Dư luận phố Hàng Đào ầm lên về việc cô Lễ bỏ nhà đi theo trai.
Về điểm này, ta thấy bà con thật là thính. Cùng thì là vắng mặt ở hiệu Phúc Lâm, nhưng ngày cô Lễ về quê ngoại dưỡng bệnh, gần nửa tháng trời, thì không ai xôn xao, thế mà lần này, cô mới đi buổi tối hôm trước, sáng hôm sau, bà con đã biết liền, và nói đích xác là cô theo trai.
Cô Lễ theo trai hay đi đâu, chính hai cụ Tú cũng chỉ dám nghi ngờ trong bụng, chứ chưa ai nỡ nói ra miệng với nhau. Có lẽ nói ra miệng thì đau xót, thì xấu hổ, và sợ lỡ không đúng, thì oan cho cô con gái cấm cung ngoan nết chăng. Vả cả hai cụ, lẫn vợ chồng cậu Nghĩa cho đến u già, đều là những người ít nói, trong gia đình có việc gì to nhỏ, có ai nói lọt ra ngoài bao giờ đâu. Thế mà lần này, trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay. Mà lại hay một cách rất đúng, chứ không phải vì thù ghét mà nói ác.
Cô Lễ phải lòng anh Thừa. Việc này, độc giả biết đã lâu. Nhưng cô giữ rất kín đáo. Song, thường thì trong nhà có con gái hư, bao giờ người ngoài cũng biết trước, người nhà biết sau. Và người biết cuối cùng, vẫn là cha mẹ. Cũng như người chồng có vợ ngoại tình, thì sau khi bị cắm sừng lên đầu nhiều lần, anh ta mới là người biết cuối cùng. Đó là nói những trường hợp biết. Bởi vì trái lại, có những người chồng có nhân tình, đã khéo bưng bít mắt vợ được mãi mãi, để khỏi bị nghi ngờ trong những vụ chim gái lần đầu. Đàn ông nông nổi giếng thơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu!
Tối hôm cô Lễ bỏ nhà ra đi, thì cô cũng làm như mọi bận, là xin phép hai cụ lên Hàng Đường với ông bà Cả. Hai cụ rất vui lòng. Vì chắc cô kiếm cớ thăm chú cô, để biết mặt cậu Nhân. Nhưng đến tám giờ, giờ mà mọi khi cô đi đâu cũng đã về rồi, u già toan gài cửa nhà ngoài, thì cụ bà bảo hãy chờ cô một lát. Rồi đến chín giờ, cô cũng chưa về. Đến mười giờ thì hai cụ đã bắt đầu sốt ruột. Đến mười một giờ, cụ bà gọi cậu Nghĩa ở trên gác xuống, bảo:
- Quái, chị con đi đâu mà bây giờ chưa về nhỉ. Hay bị cảm, nằm lại trên nhà chú Cả chăng? Đẻ cứ máy mắt.
Cậu Nghĩa lo lắng:
- Nếu nằm lại trên ấy, thì chú cô đã cho xuống bảo.
- Thế thì chị con đi đâu?
Ý cụ muốn sai cậu Nghĩa đi tìm, nhưng lại nể con. Cụ ông ngồi dậy, hỏi:
- Thế con nó có còn nói là đi đâu nữa không?
- Không, mới lạ chứ!
Cậu Nghĩa thưa:
- Hay là con đi tìm.
Cụ bà hỏi:
- Tìm ở đâu?
- Ở đàng chú Cả, bác Thủ, cô Ký, dì Trưởng.
Nói đoạn, cậu đi. Cậu đến khắp các nơi họ hàng mà mọi ngày cô Lễ hay lại chơi. Thấy việc bất thường, các chú bác cô dì đều giật mình, cùng đổ đi tìm với cậu Nghĩa.
Trong khi ấy, hai cụ Tú chong đèn lên, ngồi đối diện với nhau ở trường kỷ, không ai nói với ai câu nào. Cụ ông rung đùi. Cụ bà thở dài. Hẳn là hai cụ nghĩ ngợi nhiều lắm. Cụ bà soát lại áo quần và tư trang của cô Lễ, không thấy thiếu thứ gì. Cụ hơi yên lòng. Mợ Nghĩa lúc xuống nhà, lúc lên gác, lúc vào bếp thì thầm với u già.
Đến một giờ sáng, có tiếng gõ cửa. Mợ Nghĩa mừng quá, vội vàng ra mở thì chán ngán làm sao, chỉ có cậu Nghĩa về một mình!
- Con đã đi khắp cả, không thấy chị con đâu. Con lại lên cả Cột cờ và đi quanh hồ Gươm, cũng chẳng thấy gì.
Cụ ông tặc lưỡi:
- Có những người nhà quê không biết đường mới bị phu xe kéo lên Cột cờ để bóc lột chứ.
Cụ bà cau có:
- Thầy đẻ sốt ruột mà con không biết hay sao, còn đi quanh hồ Gươm.
Cậu Nghĩa đáp:
- Con đi tìm chị con ạ.
Mợ Nghĩa nói:
- Tại vì ít lâu nay, có nhiều người vẫn ra trầm mình ở hồ Gươm.
Cụ bà mắng:
- Sao con dám nghĩ bậy thế?
Cậu Nghĩa không đáp.
Cụ ông hỏi:
- Con thử đoán xem chị con đi đâu?
Không chờ con trai trả lời, cụ bà nhắc:
- Ông bấm lại tử vi của con xem sao nào.
Cụ ông soi đèn vào buồng thờ, lấy lá số của cô Lễ. Cả nhà yên lặng chờ. Một lát, cụ thản nhiên, lắc đầu:
- Không có cái hạn nào cả.
Rồi cụ rung đùi, ngửa mặt lên xà nhà để nghĩ.
Trong khi ấy, cụ bảo u già đun một ấm nước sôi, bảo mợ Nghĩa xếp một cơi trầu, rồi cụ mở rộng bốn cánh cửa buồng thờ. Cụ đặt trầu lên án tam sơn, bóc gói chè mới để pha nước. Rồi thắp năm nén hương, cụ chắp tay đứng vái, xuỵt xoạt khấn. Cụ xin tổ tiên dun dủi con gái cụ đi đâu chóng mà về, tai qua nạn khỏi, và phù hộ cho cả nhà được mạnh khỏe, bình yên, vô sự.
Vái xong ba vái, cụ lui ngồi trên trường kỷ, hai dòng nước mắt chảy xuống má. Cụ bàn với cụ ông:
- Sáng mai, chờ đến mười giờ, nếu không thấy con về, thì ông nên vào trong cậu mợ Nhì xem.
Cụ ông gật:
- Có lẽ thế. Có khi có điều gì trong bụng, nó nói với cậu mợ, mà giấu cha mẹ cũng nên.
Rồi cụ hỏi cậu mợ Nghĩa:
- Các con xem ý chị con độ này thế nào?
Cố nhiên mợ Nghĩa không biết gì, nên đứng im. Nhưng cậu Nghĩa dù có nghi chị của cậu với anh Thừa, thì vì sợ phải mắng, nên cũng không dám nói. Và cậu không nỡ đổ cho chị cái việc cậu còn ngờ, việc ấy lại không bao giờ có thể xảy ra ở trong một gia đình như gia đình này. Cụ bà bảo hai con:
- Sáng sớm mai, cậu tìm khắp nhà xem chị có để lại giấy má gì không, rồi cứ yên tâm đi học như thường. Còn mợ thì đi khắp các nhà họ hàng một lần nữa cho đẻ. Đẻ phải xuống Khâm Thiên, nhờ thầy Đắc xem cho một quẻ.
Thế là trong gia đình Phúc Lâm, ai nấy còn hồ đồ, và bán tín bán nghi mất đến hai hôm. Nhưng hàng phố thì chỉ trong một buổi sáng, người ta đã nhặt từng mảnh chuyện, chắp lại với nhau cho ăn khớp, để dựng lên sự thật: Cô Lễ đi theo trai.
- Chính mắt tôi, một lần trông thấy cô ấy đưa cái gì cho một anh ở trên chợ Đồng Xuân.
- Chính tôi bắt gặp cô ấy đứng sau rạp hát Tây ngoài Đồn Thủy, cười cười với một người mặc quần áo Tây, đeo kính trắng.
- Có lần lúc tám giờ tối, tôi thấy cô ấy đi bộ từ Hàng Bồ về Hàng Đào.
- Tôi ở trước cửa, nên tôi biết. Ít lâu nay, có một anh lẹm cằm, động qua lại nhà Phúc Lâm, là cứ dòm dòm vào trong.
Thế là tất cả đều đồng thanh:
- Ừ phải, lẹm cằm. Tôi nhớ ra rồi. Thôi, thế thì cô ta phải lòng anh lẹm cằm, và đi theo anh ấy rồi.
Người ta không biết anh lẹm cằm là ai, nhưng cùng kết luận câu chuyện như vậy.
Thế là tin cô Lễ theo anh lẹm cằm được lọt vào đến nhà Phúc Lâm. Hai cụ Tú biết anh lẹm cằm là ai rồi. Nhưng hàng phố đoán là anh sinh viên Cao đẳng học trường Lục lộ, sắp thi ra tham biện. Họ cho rằng anh này hỏi cô, nhưng hai cụ không bằng lòng, vì cớ anh ta góa vợ, nên anh ta quyến rũ cô.
Dần dần, những người ưu thời mẫn thế bàn với nhau, thử tìm nguyên nhân là vì đâu, một cô gái chín chắn là thế, bây giờ lại đâm ra đổ đốn làm vậy.
Người ta nhắc lại những vụ mấy cô tự tử xảy ra ít lâu nay ở hồ Gươm và hồ Trúc Bạch vì thất tình. Toàn là những chuyện yêu nhau không được lấy nhau, những chuyện gả bán ép uổng. Một người nói:
- Chỉ tại cái báo Chấn Hưng nó mở ra mục trưng cầu ý kiến về nữ quyền để nó làm hại con cái nhà người ta.
Một người khác thêm:
- Cả báo Trung Bắc lẫn Thực Nghiệp, thỉnh thoảng đăng thơ, đăng tiểu thuyết, như xui con gái đi theo trai ấy.
Một người khác nữa nói:
- Cho nên tôi cấm trẻ nhà tôi đọc báo với đọc tiểu thuyết. Lợi chả thấy đâu, thấy ngay cái hại trước mắt, là nó bỏ cả khâu vá, làm ăn.
Lời bàn tán sôi nổi hơn:
- Tôi mà là nhà nước, thì tôi đóng cửa các trường nữ học. Con gái biết chữ, chỉ tổ viết thư cho trai, chứ được tích sự gì. Mà trường nữ học dạy học trò ra làm cô giáo. Lớp cô giáo này lại dạy học trò ra làm lớp cô giáo sau. Thì ra mở trường nữ học chỉ dạy cho người ta làm cô giáo. Mà cô giáo thì toàn đồ hư hỏng, tập tọng dăm ba chữ, đã đòi bình đẳng với tự do!
- Nhưng cô giáo chưa hư hỏng bằng cô đỡ. Cô đỡ thì không cô nào không mất trinh với lão quan ba đốc tờ Lơ Roa Đề Ba[1]. Không cho nó chơi thì nó đuổi, không cho học, không cho đỗ, hoặc phải bổ lên mạn ngược. Mà con gái học thuốc, nhìn thấy đàn bà lẫn đàn ông trần truồng, lại học lẫn với con trai, đi tập sự với nhau ban đêm trong nhà thương, cho nên dễ chửa hoang lắm.
- Nhưng giá không có mấy tờ báo nó nống lên, thì cũng không đến nỗi hại lắm.
- Đúng thế. Nhất là báo Chấn Hưng. Không khác gì ông Dài[2] phun nọc độc.
- Sao mà nhà nước cứ để cho báo ấy ra mãi, không cấm phăng đi có tốt không?
- Nhà nước lắm việc, nghĩ đâu đến những điều ấy. Chỉ có ta đây này. Một là đừng đọc nó. Hai là ta đến tòa soạn bảo nó. Ba là nếu nó cứ chứng nào giữ tật ấy, thì ta thuê du côn vào phá tòa báo, khiền cho những thằng viết báo một trận cho mà chừa.
- Việc này thì phải bảo học trò trường Bưởi mới làm nổi. Họ đánh con Tây được, phá hiệu khách được, thì phá tòa báo An-nam nhảm nhí nổi thừa.
- Phải đấy. Chứ để báo Chấn Hưng thì còn vô số con gái nhà tử tế đi theo trai, với đánh đĩ, với tự tử.
- Mà con trai thì thành công tử bột.
* * *
Từ ngày tiếng dư luận là cô Lễ theo anh lẹm cằm lọt vào nhà Phúc Lâm, thì cái hình ảnh bình thường mấy chục năm nay của gia đình này mất hẳn đi. Ngày phiên chợ Đồng Xuân, cửa hàng không mở. Cụ Tú ông không ngồi ở trường kỷ. Cụ nằm suốt ngày trên mặt ghế. Đến mười hai giờ trưa, cụ không lên Đông Hưng viên ăn tỉm xắm và uống chè Long Tỉnh nữa. Hai cụ gầy tọp hẳn đi. Trong nhà yên lặng hơn trước. Thỉnh thoảng có nghe tiếng nói, chứ tịnh không có tiếng cười. Song, tiếng khóc và tiếng thở dài còn nhiều hơn tiếng nói.
Cậu Nghĩa chắc chắn là cô Lễ theo anh Thừa. Cậu đứng rình ở tòa báo Chấn Hưng, để dò xem anh Thừa về nhà riêng ở đâu. Nhưng cậu phải ngày hai buổi đi học, nên không thể làm được việc ấy chu đáo, cậu bảo mợ làm thay. Thì một lần, mợ về, mách rằng thấy anh Thừa gọi xe, mặc cả lên Yên Phụ. Mợ không dám thuê xe đi theo, vì sợ tối, và qua những quãng vắng.
Cụ ông thấy hai con bàn nhau, thì bảo:
- Vô ích! Mặc kệ xác nó! Biết chỗ nó ở thì làm gì? Thầy đẻ không có thứ con bất hiếu bất mục như thế!
Một hôm, bà Nhì Tòng ở trong nhà quê ra thăm hai cụ. Cụ bà khóc rưng rức:
- Anh chị nhục nhã với hàng phố, không còn dám thò mặt ra đường nhìn ai nữa. Xót xa, đau đớn quá! Mình muốn nó hẳn nó hoi, thì nó lại bôi gio trát trấu vào mặt mình!
Bà Nhì thở dài, an ủi cụ:
- Cũng là cái số nó thế, bác ạ. Chứ ai muốn một lầm hai lỡ làm gì. Chẳng qua là nó ăn phải bùa phải bả, cho nên mới dại dột như thế.
Rồi đến tối, lúc đi nằm, bà tỉ tê nói:
- Bác ạ, em ra đây, muốn thưa với hai bác một câu chuyện, nhưng thấy bác giai giận cháu quá, em không dám nói. Em nói với bác vậy.
- Vâng. Xin mợ cứ cho biết.
- Bác ạ, cháu Lễ mới về trong em hôm qua. Nó lạy van em, nhờ nói với hai bác cho nó về.
Cụ bà cựa, rên rỉ:
- Giời ơi!
- Thế này, bác ạ. Mẹ thì bao giờ cũng thương con gái hơn bố. Nếu bác hồi tâm thương cháu, thì bác lựa lời xin với bác giai cho vợ chồng nó về.
Cụ bà lại rên rỉ, nói giọng đay nghiến:
- Vợ chồng nó về!
- Vâng, để vợ chồng nó lạy tạ hai bác tha thứ cho chúng nó. Người ta đánh kẻ chạy đi, chứ ai đánh kẻ chạy lại. Nó như thế là hư thật, nhưng thế là chúng nó thành vợ thành chồng rồi. Nó chẳng được cha mẹ đặt để cưới xin, là nó chịu thiệt vì nó dại rồi. Nhưng con người ta tránh chẳng khỏi số. Bây giờ Nguyệt lão đã xe cho chúng nó, mình là cha mẹ, cũng phải đành, chứ biết làm thế nào. Đằng nào chúng nó cũng là con mình, rể mình. Mình không nhận thì thiên hạ cũng nhận. Vả lại, em nhìn mặt mũi thằng chồng, thấy cũng là đứa hiền lành, đứng đắn. Em nghe cháu Lễ nói, thì ra nó làm rể hai bác cũng xứng đáng, chỉ có một tí tội, là chúng nó dám vượt quyền hai bác thôi.
Cụ bà nhắc lại:
- Nó đến lạy van cậu mợ, nhờ xin với anh chị cho vợ chồng nó về?
- Vâng. Để lạy tạ hai bác tha thứ cho chúng nó.
Cụ Tú ngồi dậy, sờ tráp, lấy miếng trầu để ăn, rồi thở dài:
- Nó chờ mợ ở trong nhà à?
- Không. Vợ chồng nó ra Hà Nội ngay.
- Nó ở phố nào, mợ có biết không?
- Em có hỏi, nhưng chúng nó giấu.
- Thế thì làm thế nào nó biết là anh chị có cho phép chúng nó về hay không?
- Nó hẹn vài hôm nữa lại vào trong nhà.
Cụ Tú yên lặng. Bà Nhì nói:
- Em xem ý hai đứa thương yêu nhau lắm, cho nên tuy em giận, nhưng cũng mừng cho nó. Vợ chồng lấy nhau cũng chỉ đến yêu thương nhau là ăn ở với nhau được suốt đời. Em nghĩ rằng cháu Lễ nó nhiều tuổi, biết suy xét, cho nên việc trăm năm của nó, nó phải tính toán kỹ lưỡng, chứ không phải lên năm lên ba gì mà gọi là bị quyến rũ. Vì vậy, em nhận lời với nó, ra nói với hai bác hộ nó.
Cụ Tú sụt sịt:
- Mợ thử nghĩ mà xem, vào địa vị mợ, thì mợ xử thế nào. Anh chị hiếm hoi, được có tí giai tí gái, cho nên anh chị phải kén cho nó một người chồng xứng đáng, để anh chị cho ở rể, vui cửa vui nhà. Thế mà bây giờ nó vượt quyền cha mẹ. Làm thân con gái mà mang tiếng theo giai, có phải nhục nhã suốt đời, mà bêu riếu cha mẹ hay không?
- Thôi, nhưng mà cháu nó trót dại, nay đã biết hối, thì mình là cha mẹ, nên đánh cho hai chữ đại xá. Nó đến nhà em ra nói với hai bác. Em chỉ nghĩ rằng tại sao nó không nhờ người khác, lại nhà em. Hẳn nó tin rằng em nói thì hai bác nghe hơn là người khác nói. Vì vậy, em nhận lời. Bác ạ, kể hàng các cháu nội ngoại của các cụ nhà ta, thì cháu Lễ là lớn tuổi nhất. Ngày còn cụ bà, cụ yêu cháu nhất đấy. Cho nên, em nhớ đến cụ bà, mà ra đây xin hộ cháu.
Cụ Tú thở dài:
- Thôi, mợ nói thì chị nể, nhưng chị chả biết nghĩ thế nào. Việc ấy, quyền ở anh. Chị mà bằng lòng, sợ anh gắt.
- Bác giai thì lành như cục đất, thế nào chả xong, cốt ở bác ấy chứ. Mai, em thưa chuyện với bác giai, bác nói vào cho một câu là được, để em về, kẻo việc nhà còn bề bề ra đấy.
Cụ Tú không đáp.
Sáng hôm sau, bà nhì Tòng dậy sớm, ngồi uống nước với hai cụ Tú, rồi đắn đo mãi, mới dám nói việc cô Lễ với cụ ông. Nhưng cụ ông xua tay:
- Thôi. Tôi không nghe. Rờm tai! Rờm tai!
Bà Nhì cứ nói. Bà viện hết những lý do đã thuyết phục được cụ bà đêm trước, rối liếc mắt, để nhắc cụ bà xin hộ. Nhưng cụ bà chỉ sụt sịt khóc. Cụ ông nói:
- Anh chị nể mợ thì nể những việc khác. Còn việc này là việc gia đình của anh chị, xin mợ mặc anh chị. Anh chỉ nhờ mợ nhắn nó một câu, là nếu muốn về, thì sắm lấy con dao găm, một mình nó về trước, để thí cho cha mẹ và hai em mỗi người một nhát, rồi hãy đưa thằng kia về.
Bà Nhì dịu dàng:
- Chết, sao bác lại dạy thế?
Cụ ông nhăn mặt:
- Thì tôi đã bảo rờm tai, tôi không nghe kia mà!
Một lát, cụ tiếp:
- Dư luận hàng phố đã yên rồi. Nay hai đứa vác mặt về, để hàng phố lại ầm lên phen nữa à? Anh chị già rồi, chịu nhục một lần thôi chứ. Chịu đến lần thứ hai, để mà ốm chết à?
Bà Nhì cười:
- Bác tưởng thế đấy thôi. Chứ dư luận dù xôn xao mấy, rồi dần dần cũng yên hết. Và rồi việc gì cũng thành bình thường cả. Ai hư cho bằng cụ Lạc làng ta ngày còn con gái. Thế mà bây giờ con cháu đầy đàn, gia đình vui vẻ. Cả làng có ai nhắc đến chuyện cũ nữa đâu. Mấy lị đèn nhà ai nấy rạng. Thời buổi tây tàu rồi ra còn khối cái nhố nhăng, thì ai dám chắc chắn con cháu mình thế nào, mà cười người hôm trước để hôm sau người cười?
Cụ ông lại nhăn mặt:
- Mợ nói, tôi có để vào tai đâu.
- Hôm qua, em đã thưa với bác gái, bác gái đã nghe ra mà rủ lòng thương cháu. Em biết là bác khó tính, nên hôm nay mới dám thưa với bác…
Có lẽ không muốn nghe thêm, cụ Tú tặc lưỡi:
- Tùy đấy.
Bà Nhì sung sướng, nở một nụ cười:
- Vâng, thế là bác thương cháu lắm rồi.
Cụ Tú lại nói:
- Tùy đấy.
* * *
Năm hôm sau, vào buổi tối, cô Lễ đưa anh Thừa về nhà, hai người đi hai chiếc xe giương mui. Vì vậy hàng phố không ai chú ý.
Cô Lễ rón hai ngón tay gõ khẽ vào cửa. Cô phải gõ đến lần thứ ba, mạnh hơn, trong nhà mới có tiếng hỏi ra:
- Ai?
Cô không dám lên tiếng, lại gõ thêm lần nữa.
Cái lỗ tròn ở cánh của hé ra, rồi đóng ập ngay vào. Nhưng cửa chưa mở ngay. Cô Lễ hồi hộp, bảo anh Thừa:
- Chắc còn phải bẩm thầy đẻ.
Một lát sau, tiếng then kêu lạch xạch, rồi hai cánh cửa mở ra. U già nhìn cô, chào khẽ:
- Cô đã về.
Cô Lễ thấy cụ ông ngồi ở trường kỷ, và cụ bà đứng trước ngọn đèn đặt trên bàn. Bỗng cô òa lên khóc, chạy vào trước cha mẹ. Anh Thừa bẽn lên theo sau. Anh chắp tay, khom lưng, vái hai cụ. Cô Lễ ngồi thụp xuống đất, vừa khóc vừa lạy. Nhưng cụ Tú ông quay mặt vào phía buồng thờ, không nhìn. Và cố làm ra thản nhiên, cụ vẫn vắt một chân thõng xuống đất, đùi rung tít.
Cô Lễ vẫn khóc và vẫn lạy. Anh Thừa chắp hai tay, cúi gập đầu xuống, không dám cựa quậy. Cụ bà nhìn chồng và nhìn con gái, thì hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Không cầm lòng đậu nữa, cụ ngồi xuống trường kỷ, rồi gọi:
- Ông! Ông! Ông nghĩ lại cho con nó nhờ.
Nhưng cụ ông không nhúc nhích.
Cụ bà lại gọi:
- Ông! Ông!
Bỗng cụ ông, mặt vẫn quay vào trong, gọi như quát:
- Nghĩa đâu?
Cậu mợ Nghĩa từ nãy lánh mặt lên gác, thấy cha gọi, vội vàng thưa:
- Dạ.
Cậu rón rén xuống thang, không nhìn cô Lễ, không nhìn anh Thừa, đi thẳng đến gần cụ Tú. Cụ vẫn quay vào trong, nhưng trỏ tay ra phía ngoài:
- Bẩn mắt thầy lắm! Đuổi chúng nó đi!
Cô Lễ lại òa lên, và lạy.
Cậu Nghĩa chỉ nhìn chị. Cậu nhăn nhó, thở dài. Bỗng lại tiếng quát:
- Đuổi chúng nó đi! Nghĩa!
Cậu Nghĩa sợ tái mặt, vội vàng giơ cánh tay, đẩy anh Thừa:
- Đi ra!
Anh Thừa không biết làm thế nào, đành phải theo. Anh len lén chuồn ra cửa.
Trong khi ấy, cô Lễ nằm vật xuống đất, vừa nức nở, vừa kêu:
- Con lạy thầy, con lạy đẻ, thầy đẻ thương chúng con.
❀ ❀ ❀
[1] Le Roy Des Barres: bác sĩ, hiệu trưởng trường cô đỡ, Hà Nội.
[2] Con rắn.