có tiền! Không khao!
Ma-ri dịu dàng:
- Ông! Ông!
Thừa nhăn mặt:
- Thế chỗ hai trăm tôi đưa hôm nọ đâu?
- Làm gì còn? Đã một trăm đặt cho người chủ nhà đòn rồi.
Thừa rên lên:
- Chưa chết đã sửa soạn chôn!
Ma-ri bực:
- Vả còn bao nhiêu món không tên nữa. Đấy, ông có giỏi thì dậy mà chi tiêu lấy. Tôi mặc kệ! Việc nhà ông thì ông lo!
Thừa lại rên lên. Ma-ri nói:
- Thế thì ông đưa thìa khóa đây! Cứ giữ khư khư như mả tổ ấy!
- Hết tiền rồi!
Hai Điều thấy là lấy lòng người sống có lợi hơn lấy lòng người sắp chết, lão gật đầu, ra hiệu gọi Ma-ri. Lão tặc lưỡi mách thầm:
- Còn nghìn rưởi, để ở dưới đệm ấy.
Nói xong, lão xuống nhà.
Ma-ri đi đến giường. Hắn không nói năng gì cả, lật mạnh chiếc đệm lên:
- Chả tiền là cái gì đây!
Hắn cuộn cả tập giấy bạc đút vào túi.
Thừa bị hất mạnh, xô vào góc giường. Khi thấy mất của, hắn giơ cánh tay ra để ngăn Ma-ri. Nhưng cử chỉ này chỉ là tượng trưng thôi. Hắn nằm xa Ma-ri quá. Tay hắn run rẩy, chậm chạp quá. Hắn chỉ tỏ thái độ được bằng những tiếng rên rỉ, hừ hừ.
Mặt Ma-ri tươi tỉnh hẳn lên. Hắn xuống nhà dưới, muốn chừng để cho lũ con tiền.
Một lát, hắn lại lên với Thừa. Hắn nói:
- Ông ạ. Bây giờ ông còn tỉnh táo, thì ông nên định để làm giấy má, chia những gì cho đứa nào, kẻo ông mà nằm xuống, thì tôi không biết làm thế nào cho chúng nó đỡ tranh giành nhau đâu.
Thừa không đáp.
- Mấy lị hiện giờ, cũng nên trù ngay lấy một món để lo liệu lễ an táng ông sao cho trọng thể. Thì ông thử tính xem, nên giữ cái ở phố nào, nên bán cái ở phố nào.
Thừa gắt:
- Không vẽ vời ma chay gì cả! Cứ bó chiếu, rồi quẳng ra hè.
Cố nói được câu dài, Thừa như kiệt sức. Hắn quay mặt vào tường, nhắm mắt lại.
* * *
Ông Tú Trác đến, ngồi chờ ở buồng khách. Ma-ri ra tiếp. Hắn nói:
- Cụ ạ. Ông Hàn nhà tôi mệt nặng mấy tháng nay, tôi trông chừng khó lòng khỏi. Hiện nay chỉ còn là việc hàng giờ thôi.
Ông Tú ngớ mặt:
- Thế à? Ông nằm đâu? Cho tôi lên hỏi thăm.
Ma-ri ngăn:
- Thôi, cảm ơn cụ. Tôi mời cụ đến, cốt để bàn chút việc, kẻo nước đến chân mới nhảy, sợ không kịp.
- Vâng, người trí lự biết trước công việc mà lo liệu là phải. Thế bà đã gặp ông chủ nhà đòn chưa?
- Thưa rồi.
- Ấy sao bà chả bảo tôi giới thiệu cho. Tôi có ông em mở nhà đòn, đồ đạc đẹp, làm ăn cẩn thận, nội bao nhiêu công việc khai báo ở đốc lý, mua quan quách, thuê đất cát ở nghĩa trang, ông ta cáng hộ hiếu chủ tuốt. Thế bà thuê ai?
Ma-ri móc trong túi, lấy tấm danh thiếp của người chủ nhà đòn mà hắn đã đặt tiền, đưa ông Tú Trác xem. Ông Tú bĩu môi:
- Ái chà, thằng này giã nặng phải biết! Nó đòi bà bao nhiêu?
- Kể ra tùy mình muốn lịch sự chừng nào thì mất tiền chừng ấy, chứ bao nhiêu chẳng đủ.
- Nhưng nó làm ăn không cẩn thận đâu. Coi không khéo nó quật áo quan xuống đường đấy! Nhưng thôi, tùy bà.
- Mấy lị tôi đã đặt tiền rồi.
Ông Tú cười hô hố:
- Cha mẹ ơi! Nó lại bắt đặt tiền nữa! Nó cần mình chứ mình cần nó đâu nhỉ!
- Ông ấy bảo nếu không đặt trước thì ông ấy nhận đám khác mất.
Ông Tú lại cười:
- Người ốm còn đấy, biết là chết ngày nào, mà nó làm như tàu hỏa, đi có giờ, ai không lấy vé trước thì lỡ chuyến ấy. Thôi, bà đã trót thì thôi. Thế bà muốn tôi giúp bà gì ạ?
- Thưa tôi muốn nhờ cụ một ít câu đối.
- Vâng, hàng tôi có cả câu đối thửa, lẫn câu đối thuê. Bà muốn thuê đi trong lúc đưa đám, hay thuê để thờ đến năm mươi ngày, trăm ngày, xin bà cho biết.
- Cụ cho giá cả?
- Cái đó là tùy câu bằng vải, bằng vóc, bằng xa-tanh, bằng lượt hay bằng đũi. Mỗi thứ này, lại có nhiều hạng, tùy theo chữ dán bằng giấy hay bằng nhung. Cả hoa hoét nhiều hay ít nữa. Nhưng đắt rẻ đáng kể là cái lạc khoản. Lạc khoản là người chức tầm thường thì ít tiền, lạc khoản là người chức tước cao thì nhiều tiền. Chứ theo thứ bậc phẩm hàm nhà vua, mỗi trật cao lên một đồng.
- Thế là thế nào ạ?
- Ví dụ hàn lâm đãi chiếu, thì thêm hai đồng, cung phụng thì ba đồng, cho đến hường lô, thái thường, nhị tam phẩm, thì có cái thêm đến hàng chục.
Ma-ri suy tính một lát rồi nói:
- Thế nào tôi cũng thuê của cụ thôi. Tôi còn xem những câu đối khách khứa mang đến phúng, nhiều ít thế nào, sau này mới định và thưa chuyện với cụ được. Giờ thì tôi chỉ nhờ cụ nghĩ cho một đôi câu đối thờ ông cháu thôi.
- Vâng, cũng được. Bà cho biết ông bao nhiêu tuổi, cảnh gia đình thế nào, có những chức tước gì. Và ai đứng tên lạc khoản.
Ma-ri ăn trầu, rồi đáp:
- Thế này, cụ ạ. Ông nhà tôi thuở bé có du học bên Tàu, được tấm bằng làm thuốc của Chính phủ bên ấy cấp cho. Nhà tôi về, mở hiệu bào chế, rồi mở phàng khám bệnh. Sau, rồi làm báo, làm chủ bút báo, cụ ạ. Sau rồi làm đồn điền. Sau rồi buôn tàu thủy.
Ma-ri giấu cái nghề buôn thuốc phiện lậu, và nghề gá bạc. Ông Tú Trác gật gù:
- Ái chà! Đại doanh nghiệp chủ! Ông nhà được hàn lâm gì ạ?
- Tôi không rõ. Đàn bà dốt nát, cụ ạ.
Ma-ri rũ lên cười để đỡ bẽ, rồi tiếp:
- Ông nhà tôi còn được ba đạo tưởng lục và được Hoàng thượng ban Nam long bội tinh nữa.
- Ái chà! Bậc đại gia!
- Vâng. Khóa nghị viên tới này, nhà tôi được Chính phủ cử làm dân biểu.
Ông Tú Trác tặc lưỡi:
- Ái chà! To lắm nhỉ!
Ông gãi mép, rồi nói:
- Kể ra trong minh tinh, thì phải viết cho đủ đầy, nhưng còn câu đối, thì chỉ cần kể một vài cái đặc biệt hơn đời nhất thôi. Ví dụ chữa bệnh để cứu dân độ thế, làm báo để khai hóa quốc dân, làm nghị viên để bênh vực quyền lợi cho đồng bào.
- Nhưng nhà tôi mới nhận được nghị định quan thống sứ cử làm dân biểu sáng hôm nay thôi, cụ ạ.
Ông Tú im lặng, rồi lắc đầu:
- Không cần, cốt lấy cái ý làm nghị viên thôi. Người làm nghị viên mà lại được ban thưởng Long bội tinh thì thật là có giá trị.
- Nhưng nhà tôi được thưởng bội tinh và có công khác chứ không phải vì làm nghị viên đâu, cụ ạ.
Ông Tú gật đầu:
- Tôi hiểu rồi. Nhưng hậu thế, ai biết thật giả thế nào. Người ta tin ở chữ nghĩa còn để lại thôi chứ, chữ nghĩa mà không để nói dối, thì ông Thánh đặt ra nó làm gì? Gọi là ông Thánh vì thế đấy, bà ạ.
Nói đoạn, ông mỉm cười rồi hỏi tiếp:
- Còn cảnh gia đình nhà ta thì thế nào?
- Thưa tứ thân phụ mẫu đã tịch cả rồi. Chúng tôi sinh với nhau được tám bận, nhờ trời nuôi được năm.
- Các cô các cậu có ai đỗ đạt gì hoặc đã đi làm với nhà nước chưa ạ?
- Thưa các cháu còn bé cả.
- Đương học?
Ma-ri ấp úng.
- Ông thọ bao nhiêu tuổi ạ?
- Năm nay nhà tôi…
Ma-ri rú ra cười:
- Chả biết bốn nhăm, bốn sáu, hay hơn ấy. Độ này ruột gan tôi cứ lú lấp đi thôi.
- Vâng, ông mệt, bà còn tâm trí nào! Thôi thì cứ cho là ngũ tuần. Tôi sẽ nghĩ đối câu đối thờ ông thật xứng đáng với sự nghiệp của ông và gia thế nhà ta. Nhưng xin bà cho biết là câu đối đứng tên bà hay đứng tên các cô các cậu ạ?
- Xin tùy cụ.
- Vâng. Vợ khóc chồng thống thiết một cách, con khóc cha thống thiết một cách. Dùng chữ không đắt, có khi câu đối của con gái khóc cha, lại như vợ khóc chồng, mà câu đối của vợ khóc chồng, lại như tình nhân khóc nhau. Chữ nghĩa khó thế đấy, bà ạ.
- Vâng, trăm sự nhờ cụ. Nhưng tôi thiết tưởng tôi và các cháu, chả có chức phận gì, mà nhà tôi, thì như cụ nói, sự nghiệp và gia thế to.
- Thế thì ai đứng tên ở lạc khoản được?
Ông Tú nghĩ ra:
- À, được. Bạn bè thân thích cũng có thể khóc nhau bằng những lời chí tình. Như bài cụ Yên Đổ khóc cụ Nghè Vân Đình, thật ai đọc mà cầm được nước mắt!
- Thế thì tôi lại phải nhờ các ông bạn nhà tôi khóc nhà tôi à? Thưa cụ?
Ông Tú lắc đầu một cách thản nhiên:
- Không cần. Ông Hàn nhà chắc quảng giao, thì vô khối các quan là bạn bè. Cho nên bà muốn người đứng tên trong lạc khoản là ai cũng được. Ai biết đâu? Là bố chánh, là tuần phủ hay là tổng đốc, xin bà cứ bảo?
- Vâng, chức tước đã vậy, nhưng còn tên?
- Ô, tên thì lấy gì là không được? Nhưng khóc ông nhà, tôi tính phải là ông bạn khoa đến tiến sĩ, hoặc đến tuần phủ mới xứng đáng, bà ạ.
Ma-ri vui sướng:
- Vâng. Nhưng muốn kín đáo, cụ ạ, tôi tưởng nên viết là ông tuần phủ ấy về hưu rồi thì hơn. Bởi vì quan tại chức ít, ai cũng nhớ tên, chứ quan về hưu thì vô số, ai biết ai vào với ai?
- Vâng, xin lĩnh ý. Vậy tôi cứ đề là Thế nghị, nghĩa là bạn thân, đệ tam giác đồng tiến sĩ xuất thân, nghĩa là làm tuần phủ đã về hưu. Còn tên, thì hoặc Nguyễn Văn Mỗ, hay Trần Văn Mỗ cũng được.
- Hay lấy tên là Lê Văn Bản, chẳng trùng với ai mà người ta hỏi, cụ ạ.
- Vâng, thì Lê Văn Bản.
Ông Tú gật gù:
- Câu đối của một bậc đại khoa đại hoạn khóc một ông bạn thân là đại doanh nghiệp chủ, với đại gia, có nhiều ý hay lắm đấy bà ạ. Tôi xin về nghĩ, rồi đưa bà phủ chính cho sau.
- Thưa phủ chính là thế nào ạ?
- Là chữa hộ.
- Chả dám. Cụ nhã nhặn quá!
Ma-ri chợt nhớ ra một việc:
- À, thưa cụ, thế thì cụ lấy bao nhiêu tiền ạ?
Ông Tú đáp ráo hoảnh:
- Cứ cái lạc khoản ấy cũng đáng của tôi trăm bạc rồi.
Ma-ri thở dài:
- Xin cụ bớt cho.
Ông Tú lắc đầu:
- Không, văn chương chữ nghĩa không có lệ mặc cả! Thế là quá rẻ rồi bà ạ. Bà chẳng bằng lòng thì thôi cũng được.
Ông bắt bí:
- Cả Hà Nội này, còn có ai là khoa mục mà mở hàng đối trướng nữa đâu, thưa bà?
- Vâng, tôi biết. Thế nào tôi cũng phải nhờ đến cụ thôi.
Ông Tú hỏi:
- À thế còn việc mua quan tài, việc cúng cấp, làm tấu sớ, bùa bèn, bà đã nhờ ai chưa. Nếu chưa, tôi giới thiệu cho.
- Cụ quen những người ấy ạ?
- Vâng, chả giấu gì bà, toàn là họ hàng, thì phải dắt khách cho nhau. Tôi tiếc rằng tôi không biết ông nhà mệt, để mách chú nó làm ông lang, đến để trông nom thuốc thang cho.
Ma-ri cảm động:
- Cảm ơn cụ.
Ông Tú đứng dậy:
- Thế dứt khoát câu đối là một trăm nhé?
Ma-ri thở dài:
- Vâng. Xin cụ cố làm cho hay hộ. Còn tiền, chúng tôi không dám tiếc.
* * *
Thằng Pôn, thằng Giăng, con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, con Ca-mê-li-a mời tất cả hơn hai mươi bạn đến hiệu ăn tiệc.
Khi tất cả ngồi vào bàn, thằng Pôn đứng lên nói mấy câu. Tay nó cầm cốc rượu, miệng nó tủm tỉm, cố làm ra vẻ thân mật để tránh không khí trịnh trọng:
- Chúng mày! Ông via nhà tao thì sắp mọt, nhưng sáng hôm nay lại nhận được nghị định thống sứ cử làm nghị viên dân biểu Bắc Kỳ. Tao vội vàng nã ngay tiền bà via để cho chúng mày một bữa khao thả cửa. Tao sợ chờ đến mai, lỡ ông via ngoẻo, thì nguội cả nước non. Vậy chúng mày cứ ăn cho no, uống cho say. Tuy chúng mình là trí thức thất nghiệp, nhưng chúng mình cũng là thanh niên. Thanh niên thì phải vui vẻ trẻ trung. Chúng mày nâng cùng tao cốc rượu để chúc:
Đại Pháp vặn tóe!
Đông Dương vặn tóe!
Nam nữ thanh niên vặn tóe!
Các mitx vặn tóe!
Dứt lời thằng Pôn, tiếng cười nổi dậy, tiếng vỗ tay vang một hồi dài.
Một thằng bạn đứng lên, ngực ưỡn, mặt phềnh phạo cho ra vẻ hiên ngang, trỏ vào thằng Pôn:
- Mày chúc thế còn thiếu, con nhà khỉ ạ! Chưa đúng nguyện vọng của bọn trí thức thất nghiệp chúng mình. Mày quên chúc ông via nhà mày chóng mọt để được sớm chia gia tài, lấy tiền cho chúng ông chơi với à?
Lại một tràng pháo tay và những tiếng cười rầm rộ nổ lên để tán thưởng cái ý kiến rất thiết thực.
Chúng nó bắt đầu uống và ăn.
Đứa nọ bá cổ đứa kia, cố đổ cho được rượu vào mồm. Con Ca-mê-li-a láu cá, ngậm một hụm, rồi khẽ nhổ ra mù soa. Bỗng có đứa thét:
- Tẩy chay cái lối uống rượu lậu của mitx Trà Mi!
Năm sáu thằng ghì lấy con bé. Một đứa vành mồm, một đứa đổ rượu vào miệng, và hai đứa cù nách. Con bé cười sặc sụa, rượu trôi xuống cuống họng. Nó cứ phì phì nhổ ra:
- Ông ít thích một cái sự phát-xít độc đoán ấy đâu nhé!
Từng ấy cái miệng ngoác ra, từng ấy cái lưng còng xuống để cười.
Bỗng tiếng nhạc du dương nổi lên làm im bặt những tục tĩu đương ồn ào.
Đứa nào cũng sệt ghế, lau miệng. Rồi thằng con trai đến trước mặt đứa con gái, đứng thẳng người, cúi đầu và lễ phép giơ tay như đỡ lấy người được mời nhảy.
Điệu nhạc trầm bổng thánh thót. Những tà áo nhẹ nhàng bay bay. Những bàn chân lướt từng bước nhịp nhàng thong thả. Những cánh tay giang ra, rập rờn như cánh phượng múa. Khiêu vũ độ hai mươi phút, chúng nó lại tiếp tục vào tiệc.
Lại ép nhau uống. Lại đè ngửa nhau ra để dốc rượu vào mồm.
Tiếng cười, tiếng nói, những danh từ rất ít chọn lọc, được tuôn ra, mỗi lúc một nhộn thêm.
Rồi lại nhảy. Nhảy rồi lại ăn.
Đứa đã say, mặt đỏ nhừ, mắt hoa, lưỡi líu, tay chệnh choạng. Nhưng mắt thằng con trai không trông lầm bạn gái ra bạn trai khác. Tay nó không ôm lầm lưng người ra lưng ghế. Và lưỡi nó không phát âm lầm những tiếng tục ra tiếng thanh.
Cốc thủy tinh vỡ xoang xoảng, tiếng xé như tiếng những trận cười. Chúng nó ném vỏ lê, vỏ táo, vỏ chuối vào mặt nhau.
Đứa này tránh né sau lưng đứa khác. Đứa nọ chạy trốn, giơ đứa kia ra làm mộc đỡ đạn. Đứa chui xuống gậm bàn, rình túm lấy bạn, để đổ nước cà phê lên đầu tóc.
Tấn kịch thật là náo nhiệt, đẩy dần dần cái không khí vui vẻ trẻ trung đến độ điên cuồng nhất.
* * *
Trong khi lũ trẻ nô đùa mất dạy với nhau ở bữa tiệc, thì ở nhà, Thừa được báo tin là có cha Hảo đến. Hắn nhăn mặt, lắc đầu, thều thào bảo Hai Điều:
- Mời ông ấy… ở nhà dưới… Bà tiếp… Tôi mệt… Tôi khổ lắm… Chả sống được đến… ba hôm nữa đâu… Ông ạ.
- Thưa, bà không có nhà, ông lớn tiếp vậy ạ!
Hai Điều xuống gác.
Khi hắn lên, cả nhà tu hành cũng đi theo.
Người cha đạo giơ bắt tay Thừa. Thừa run run, đáp lễ:
- Con chết mất, cha ạ.
Cha Hảo ngồi xuống ghế:
- Chính vì nghe tin con ốm nặng, không có phần sống, mà cha đến thăm con.
- Cảm ơn… cha.
- Lại nghe tin con được chính phủ cử làm nghị viên dân biểu khóa này, cha đến mừng con.
Thừa không nói. Hắn không đủ sức nữa.
- Cha muốn ban ơn cho con lần cuối cũng, trước khi con an giấc ngàn thu.
Thừa vẫn yên lặng.
- Là cha định đến để rửa tội cho con đặng con được rỗi linh hồn.
Nhà tu hành nhìn hai Điều, giảng:
- Tức là lên thiên đàng.
Lão giờ chắp hai tay:
- Dạ, lậy Phật, cha thiệt tử tế với quan con.
- Rửa tội tổ tông và tội mình phạm. Tội ông A-dong và bà E-va ăn quả cấm, là tội tổ tông.
- Dạ.
Lão cha đạo quay lại Thừa:
- Còn tội mình phạm, thì con nhiều lắm. Nhưng rửa tội không có gì phiền phức. Cha lấy ít nước trong vào cái cốc này, rồi rót vào đầu con vài giọt. “Tao rửa mày, nhân danh cha và con và thánh thần”. Cha nói hết câu ngắn ấy là rửa sạch được tội cho con. Nếu con còn sức, con chỉ nói: “Tôi xin bỏ ma quỷ”. Nếu con còn sức nữa, con nói thêm: “Và tôi tin có đức chúa Lời”. Nhưng con mệt, không nói cũng không sao. Rửa xong tội là con rỗi linh hồn, được lên thiên đàng.
Thừa cau mặt, quật bàn tay xuống giường:
- Không tin phép ấy… Lắm tội lắm… không thể nào rửa hết nổi.
Người cha đạo lắc đầu:
- Con phải tin có đức chúa Lời.
Thừa lắc đầu, thều thào khẽ:
- Không.
- Tôn giáo bao giờ cũng khuyên người ta làm điều thiện, đổi người ác thành người thiện.
Thừa lại lắc đầu, thều thào khẽ hơn:
- Không.
- Con phải tỉnh táo mà hầu chuyện cha mới được.
Thừa vẫn lắc đầu:
- Chưa mê… nhưng mệt lắm… không nói dài.
- Cha tiếc là bao nhiêu lần cha khuyên con theo đạo, mà con không nghe cha. Nhưng bây giờ con sắp chết, cha lại thân đến đây để rửa tội cho con, con phải cho là một vinh dự to lớn nhất trong lúc con sắp tắt nghỉ.
Hai Điều mách:
- Nếu thế thì quan con phải đi đạo? Nhưng thưa cha, bà con đã trót mặc cả đám tang theo tục lệ bên đời rồi.
Nhà tu hành gật đầu:
- Không hề gì. Miễn là thuê thêm năm lá cờ đen để cho đi đầu thôi. Không thuê được thì nhà thờ cho mượn.
Thừa vẫy hai Điều:
- Kê cao đầu.
Cha Hảo mừng rỡ:
- Con đã vâng lời cha.
Thừa xua tay:
- Không.
Nhà tu hành bẽ bàng:
- Tôn giáo bao giờ cũng khuyên người ta làm điều thiện, đổi người ác thành người thiện.
Thừa ho sù sụ một hồi thật lâu, rồi nói nhát gừng:
- Đạo Gia tô… đạo Phật… có đã lâu… sao ở đời… kẻ ác… ngày một nhiều?… Thế là… tôn giáo… không đổi nổi… người ác… thành thiện… hay càng có… tôn giáo… người đời… càng ác… Nói phét!
Thừa thở dốc một hồi, nằm lịm đi. Người cha đạo đỏ mặt, nhìn hai Điều:
- Nó chưa bỏ ma quỷ.
Hắn nói với Thừa:
- Chỉ có người không theo đạo nào mới làm người ác.
Hai Điều biết là người cha đạo có ý ám chỉ Thừa. Thừa nhăn mặt, xua tay, vẫy hai Điều:
- Kê cao đầu.
Rồi hắn lại nhát gừng:
- Ai ngủ… với vợ tôi?… Ai đùn con… cho tôi?… Ai gỡ… tội giết người… cho tôi?… Vì sao… Ai cướp… ruộng… đền… vợ tôi…? Như tôi mà… lúc sắp chết… chỉ cần… vài giọt nước lã… đổ vào đầu… là sạch tội… lên thiên đàng… thật chết cười… thôi… ông đừng… đạo đức giả…
Nói được từng lời ấy, Thừa thở hồng hộc, nhắm mắt lại.
Nhà tu hành nhún vai, bĩu môi, ra vẻ thất vọng. Hắn vuốt mạnh tay vào mặt cho máu chạy đều, rồi đứng lên, lẳng lặng quay đi. Miệng hắn lẩm bẩm:
- Cha làm việc mở nước Chúa không lọn.
Cả một đống đen ngòm từ từ xuống gác.
* * *
Chờ cho lão cha đạo đi lâu rồi, Thừa mới gọi hai Điều. Hắn nhăn má, cười một cách khó đăm đăm:
- Hẳn nó… cáu lắm.
- Trình ông lớn, con thấy mặt cha hầm hầm.
Thừa ho sù sụ một hồi lâu. Hai Điều phải nâng lưng cho hắn cao. Nhưng cơn ho không ngớt. Hắn cứ nhăn nhó, rũ mặt xuống mà sù sụ.
Rồi hắn thở. Chừng mười phút sau, hắn nói khẽ:
- Tôi… chết mất… ông ạ. Có lẽ… chỉ sống được… hết… ngày mai thôi.
Hai Điều vội vàng:
- Trình ông lớn, ông lớn đừng lo, đừng nghĩ ngợi gì. Ông lớn cũng đừng nói nữa. Nên nằm yên mà tĩnh dưỡng.
- Nhưng… chúng nó… có… cho tôi… được… nằm… yên… mà tĩnh dưỡng… đâu.
Hắn tiếp:
- Đấy… Ông xem.
Hắn thở ì ạch, rồi gọi:
- Ông! Kê… cao đầu.
Lão già làm theo. Thừa bảo:
- Ông… ghé xuống đây… tôi… nói chuyện.
- Dạ.
- Tôi… nhờ ông… một… việc nhé.
- Trình ông lớn cứ truyền.
- Ông… xuống… ngay… Hải Phòng… cho tôi… Đến… đường…
Hắn nghĩ mãi, rồi nói:
- Đường… Quần ngựa.
- Thưa đường Quần ngựa ạ.
- Nhớ chứ?
- Dạ.
- Hỏi thăm… nhà bà… An-na Phán.
- Dạ, bà An-na Phán.
- Biên vào… giấy. Cái bà… tây lai… mắt gio ấy.
- À. Dạ.
Hai Điều tìm bút, ghi mấy chữ cần nhớ, rồi hỏi:
- Thưa số nhà mấy ạ?
- Để… tôi nghĩ.
Chừng hai ba phút sau, hắn nói:
- Quên… rồi. Cứ đến… đấy… hỏi, ai… cũng biết.
- Dạ. Đến làm gì ạ?
- Ông… cầm… một nghìn… bạc… đi, nói rằng… tôi… chuộc… giấy… cho cô… Thúy Lan.
- Giấy gì ạ?
- Cứ nói… thế. Người ta… hiểu. Cái… giấy xanh… có ảnh… ấy.
- À. Vâng ạ. Đưa bà An-na Phán một nghìn bạc, nói rằng ông lớn chuộc giấy cho cô Thúy Lan.
- Phải… nhưng… không đưa… cả nghìn. Bà ấy… lấy… bao nhiêu… cũng đưa.
- Dạ, là cầm sẵn cả nghìn đi thôi. Bà ấy lấy bao nhiêu thì đưa, còn thì mang về. Nếu lấy cả nghìn cũng đưa. Miễn là chuộc được giấy cho cô Thúy Lan phải không ạ?
- Phải… giấy số.
- Dạ. Giấy số của cô Thúy Lan ạ. Nhưng ngộ bà ấy đòi hơn một nghìn thì sao ạ?
- Không… đến… đâu.
- Dạ. Còn gì nữa không ạ?
- Thôi… Ông… đi ngay… Ô-tô ca.
- Dạ. Xin ông lớn cho tiền ạ.
Thừa trỏ tay xuống đệm nằm. Hai Điều hiểu:
- Trình ông lớn, món tiền ấy sáng nay bà con lấy rồi, ông lớn quên ạ?
Thừa hộc lên một tiếng, run rẩy chân tay, trợn ngược hai mắt lên:
- Hừ! Hừ! Hừưư…
Bỗng hắn vật nghiêng đầu, rồi mồm hắn trào máu xám lênh láng ra khăn trải giường.
Hai Điều sợ hãi, lay gọi:
- Trình ông lớn, trình ông lớn, tỉnh chưa?
Thừa mê lên đến hai mươi phút. Lúc thấy hắn cựa, lão già mới lấy khăn lau miệng cho hắn, và thay khăn giải giường khác:
- Trình ông lớn, thế là con không đi Hải Phòng nữa ạ?
Thừa rên rỉ:
- Thôi… tôi… giết… con tôi… Ma-măng… chúng nó… giết tôi… Trời! Không biết… tôi có… qua được… đêm nay… không…
Hắn nhắm mắt lại. Nhưng ứa ra hai dòng nước, chảy thẳng xuống hai thái dương.
Rồi hắn lịm đi.
Hai Điều sờ chân, sờ đùi, sờ cánh tay.
Lão già thở dài, lắc đầu, lẩm bẩm:
- Chả hiểu đầu đuôi ra sao cả!
* * *
Vào khoảng một giờ trưa, Ma-ri trở về nhà. Theo hắn, là ông thầu khoán già Nguyễn Thúc Lăng.
Hai Điều vội vàng mách:
- Thưa bà, ông lớn nguy lắm rồi.
Ma-ri cau mặt:
- Ai chả biết! Chả nguy mà tôi phải chạy suốt từ sáng đến giờ.
Hắn mời ông Lăng:
- Mời cụ ngồi chơi.
Hai Điều ngần ngại:
- Thưa bà, ông lớn lại vừa thổ huyết. Mới nằm nghỉ được một tí. Hay bà hãy chờ, để ông lớn được yên tĩnh?
Ma-ri gắt:
- Cái ông cụ này mới hay chứ! Yên tĩnh thì đến bao giờ? Bây giờ ông ấy còn tỉnh thì còn biết. Chứ chờ để ông ấy chết còng queo ra à?
Ông Lăng đặt tay vào đầu Thừa, lay mạnh:
- Cụ Hàn!
Thấy Thừa mở choàng đôi mắt lờ đờ, ông thầu khoán nhoẻn cười, hỏi to tướng:
- Chào cụ Hàn! Cụ Nghị! Mừng cụ!
Thấy Thừa lại nhắm mắt, ông Lăng lại lay đầu:
- Cụ có nhớ tôi là ai không?
Thừa vẫn nhắm mắt:
- Có.
- Anh em mấy chục năm giời, bây giờ sắp kẻ ở người đi, thì tôi đến thăm cụ. Cụ có chết thì phù hộ cho tôi nhé!
Ông uống nước, hút thuốc lá, rồi lại nói thật to:
- Chả nhẽ thấy cụ gra-vơ-măng ma-lát[3], mà tôi lại chỉ đến thăm không. Cho nên có câu chuyện, nhân tiện muốn nói với cụ. Cụ tỉnh chứ?
Thừa lắc đầu:
- Không… muốn… nghe…
- Không, chuyện xê-ri-ơ[4] chứ không phải đùa phiếm đâu, cụ ạ. Cụ chịu khó nghe một tí. Chả có mai kia, cụ nhắm mắt rồi, thì tôi nói với ai. Việc thêm khó ra.
Ông thì thầm với hai Điều:
- Mặt phù lên rồi. Không khéo cũng sắp ăn xôi thôi.
Hai Điều đáp:
- Vâng, chân tay đã bắt đầu lạnh.
Ông Lăng trợn mắt, sửng sốt hỏi:
- Cả tay nữa?
Rồi nói với Thừa:
- Cụ ạ, con người ta ai cũng vậy, sinh tử chỉ có một lần. Hôm nay, đến thăm cụ, tôi trông sắc mặt cụ, tôi lấy làm ngại lắm. Cho nên, chỗ anh em mình với nhau, tôi nói thực là ít lâu nay, cụ cũng gặp lắm vận hạn, sinh ra lúng túng vì đồng tiền. Nhưng cụ ạ, cụ có đi, thì cứ đi cho thanh thoát, đừng lo lắng gì về chuyện ma chay không xứng đáng. Tôi xin chạy tiền làm ma cho cụ. Cụ nghe rõ chưa?
Thừa gật gật:
- Cảm ơn… cụ.
Ông Lăng lại tiếp, vẫn bằng tiếng rất to:
- Ban nãy cụ bà Hàn Nghị có đến chơi, dạm bán cho tôi cái nhà ở Hàng Giò. Cụ đã đưa tôi đến coi rồi. Cụ nói đơ-min-xanh-xăng[5]. Nhưng tôi mặc cả min-uýt-xăng[6]. Rồi lên đến đơ-min[7]. Tôi bảo chỉ có cụ ông mới định đoạt được việc này, cho nên tôi đến đây nói chuyện với cụ. Thôi thì chỗ se-ca-ma-rát[8] với nhau, tôi trả tiếng cuối cùng, là đơ-min-đơ-xăng[9]. Giấy tín chỉ tôi đem theo đây. Cụ có bằng lòng thì ta làm văn tự luôn, để cụ còn tỉnh táo, thì cụ xi-nhê[10] vào. Kẻo tôi trông cụ, chỉ còn hàng giờ nữa thôi, chứ chả được lâu đâu, cụ ạ.
Ma-ri lúc ấy đã đứng đó. Hắn ghé tận tai Thừa, dịu dàng nói:
- Để có sẵn tiền mà lo đám tang cho chu đáo, ông ạ. Ông bằng lòng cái giá cụ chủ vừa mới nói nhé.
Thừa quay mặt vào tường, khò khè thở. Hai Điều lon ton lại gần:
- À.
Lão đỡ Thừa nằm ngửa lại, và kê cao đầu lên:
- Thế này quan mới nói được.
Nhưng Thừa vẫn im lặng.
Ông Lăng nhìn Ma-ri, vẻ thất vọng:
- Không thành. Thôi, tôi xin về.
Ma-ri lo sợ, vội vàng nói với Thừa:
- Cái món tôi lấy ban sáng, không đủ đâu. Thế nào cũng phải để lại cái nhà Hàng Giò ông ạ. Không bán ngay hôm nay, tôi sợ không kịp.
Thừa thào ra được hai tiếng:
- Không… bán.
Một lát, hắn thêm:
- Cho… ăn… mày.
Ma-ri không hiểu, thở dài:
- Đã bắt đầu nói mê rồi!
Hắn vẫy ông Lăng xuống nhà.
Chừng nửa giờ sau, hắn lên, tay cầm tờ giấy tín chỉ đã viết thành văn tự. Hắn dí cái bút vào tay Thừa, mặt hớn hở nhưng nói giọng nằn nì:
- Ông cứ ký vào đây. Ông đi, ông bỏ mẹ con tôi ở lại. Ông đừng để khó cho tôi sau này.
Hắn rưng rưng nước mắt.
Thừa nhăn nhó, lắc đầu, rên lên một tiếng, rồi cầm lấy bút, ký nguệch ngoạc vào tờ giấy.
Ký xong, hắn buông rơi bút xuống giường, chân tay run rẩy.
Ông Lăng nở một nụ cười. Nhưng khi ngắm chữ ký không được rõ, ông bảo Thừa:
- Xin lỗi cụ nhé, cẩn tắc vô ưu.
Ông móc túi, lấy thoi mực tàu mà ông đem sẵn đi. Ông thấm nước, rồi dí năm đầu ngón tay Thừa vào. Ông in năm vết vào tờ văn tự.
Làm xong việc hợp pháp, ông hớn hở:
- Thôi, vĩnh biệt cụ nhé. Có chết thì nhớ phù hộ cho tôi đấy.
Buồng lại im lặng.
Thừa lờ đờ nhìn hai Điều. Hắn ứa nước mắt, nói khẽ:
- Chưa chết… lũ giòi… đã đến.
Hai Điều thở dài. Thừa thều thào:
- Kê… cao… đầu.
Hắn nói:
- Ông!… tôi bảo… khó lòng… qua… được… đêm nay. Tôi… có chết… thì chôn… ở… nhà quê.
Lão già ngậm ngùi:
- Trình ông lớn, để ở Hà Nội tiện hơn. Đỡ tốn kém.
Thừa lắc:
- Nhà quê… có tình… đây… đểu… lắm.
Hai Điều thở dài. Thấy tay Thừa quờ quờ, lão hỏi:
- Trình ông lớn lấy gì ạ?
- Khế.
Hai Điều đã biết chỗ. Gói khế khô giấu ở dưới đệm, về phía trong, giáp tường. Lão lấy, đưa cho Thừa.
- Mở… ra.
Hai Điều làm theo, rồi hỏi:
- Trình ông lớn có muốn dặn dò gì nữa không ạ?
Thừa cố giương đôi mắt đẫm nước để nhìn những múi khế màu nâu hồng, đã bị ép phẳng lại. Hắn rên rỉ:
- Thôi… không… gì nữa.
* * *
Lúc ấy, gần bốn giờ chiều. Ma-ri không có nhà.
Thằng Pôn và thằng Giăng đi đánh cá ngựa.
Con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít và con Ca-mê-li-a còn dở cuộc vui.
Hai Điều, vì thức mấy đêm liền, bây giờ thấy Thừa nằm yên, thì lẻn xuống nhà gửi xe, ngủ một giấc cho lại người.
Than trong hỏa lò sắc thuốc cho người ốm đã vạc trắng. Thừa không rên rỉ. Ấm thuốc cũng không rền rĩ nữa.
Buồng bệnh nhân thật lặng lẽ. Thì thằng Mão đến.
Nó lên tuột trên gác.
Nó rón rén vào buồng, trông trước trông sau, rồi đến cạnh giường, ngó nhìn vào mặt Thừa.
Bỗng Thừa mở choàng mắt.
Thấy rõ thằng Mão, hắn giật thót mình, rú lên một tiếng:
- Ối!
Muốn được yên ổn, thằng Mão chạy vội đi khóa trái cửa ra vào lại.
Nó đến giường Thừa, hất hàm, hỏi:
- Thế nào, ông có chịu chia gia tài cho tôi không?
Thừa trừng trừng, nhìn thằng Mão. Mặt nó đầy trứng cá đen sạm. Tóc nó chải bóng. Ở hai bên thái dương, hai món tóc mai đen một vệt nhọn hoắt.
- Thế nào. Ông có chịu chia gia tài cho tôi không?
Thằng Mão nhắc lại câu hỏi. Thừa lăng mạnh cánh tay:
- Bước!
Hắn rũ ra để ho, rồi đờ đôi mắt, thở phì phò.
- Bây giờ ông sắp chết rồi, thì ông phải đối với tôi khác. Ông đẻ tôi ra, ông chả nuôi được một ngày nào. Tôi làm gì nên tội mà ông thù ghét. Chúng nó phá của ông, ông chẳng nói gì. Tôi có đến xin tiền, thì ông mắng, ông chửi, ông đánh, ông cấm cửa. Ông thử nghĩ xem. Tôi lấy tiền để làm gì, đời tôi hư hỏng là tại ai?
Thừa vẫn thở phì phò. Hai bên mép hắn sùi những bọt. Thằng Mão tiếp:
- Tôi đến đây bắt ông phải làm giấy chia gia tài cho tôi. Chỉ có tôi mới là con của ông đẻ ra. Còn chúng nó, mỗi đứa một bố khác. Ông chia cho tôi cái nhà nào?
- Bước!
- Nếu ông không chia cho tôi, nhất định tôi không cho ông yên. Thìa khóa két của ông đâu?
Thằng Mão không đợi trả lời, nó đi lục soát khắp mọi chỗ. Túi áo, túi quần treo trên mắc, túi áo, túi quần xếp trong ngăn kéo, túi áo, túi quần Thừa đương mặc ở người. Nó giở tung các đồ đạc trong các ngăn kéo.
Ta đã thấy thằng mật thám Pha-lăng-xô khám nhà cụ tú Phúc Lâm để tìm tài liệu chính trị. Ta đã thấy thằng cảnh sát trưởng Gôn khám nhà anh Xi để lùng hội kín. Ta lại thấy bọn nhà đoan khám nhà bà mẹ Mão để bắt thuốc phiện lậu. Nay ta lại được xem thằng Mão tìm thìa khóa két ở nhà bố nó để chiếm lấy tiền bạc và văn tự nhà.
Nó làm tỉ mỉ không kém thằng Pha-lăng-xô, không kém thằng Gôn, không kém tụi nhân viên thương chính.
Dỡ tung hết các đồ đạc, sờ móc hết các chỗ khả nghi, nó vuốt vào người bố nó, suốt từ đầu cho đến chân.
Thừa quằn quại để cưỡng. Nhưng nó mặc kệ.
Nó rút cái chăn của Thừa đương đắp, giũ tung lên, rồi nắn nắn bóp bóp. Thừa bị rét, kêu ự ự. Nó giật cái gối của Thừa đương gối, cũng nắn nắn bóp bóp. Đầu Thừa ngoẹo đi. Không thấy gì, nó hầm hầm:
- Thìa khóa đâu?
Những tiếng rên đều đều bị vướng đàm ở cổ Thừa kêu khò khò.
Thằng Mão bực lắm rồi.
Nó hẩy cho Thừa nằm sát vào tường, để lật nửa khăn giải giường và nửa đệm ở phía ngoài. Không thấy gì, nó lại lôi Thừa nằm ra phía ngoài, để lật nửa khăn và nửa đệm ở phía trong.
Bỗng xoảng một tiếng, chùm thìa khóa rơi xuống sàn gác.
Thằng Mão nở nang mặt mày, chui vào gậm giường lấy, rồi đút túi. Nó trỏ vào mặt Thừa:
- Gia tài tôi ở trong tay tôi rồi. Tôi tha cho ông.
Nó đi ra phía cửa.
Nhưng bỗng sực nghĩ ra, nó quay phắt lại:
- À, còn cái này.
Nó trèo tót lên giường.
Bị rùng rình. Thừa nhăn mặt, há miệng ra kêu:
- Ối!
Thằng Mão vui sướng:
- À! Hãy còn thật! Tôi phải lấy!
Nó giữ đầu Thừa.
Thừa khò khè, phì phò, vùng vằng. Thằng Mão giữ đầu Thừa chặt hơn:
- Ba cái răng vàng của ông. Tôi không lấy, chúng nó cũng lấy mất. Ông há ra!
Nhưng Thừa không há. Vẫn vùng vằng và ú ớ.
Thằng Mão phải đè sấn lên mình Thừa để ngồi, một tay nó ghì đầu cho mất cựa, một tay nó móc miệng.
Thừa cố lắc lắc, cắn hai hàm răng thật chặt. Chân tay hắn quều quào để cưỡng. Nhưng thằng Mão khỏe hơn. Nó gang được họng Thừa ra, và tháo được đủ ba cái răng vàng.
Thừa kêu ằng ặc.
Thằng Mão buông Thừa, đút ba cái răng vào miệng, nó toan nuốt. Nhưng không rõ nó nghĩ thế nào, nó cất vào túi nó.
Nó nhảy xuống sàn gác.
Trong khi ấy, tuy Thừa chỉ còn nằm một mình, nhưng vẫn vùng vằng chân tay, và ú ớ trong miệng. Mặt hắn nhăn lại, như cố dùng hết sức tàn còn lại để lắc đầu cho mạnh, và cắn hai môi cho chặt.
Rồi hắn kêu:
- Phời… ơi! Phúng… phó… phổ… phịt… phôi…
Cử chỉ chống cự yếu dần, chậm dần.
Tiếng ú ớ bé dần.
* * *
Thằng Mão vừa xuống đến sân thì gặp Ma-ri về. Ma-ri hô hoán lên.
Thằng Mão bị bắt, giam vào nhà xe.
Ma-ri hốt hoảng, chạy lên gác, thăm tình hình.
Thì giữa lúc ấy, từ cổng vào, con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít mặt còn đỏ nhừ vì rượu, dìu con Ca-mê-li-a mềm như sợi bún vào, và vực nó lên giường của nó.
Ma-ri đến buồng Thừa. Hắn thấy chăn đệm và đồ đạc lung tung, mà Thừa vẫn còn thở thoi thóp. Hắn vội vàng gọi:
- Ông! Ông Hàn ơi! Ông Nghị ơi!
Thừa không cựa được nữa.
Mặt hắn vẫn nguyên cái nét nhăn nhó như ban nãy, răng hắn vẫn nguyên cắn chặt môi như ban nãy, tay chân hắn vẫn nguyên cái điệu bộ giãy giụa, co quắp như ban nãy.
Hắn không còn đủ sức để thôi nhăn mặt, thôi cắn môi, và để duỗi lại chân tay cho ngay thẳng.
Ma-ri trông cái dáng điệu này của Thừa, thì đoán ngay được là thằng Mão vừa làm gì. Hắn định hỏi Thừa. Hắn lại gọi:
- Ông! Ông Thừa ơi! Ông An-be ơi!
Một tiếng nấc mạnh.
Ma-ri giật nảy mình.
Hắn bật đèn lên cho sáng. Bỗng hắn kêu rú lên:
- Ối!
Rồi hắn gọi:
- Ông Hai! Ông Hai ơi! Quan làm sao thế này? Khổ thân tôi, trời ơi!
Hắn bù lu bù loa lên để khóc.
Con Rô-da-lin thấy tiếng mẹ the thé, vội vàng chạy lên.
Nhưng khi nó thấy hai mắt bố trợn ngược, da mặt bố nhợt nhạt, và nhất là hai nét nhăn ở má và dáng điệu chân tay như dọa nạt, thì nó biết là Thừa chết rồi. Nó sợ hết hồn. Tự nhiên đầu nó lao đao hơn khi nãy nó say rượu. Nó thét lên một tiếng, rồi chệnh choạng ngã xuống sàn.
Con Ma-gơ-rít vừa tới cửa, trông thấy mẹ, thấy chị, thì biết là bố nó đã chết:
- Eo ơi! Khiếp!
Run như cầy sấy, nó vội vàng cắm cổ chạy.
Người nhà phải khênh con Rô-da-lin, đặt nằm bên cạnh con Ca-mê-li-a, đương ngáy pho pho, để đi mời bác sĩ Pi-ca đến cấp cứu nó.
Trong khi ấy, hai Điều đã đến ngồi bên cạnh Thừa. Lão vẫn bình tĩnh. Lão sờ khắp người Thừa, rồi lấy hai miếng bông, để trước hai lỗ mũi. Thấy sợi bông không lay, lão thở dài, nhìn Ma-ri, lắc đầu, nói khẽ:
- Quan đi thật rồi!
Ma-ri nghiến răng:
- Thằng Mão giết!
Hai Điều toan xếp lại chăn đệm cho ngay ngắn. Nhưng Ma-ri ngăn lại.
- Không. Cứ để nguyên thế cho tòa điều tra.
Hắn trỏ vào mặt Thừa có vết móng tay quào ở má, và vết máu ở môi:
- Đúng thật, ông ạ.
Rồi chạnh tình nghĩa ăn chung ở đụng với nhau hơn hai mươi năm trời, và cảm cái cảnh sẩy đàn tan nghé, hắn mếu máo, khóc lóc. Hắn kể lể rất thảm thiết bằng giọng lanh lảnh:
- Anh ơi! Anh Thừa ơi! Anh đi đâu anh bỏ em bơ vơ một mình nơi quê người đất khách, anh ơi là anh ơi! Hời! Hời! Hời!
Hắn kéo dài ba tiếng cuối để hạ giọng. Rồi lại cất cao tiếng:
- Anh Thừa ơi! Vợ chồng như đũa có…
Bỗng hắn ngừng khóc, ngơ ngác nói:
- Ôi, thôi chết! Thìa khóa! Chùm thìa khóa két! Ông Hai ơi!
Mặt hắn hớt hải hơn lúc hắn nghe thấy Thừa nấc tiếng lìa đời.
Vừa lúc ấy thì thằng Pôn và thằng Giăng về.
Hai thằng đương hát rống lên ở ngoài sân, thì nghe tiếng mẹ gọi thất thanh.
Chúng nó chạy lên.
Thấy cha chết, thằng Pôn bấm thằng Giăng, nói khẽ:
- Mọt thật, mày ạ.
Thằng Giăng ngậm ngùi, gật đầu:
- Đắm cái tàu này thì nguội cảnh!
Ma-ri bảo hai đứa:
- Thôi đừng tán nhảm nữa. Tìm với ma-măng chùm thìa khóa của pa-pa.
Cả ba người đều vào việc: cũng móc các túi áo, túi quần. Cũng lục lọi các ngăn kéo. Cũng sờ soạng các chỗ hiểm hóc ở trong buồng.
Không thấy gì, Ma-ri đành phải mó tay vào các túi áo quần Thừa đương mặc, và sờ khắp người Thừa, đã lạnh toát từ vai đến chân.
Vẫn không thấy gì, hắn rút cái gối và lột cái chăn. Hắn nắn, hắn bóp. Rồi lại nắn, lại bóp.
Vẫn lại không thấy gì, hắn đành lật khăn giải giường và lật đệm phía ngoài. Cái đệm bị lật, làm Thừa nằm ngửa lên. Thằng Pôn trỏ tay vào bố bưng miệng, rúc rích cười, và mách thằng Giăng:
- Múa võ!
Ma-ri lại lật khăn giải giường và lật đệm phía trong. Thằng Giăng mắt mờ vì rượu, bây giờ mới trông rõ bố. Nó nhìn thằng Pôn, rồi cười ngặt nghẽo:
- Ừ, giống thật!
Ma-ri không tìm ra chùm thìa khóa, thì lo lắng. Hắn đứng lặng để nghĩ. Bỗng hắn sửng sốt:
- À! Còn ba cái răng vàng. Suýt quên.
Hắn vừa nói dứt, thì thằng Pôn và thằng Giăng cùng thốt lên tiếng reo mừng:
- À! Ừ nhỉ.
Thằng Giăng nhanh nhẹn, vội vàng nhảy lên giường. Nhưng nó bị thằng Pôn kéo ngay cẳng lại, để lên tranh. Song, thằng Giăng đè sấn lên anh, và giữ chặt lấy hai tay:
- Mày một, tao một, ma-măng một! Chia đều!
Thằng Pôn quằn quại:
- Không, đứa nào lấy được thì ăn cả.
Ma-ri quát:
- Không được! Của ba đứa con gái đấy!
- Không.
Hai thằng vật nhau trên giường. Trong khi ấy, người chết bị rùng rình, rùng rình, như con thuyền gặp sóng…
1963
❀ ❀ ❀
[1] Khách sạn của thực dân Pháp, lớn nhất Hà Nội. Nay vẫn là khách sạn, giữ nguyên tên.
[2] Đặt tiệc.
[3] Ốm nặng.
[4] Đứng đắn.
[5] Hai nghìn rưởi.
[6] Nghìn tám.
[7] Hai nghìn.
[8] Bạn thân.
[9] Hai nghìn hai trăm.
[10] Ký.