Việc Ma-ri và anh Xi hiềm khích nhau, chớm nảy từ ngày Ma-ri còn là cô đốc và anh Xi còn là người kéo xe ở phòng thuốc nhà giàu. Đến bây giờ anh Xi lên Cẩu Rồng cấy ruộng đồn điền, lại một thời gian, anh nhận luôn cả việc nuôi Mão, cho nên, dù giữa anh và Ma-ri không có chuyện gì, nhưng trong lòng Ma-ri cứ coi anh như người bên cánh mẹ Mão. Gặp anh, nhất là gặp vợ anh, là chị họ của kẻ thù, Ma-ri không làm sao nuốt được cái giận nó như đè lên đến cổ. Vả lại, mỗi lần mẹ Mão đến Cẩu Rồng thăm con, qua dinh, lại vào cho ông hàn bà hàn một trận tán loạn, rồi sau đó, đến nhà anh Xi để ở, thì Ma-ri càng ghét anh Xi, coi anh không khác gì kẻ thù.
Sau ngày Thừa đem Mão về Hà Nội, nhờ ông bạn nhà thơ Tình muôn thuở giáo dục hộ, thì Ma-ri cho là anh Xi không còn bám vào lý do nào mà nói cứng để không nộp thóc. Hắn gọi anh vào dinh. Hắn định ngọt ngào thôi. Nhưng không hiểu sao, vừa nhìn thấy anh, hắn đã không nén được hằn học. Hắn chễm chệ ngồi trên sập, nghiêm nét mặt, nói như truyền phán:
- Từ nay, cái thằng bé con con mẹ trời đánh không ở với chú nữa, thì chú phải nộp thóc cho tôi. Mỗi sào bốn mươi cân.
Anh Xi cười:
- Có họa là ruộng màu mỡ nhất Hải Dương! Xin bác trông lại, thế thì nặng quá.
Ma-ri gay gắt:
- Trông lại với trông đi gì! Chân ruộng chú cấy là chân ruộng tốt nhất đồn điền đấy. Sao người ta nộp được mà chú lại kêu là nặng?
Anh Xi vẫn cười:
- Tôi biết đâu với người ta đấy. Bác thử nghĩ xem, bác bắt bốn mươi cân, có ai nộp đủ đâu?
Ma-ri đẩy cái tráp trẩu ra giữa sập:
- Không nộp đủ đã có ba-toong của ông đội.
Thấy Ma-ri làm như dọa, anh Xi bực mình. Ma-ri dịu giọng:
- Trước kia, chú nhờ thằng con con mẹ trời đánh, nó ở nhà chú, thì chú được nể nang, quan nói với tôi ngơ cho chú, không bắt chú nộp thóc. Bây giờ chú không được nhờ nó nữa, thì tôi bảo chú, chú phải nghe. Hẳn chú biết đồn điền này là đồn điền của tôi, chứ không phải của quan mà chú có thể nhờn được!
Anh Xi tức khí:
- Trước hết, xin nói bác rõ, là bác trai nhờ tôi nuôi thằng Mão, là con bác gái cả, thì tôi nể, tôi nuôi, chứ không phải tôi xin việc ấy để nhờ nó.
Ma-ri lé mắt, nghiêng đầu, hỏi:
- Thế nào? Chú nói thằng Mão là con ai?
Biết là Ma-ri đau, anh Xi nhắc:
- Con bác gái cả.
Ý anh muốn hạ Ma-ri xuống hàng vợ lẽ. Mặt Ma-ri hầm hầm, đập bàn tay vào mặt tráp tròn:
- À! Chú này khinh người thật. Chú cấy ruộng của tôi, mà chú ăn nói thế à? Ai là bác gái hai?
Anh Xi không đáp vào câu Ma-ri hoạnh. Anh nói tiếp:
- Thế thì bác quên đấy. Không phải bác trai nể nang tôi, nói với bác ngơ cho tôi không nộp thóc, mà chính là tôi nuôi thằng Mão thì thóc đáng tôi phải nộp, để lại cho nó ăn không đủ, bác trai còn bù thêm tiền.
Ma-ri hầm hầm:
- À, thế là chú bảo tôi nói điêu à? Chú có nhớ cái ngày vợ chồng đói rạc đói rầy, kéo nhau lên đây lạy lục tôi…
Anh Xi ngắt lời:
- Kéo nhau lên đây thì có, nhưng lạy lục thì không. Chẳng qua là bác có của, tôi có công…
- À, quân này bạc!
Rồi hắn trỏ vào mặt anh Xi:
- Làm thân đầy tớ thì biết phận đầy tớ, không ai bác bác cháu cháu với nhà người. Có khôn hồn thì nộp đúng bốn mươi cân một sào. Muốn nói lôi thôi thì xuống dưới ông đội mà nói, để mà ăn ba-toong!
- Bác không nên nói quá.
Ma-ri thét:
- Quá quá cái gì? Bướng thì trả lại ruộng. Rồi xéo đâu thì xéo. Đây không cần. Coi không lại rã họng như lần trước. Truyền hồn cho mà biết, lần sau đói khát mà đến đây, không ai hoài của mà thí cho đâu!
Hắn lại tiếp:
- Trâu ngựa không biết phận trâu ngựa!
Anh Xi tức điếng người, không nói được ra lời. Anh không chào Ma-ri, quay lưng đi ra.
* * *
- Nó đểu nhỉ.
Chị Xi vừa dỡ nhà, vừa nói với anh Xi câu ấy. Anh Xi cười khinh:
- Nó đểu, cho nên nó mới giàu. Và càng giàu, nó càng thêm đểu. Và càng thêm đểu nó mới càng thêm giàu.
- Nhưng nó chỉ đểu với bọn nhà nghèo chúng mình thôi, còn đối với bọn nhà giàu, nó vẫn tử tế.
Anh Xi lắc đầu:
- Không phải! Đối với bọn nhà giàu, nó cũng đểu, nhưng ngoài mặt, làm ra tử tế. Đối với bọn nhà nghèo chúng mình, nó vừa đểu vừa khinh. Nhục không chịu nổi!
Chị Xi nói:
- Trả ruộng nó là phải. Để không dính dáng gì với nó, xem nó có dám khinh nữa không nào! Chẳng lẽ bốn cánh tay thế này mà chịu đói à?
Anh Xi khí khái, không chịu cái con người đáng khinh nó khinh mình. Hôm sau, anh đến trả Ma-ri tất cả mấy sào ruộng vừa sỏi vừa cát. Anh dỡ cái nhà của anh để dựng lại ra ngoài khu vực của đồn điền, vào mảnh hơn hai sào, vợ chồng anh vừa vỡ xong mấy tháng nay, đương trồng sắn. Anh ngắm chỗ này. Đất bỏ không còn nhiều, nếu có công, có thể mở rộng đến hai ba mẫu.
Bởi vậy, trả ruộng của Ma-ri xong, ngày ngày hai vợ chồng anh cật lực ra để phá hoang. Ngả cây to, chặt cây nhỏ. Anh khỏe hơn, pha cành làm củi, cưa thân lấy gỗ, rồi đào bật những gốc lên. Chị làm những việc nhẹ, phát lau sậy, để vài nắng cho khô, rồi đốt lấy tro. Đất quang đến đâu, anh cuốc đến đấy để gieo hạt giống. Mưa, nắng, sớm, tối, không ai kỳ quản. Đêm có trăng, mãi đến khuya, hai người mới nghỉ tay.
Làm xong cái nhà, vợ chồng có chỗ ở vững chãi, mới sung sướng, đứng ngắm xung quanh. Xung quanh hạt gieo mọc mầm, đã xanh lấm tấm. Anh thăm chỗ để đào cái giếng. Chị muốn làm thêm chuồng nuôi lợn.
Thấy chắc chắn là không thiếu ăn, anh Xi vui vẻ bảo vợ:
- Mình nên rủ vài người ra đây ở, để có hàng xóm láng giềng cho vui. Còn khối đất. Tội gì phải nhờ họ, vừa bị khinh rẻ, vừa không đủ ăn, vừa mang tiếng là chịu ơn.
Từ ngày thấy anh Xi vỡ hoang, lại làm nhà ngoài đất của đồn điền, Ma-ri căm lắm. Hắn tưởng buộc nổi chân anh trong phạm vi thế lực của hắn, để hắn đày đọa cho anh khổ nhục. Nhưng bây giờ anh rộng cẳng rồi. Anh lại không nợ nần, không nhờ vả gì ông hàn và bà hàn nữa.
Ma-ri lại lo rằng hắn không có quyền, thì anh Xi sẽ khỏi vòng cong đuôi, bướng bỉnh với hắn. Và có thể anh xui người khác bướng bỉnh.
Hắn mở địa đồ đồn điền để xem. Đúng là anh Xi không đụng đến đất của hắn thật. Vậy làm thế nào cho anh lại là người dưới, để anh phải sợ hắn. Lại cho anh ruộng để cấy như cũ chăng? Chẳng bao giờ anh nhận nữa. Anh đã có đất mới, và làm xong nhà rồi. Vả làm thế thì chả hóa ra ông bà hàn cần anh lắm à? Anh sẽ lên câu. Cho anh vay tiền để bắt anh nợ chăng? Nhưng ngộ anh không muốn liên lụy, vì anh đã dứt khoát thì sao? Tính anh này chẳng khái là gì? Ma-ri rất bực tức.
Hắn đem việc bực tức này lên tỉnh, than thở với lão Tây chánh sở Địa chính. Để an ủi người đẹp, mà lại hay cả giận, lỡ ốm mất thì uổng công nhào nặn của Tạo hóa, tên này gật đầu, mỉm cười, lấy cái bút chì đỏ, đặt trên tờ địa đồ, vạch thật nhanh một khoanh rộng ra ngoài địa phận đồn điền Cẩu Rồng.
Ma-ri không hiểu nó làm gì. Hắn hỏi, thì nó giảng:
- Thế là tôi thay mặt nhà nước, nhận đồn điền của bà là rộng đến đấy.
Ma-ri mừng, rú lên, khen:
- Nhạy quá nhỉ!
Ma-ri cảm ơn tên Địa chính.
Nhưng anh Xi thấy mảnh đất mà hai vợ chồng anh đã hao tổn bao nhiêu công lao trong bao nhiêu ngày tháng, chỉ nháy mắt, vì một nhát bút chì, mà biến thành ra của Ma-ri, thì anh không chịu.
Anh đưa đơn kiện đến tòa sứ là Ma-ri cướp ruộng. Công sứ Mát-xi-li mà Thừa vẫn khen là biết thương dân, đã xét đơn của anh. Nó gọi anh đến bàn giấy và hỏi anh. Anh kể tỉ mỉ tại sao anh trả ruộng và anh vỡ hoang thế nào. Anh trỏ cho nó thấy một nửa mặt anh còn sưng vù lên, chưa khỏi, vì trèo lên cây để chặt cành, anh bị cả một đàn ong xúm lại đốt. Anh cũng giơ cho nó xem, hai ngón chân bị cuốc bập vào suýt đứt, cái đêm không trăng, anh đi làm rễ cây, trông không rõ, đã giáng chệch lưỡi sắt thật mạnh vào chân anh.
Tên công sứ cáu với Ma-ri lắm. Nó hứa với anh Xi:
- Cứ về mà tiếp tục làm ăn, cụ lớn sẽ xét.
Cụ lớn Chính phủ bảo hộ có xét thật. Nhưng cụ lớn xét bằng cách tư ra sở Địa chính, nhờ sở này điều tra xem chỗ đất mà người nông dân nghèo vỡ hoang này là đất công hay đất đồn điền của Ma-ri.
Cố nhiên là suýt nữa anh Xi mang thêm tội chiếm đất của đồn điền Cẩu Rồng, còn dám vu tiếng xấu cho bà chủ đồn điền ấy.
Biết là anh Xi ức lắm, Thừa lấy tình cũ, đến an ủi anh. Hắn nói rằng nhất định không bắt anh chia thóc, mà còn nộp thuế nhà nước hộ anh trong ba năm. Anh Xi hỏi:
- Thế còn ngoài ba năm thì sao?
Thừa tặc lưỡi, lấy giọng xuê xoa, đáp:
- Ba năm, rồi còn khối cái thay đổi, cần gì phải nói trước? Biết ngày ấy chú có còn ở đấy, hay có vốn thì lại về quê nhà?
Anh Xi không rõ luật lệ hiện hành, là đất mới vỡ thì được miễn thuế trong ba năm. Thấy Thừa ăn nói nhã nhặn và có bụng tử tế, anh được hả dạ.
Anh Xi bị bắt với bốn mươi hai người buôn thuốc phiện lậu đêm trước, thì tinh sương hôm sau, chị Xi đến gặp Thừa:
- Thưa quan, nhà em làm sao lại gặp hạn thế ạ?
Thừa vờ ngạc nhiên, trợn tròn đôi mắt:
- Tôi cũng không biết. May cho tôi, lúc ấy tôi không có đây, không thì cũng phải bắt nốt.
Chị Xi ngồi phệt xuống đất, khóc:
- Nhờ quan có quen thuộc ai trên tỉnh, quan nói hộ nhà em, kẻo nhà neo người, em thì sắp nằm bếp. Oan nhà em lắm, quan ạ.
Thừa an ủi:
- Được rồi, thím cứ yên tâm, chú ấy không làm gì, thì thím đừng lo mà yếu người.
Chị Xi sụt sịt ra cổng, Ma-ri nhìn theo, rồi lườm chồng.
Về việc này, các báo hàng ngày đều đăng ở trang nhất, là Một vụ bắt bớ quan trọng. Những người phóng viên viết tin đều nghĩ đến bài dài hay ngắn, để làm nhiều hay ít văn chương hơn là cần đúng sự thật. Họ làm như chính lúc ấy họ cũng ở đấy, nên tả cả từ cảnh yên lặng của ban đêm, đến tiếng kêu, tiếng thét, tiếng khóc, tiếng chân người chạy, người đuổi. Rồi cuối bài, họ chế giễu nét mặt gân guốc nhưng tiu nghỉu của những người bị xích tay, và ca ngợi nét mặt rắn rỏi và cương quyết của những nhà chức trách. Tức là thằng lính sen đầm hạng nhì nghiện rượu, và mười người gọi là cút-lít gầy gò.
Và trước khi chấm dứt bài tường thuật tỉ mỉ vụ bắt bớ quan trọng, nhà phóng viên không quên hẹn hò độc giả đón tin thêm ở số báo hôm sau.
Từ hôm có bài báo đăng, thân nhân những người bị bắt về hội kín đến Cẩu Rồng tấp nập, để hỏi thăm tin. Nhưng Thừa lánh mặt, nói dối là đi vắng.
Vì họ là những người ở Hà Nội, ở Hải Phòng, và ở các tỉnh khác, vì họ là những tay buôn bán thạo, quen biết rộng, cho nên người nào cũng tìm được bạn, hoặc lần một dây bạn, để tới những nơi đáng tới.
Những nơi đáng tới là quan chánh án, quan dự thẩm, quan tham lục sự ở tòa án, quan tham đầu tòa ở tòa sứ, hoặc cụ sếp nhất, sếp nhì chưa đầy ba mươi tuổi, làm nghề coi đề lao. Ấy là chưa kể bọn thông phán, thừa phái dinh tuần phủ, bọn thư ký, ký lục, hoặc loong-toong tòa sứ, tòa án, sở cẩm, cũng phải tiếp những khách của họ đến, nhờ đưa tới những nơi có thế lực cao hơn, như quan chánh án, quan dự thẩm, quan tham lục sự, và quan tham đầu tòa.
Mấy quan này được người đến nhờ việc, cũng không từ chối mà không đơm đó ngọn tre. Các quan đòi những món tiền, hoặc nhận những món tiền, rồi cũng nghe ngóng để cho một vài tin tức, làm người mất tiền nuôi được chút hy vọng.
Sự thực, vì vụ này là vụ án chính trị lớn, theo báo cáo của thằng cảnh sát trưởng Gôn tự khoe công, nên công sứ Vĩnh Yên giao việc dự thẩm cho phó sứ. Nếu có đăng đường, thì chánh án Việt Nam cũng chỉ ngồi làm bù nhìn. Tha ai hay xử ai bao nhiêu năm, cụ lớn chánh án chỉ dùng cái mồm nói hộ cái quyết định của tên chủ tỉnh người Pháp.
Nhưng vụ hội kín này không phải đăng đường. Những người bị giam nếm cơm trộn vôi và cá mắm thối nửa tháng ở đề lao, thì đều được tha cả.
Công sứ Mát-xi-li giận Thừa lắm. Nó gọi tên lừa pháp luật lên tòa, đập bàn và trừng mắt:
- Ông muốn gì nữa? Ông giàu cũng giàu rồi, danh giá cũng danh giá rồi, tại sao ông dám vu những người đến mua thuốc phiện lậu và đánh bạc ở nhà ông là Việt Nam Quốc dân đảng? Để ông ra làm quan nữa à? Cứ những thủ đoạn gian trá của ông, liệu ông làm quan rồi có như thằng tri huyện Lung không? Ông thật là vô nhân đạo, là khốn nạn!
Thừa đứng cắm mặt.
- Tội vu khống, tội lừa nhà nước của ông đáng bị bỏ tù. Nhưng tôi thương ông có một vợ với năm đứa con nhỏ.
Một lát, tên công sứ hỏi:
- Ông đã biển lận được của chúng nó bao nhiêu tiền?
Thừa không dám giấu:
- Trình cụ lớn, kém hai trăm đầy vạn hai.
Mát-xi-li cười khẩy:
- Không lẽ tôi bắt ông trả chúng nó bằng thuốc phiện lậu. Song, vì tiền ấy không phải là của ông, nên ông không có phép giữ riêng cho ông.
Thừa cúi đầu:
- Dạ.
- Nếu ông muốn tìm cách tiến thân, được phẩm hàm, mề đay, kim khánh, thì ông thiếu gì cách, mà phải vu oan giá họa cho đồng bào ông. Ở xã hội này, thiếu gì cuộc từ thiện mà người hảo tâm đáng được trọng thưởng? Vậy ông phải bỏ một vạn vào việc nghĩa, còn chỗ lẻ, tôi cho ông.
- Dạ, lạy cụ lớn, chúng con xin vâng.
- Ông có biết nước Pháp có thành phố tên là Sa-vi-nhông không?
Thừa ngớ ngẩn. Tên thực dân giảng:
- Là một thành phố bị tàn phá trong chiến tranh vừa rồi. Thành phố Sa-vi-nhông được thành phố Hải Phòng nhận làm con nuôi, xây dựng lại hộ. Hải Phòng đã bỏ ra rất lắm tiền. Những người có công giúp Sa-vi-nhông đều được thưởng xứng đáng. Tôi là người quê quán ở Sa-vi-nhông. Ông là người tỉnh Hải Dương, gần Hải Phòng. Vậy ông phải lấy danh nghĩa là người gần thành phố mẹ nuôi của Sa-vi-nhông, giúp cho Sa-vi-nhông món tiền mà ông đã ăn cắp. Nghe chưa?
Thừa như bị ăn cắp lại. Hắn điếng người.
- Dạ. Chúng con xin vui lòng.
- Được, hôm ông lên nộp tiền, tôi cho ông một đạo tưởng lục.
Thoát nạn, Thừa sung sướng quá.
* * *
Vì là vụ Việt Nam Quốc dân đảng, nên anh Xi và bọn buôn lậu bị giam ở gian chính trị phạm. Gian này nhốt chung cả người chưa thành án lẫn người thành án rồi. Trong số những người thành án rồi, anh Xi nhận ra một người hao hao giống một người anh đã gặp ở đâu mà không nghĩ ra. Chỉ có gầy, đen, và già hơn thôi. Mỗi lần đi lấy cơm, gặp người ấy, anh lại nhìn và cố nhớ ra xem là ai. Anh thấy người ấy cũng nhìn anh luôn.
Một lần, hai người đứng gần nhau, người ấy hỏi anh:
- Anh bị bắt về tội gì?
- Tôi không biết. Tôi bị lây với những người buôn thuốc phiện lậu có cờ hiệu màu đỏ vàng.
Người ấy nghĩ ngợi:
- Sao buôn thuốc phiện lậu lại có cờ đỏ vàng?
- Tôi không biết. Tôi cũng chẳng hiểu cờ đỏ vàng là cờ gì?
- Lá cờ Việt Nam Quốc dân đảng.
- Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học nổi loạn ở Yên Bái, Lâm Thao, Phụ Dực ấy à?
- Phải, thế anh là Việt Nam Quốc dân đảng à?
- Không.
Lần sau, anh Xi hỏi lại người ấy:
- Anh bị bắt về tội gì?
- Tôi treo cờ đỏ và rải truyền đơn.
- Cờ đỏ à?
- Cờ đỏ có hình búa liềm, là cờ cộng sản. Anh có nghe thấy hai tiếng cộng sản không?
Anh Xi nhìn người ấy, vẻ sợ hãi:
- Có. Cộng sản hay treo cờ và rải truyền đơn.
- Anh có hiểu búa liềm là thế nào không?
- Thấy các ông ấy bảo là những thứ để giết người, búa đập vào đầu, liềm móc vào cổ.
Người ấy cười:
- Không phải. Búa là đồ dùng của thợ thuyền. Liềm là đồ dùng của dân cày. Đảng cộng sản bênh quyền lợi cho thợ thuyền và dân cày.
Anh Xi ngớ ngẩn:
- Bênh sao nổi? Các ông ấy giàu lắm, nên mạnh cánh lắm. Các ông ấy quen cả quan ta lẫn quan Tây. Có tiền, các ông ấy vào đâu cũng lọt, bảo ai cái gì cũng nghe.
- Anh cũng buôn lậu à?
- Không. Tôi làm ruộng.
- Thế thì chắc anh bị nhiều cái uất ức lắm.
Anh Xi gật đầu:
- Nhiều lắm. Nhưng đành chịu thôi, vì nghèo khổ lắm. Chả kêu ai bênh được.
- Đã có Đảng cộng sản bênh các anh.
Anh Xi nhìn người ấy bằng con mắt ngờ vực. Lần sau nữa, người ấy hỏi:
- Anh nói rằng anh làm ruộng. Sao ngày trước, anh ở Hà Nội, làm ở hiệu thuốc kia mà.
Anh Xi sực nghĩ ra:
- À, tôi nhận ra anh rồi. Anh là học trò trường Bưởi, độ ấy đi tẩy chay, phải không?
Người ấy gật đầu:
- Chúng tôi vẫn đến nhà anh để in truyền đơn. Có một vài lần, anh cũng in hộ chúng tôi đấy mà?
Anh Xi nhớ lại:
- À, à. Phải, có cả cái bà gì sau này theo ông chủ hiệu thuốc ấy, rồi bị ông ấy đánh chết.
Mặt người ấy bỗng sa sầm. Anh Xi nói tiếp:
- Tôi làm với ông ấy, không chịu được nhục, lại thấy ông ấy bạc tình với người vợ cả, cho nên tôi bỏ về nhà quê, làm ruộng. Ngày anh gặp tôi ở nhà ông ấy, là ngày tôi thôi việc đã lâu. Tôi đến Hà Nội là để xem tẩy chay đấy.
Anh lại tiếp:
- Chính là ngày ấy, nghe những câu chuyện các anh vừa làm việc, vừa nói với nhau, mà tôi sáng mắt ra.
- Chúng tôi nói với nhau những gì?
- Các anh bảo cái thư của người Tàu chửi quốc dân mình man di mọi rợ là cái thư giả. Chính là Tây viết mạo, làm cho ta tức đấy. Ta có tức Tàu, ta mới tẩy chay hàng Tàu để dùng hàng Tây. Bởi vì trong chiến tranh, Tây không mang hàng sang ta được, mà ta thì vẫn quen chuộng hàng Tàu. Nhưng ta phải nhân dịp này mà cổ động cho người mình dùng nội hóa, kẻo lại gánh vàng đi đổ sông Tây.
Người ấy mỉm cười. Anh Xi nói:
- Thì ra tôi mới suy ra là phàm việc ở đời, ta thấy bề ngoài nó thế, nhưng bề trong nó không thế. Hôm ấy các anh còn nói nhiều về người mình và về người Tây, làm cho suốt đêm tôi phải nghĩ ngợi, không ngủ được. À ra tôi bị ức là một, bị nghèo là hai, là do thằng Tây nó bắt mình ngu.
Người ấy lại mỉm cười, Và gật đầu:
- Về Tây và ta, chúng ta còn phải nói nhiều. Nhưng các anh thì hiểu nhanh hơn người khác, vì các anh nghèo khổ, cứ suy ở mình chứ không phải ở ai xa. Song, để đến bận khác, tôi sẽ nói.
Anh Xi im. Người ấy hói:
- Quê anh ở trên này à?
- Không phải. Bây giờ ở quê tôi làm ăn khó khăn lắm, nên tôi lại phải đến đồn điền của ông chủ hiệu thuốc ấy, xin lĩnh canh.
Người ấy mỉm cười:
- Lại làm với chủ cũ?
- Tôi cáu với người vợ ông ta, nên sau trả ruộng, vợ chồng vỡ hoang để nuôi nhau. Nhưng chẳng may, lại vẫn vỡ vào đất của đồn điền ông ấy. Thật tránh chẳng khỏi số.
Lần cuối cùng, anh Xi nói chuyện trước:
- Có lẽ chúng tôi sắp được tha cả, vì nhà nước minh xét, chúng tôi không có tội gì. Anh còn ở trong này lâu không?
- Còn. Ngót một năm nữa.
- Tên anh là gì nhỉ?
- Là Lâm.
- Gì gì Lâm?
- Phúc Lâm. Nhưng gọi là Lâm thôi.
Anh Xi ngớ mặt:
- Lại trùng tên với cái nhà ngày trước tôi đã vào xem cỗ tháng tám. Nhà ấy có cô con gái khéo tay, tỉa hoa bằng đu đủ đẹp lắm. Ai cũng phải khen.
Người ấy yên lặng. Anh Xi lại tiếp:
- À, cô con gái nhà này vẫn đến Phòng thuốc nhà giàu để uống thuốc đấy.
Anh sực nhớ ra:
- À, phải, chính cô ta là vợ theo của ông chú ấy đấy. Chả cô ta hay đi với người em đến đấy để in truyền đơn, rồi phải lòng ông ấy mà. Tội nghiệp con người hiền lành!
Anh Xi chép miệng. Người ấy hỏi:
- Tên anh là gì?
- Là Xi.
Hôm anh Xi được tha, anh tìm anh Lâm để chào.
Anh Lâm mỉm cười, nắm lấy tay anh Xi thật lâu, im lặng như để nghĩ, rồi nói:
- Anh ạ. Cái người con gái theo ông chủ hiệu thuốc, rồi sau bị ông ta giết ấy mà, là chị ruột tôi đấy.
Anh Xi lặng người, nhìn anh Lâm, bán tin bán nghi, nhưng thương hại:
- Thế à?
Rồi anh tiếp:
- Sao anh không bảo tôi ngay, để tôi nói chuyện nhiều với anh về ông ta?
Anh Lâm lắc đầu:
- Không cần.
- Tôi gửi lời chào tất cả các anh. Trước kia, tôi cứ tưởng người đi cộng sản thì hung ác lắm. Bây giờ mới hiểu là không phải. Tôi ở chung với các anh, thấy anh nào cũng hiền lành, tử tế. Các anh ái ngại tôi bị các cụ sếp chửi đánh, các anh khuyên can các cụ ấy. Tôi cám ơn các anh lắm.
- Đảng cộng sản là Đảng bênh vực những người bị bọn hung ác nó ức hiếp.
- Các anh chỉ làm những việc ấy mà chịu tù tội à? Mấy lần gặp anh, tôi cứ quên không hỏi, là bênh vực sao lại bằng cờ với truyền đơn?
- Nếu anh muốn hiểu, thì phải mất nhiều thì giờ lắm. Nhưng anh có muốn hiểu không?
- Có, vì tôi bị ức hiếp nhiều lắm.
- Thế thì bao giờ tôi được tha, tôi đến tìm anh có được không?
- Được. Anh cứ đến Cẩu Rồng, hỏi tên tôi, ai cũng biết.
- Chào anh về mạnh khỏe nhé. Lần sau gặp nhau, chúng ta sẽ nói chuyện nhiều.
Hai người lại nắm tay nhau thật chặt.
* * *
Từ hôm vào nằm trong đề lao, anh Xi nghĩ mãi không hiểu tại sao anh lại bị bắt. Anh lo cho anh, lại thương vợ sắp đẻ, lỡ ra dở dạ, thì một mình ở vào nơi xa vắng, không rõ rồi xoay xở thế nào. Suốt ngày, anh ngồi bó giò một chỗ, hết thở ngắn lại thở dài. Thấy những người cùng bị bắt với anh, họ nhơn nhơn trò chuyện, những chuyện ăn chơi, bịp bợm, anh ngạc nhiên, và ghét họ lắm. Anh cho là vì họ mà anh phải bắt.
Anh không bị quan trên thẩm vấn lần nào, nhưng lại là người bị sếp nhất sếp nhì hoạnh họe và đánh chửi nhiều nhất. Bởi vì anh không có tiền để đút lót chúng. Trái lại, bọn kia được chúng đem lén lút quà cáp của người nhà gửi vào cho. Họ chia cho chúng, nên họ được chúng đem cho nước sôi để pha cà-phê và sữa. Và đến tối, họ công khai ngả bàn đèn hút thuốc phiện với nhau.
Bọn sếp bắt anh đi lấy cơm hầu họ. Đáng lẽ người làm việc này phải được anh em bầu lên. Cơm của họ có đồ ăn riêng. Họ không chia cho anh tí gì. Nhưng những người chính trị phạm, mỗi ngày thứ năm trong tuần lễ, được người nhà gửi quà vào cho, thì lại bớt miệng, nhường cho anh chút ít. Sếp nhất thấy vậy, càng hằn học với anh. Nó không dám hoạch họe, đánh chửi anh trước mặt những người ấy mà nó kiêng nể. Nhưng khi thấy anh đứng một mình, thì nó hành anh để báo thù.
Hôm nghe phong thanh là bọn buôn lậu đã chạy chọt đến những cửa có thế lực lớn, anh Xi cầu trời khấn phật cho họ được tha chóng. Họ được tha chóng thì anh cũng được tha chóng. Hễ đầu đi thì đuôi lọt.
Cho nên được ra khỏi đề lao, anh đi một mạch về nhà. Anh cố ôn lại những lời anh Lâm nói với anh về cộng sản, cho lòng được vui vẻ, chân bước cho nhanh.
* * *
Ngay tối hôm sau cái đêm anh Xi bị bắt, thì chị Xi dở dạ.
Vì nhà ở hẻo lánh vào nơi xa quá, vả đau đớn quá, chị đành kêu la một mình, không làm thế nào báo cho hàng xóm đến giúp chị được. Lại có lẽ vì nhà chị vừa bị cái dớp, ai cũng sợ, nên cả ngày hôm ấy, chẳng ai dám lai vãng đến thăm hỏi.
Chị đành liều. Vượt cạn một mình vậy.
Đến lúc cơn đau dữ dội quá, chị hồng hộc rống lên, thì may sao, bác Nẫm gái đi qua đó, nghe thấy. Bác biết là chị đẻ khó, thì cuống queo, vội vàng đến nhà gần đấy nhất, gọi bác Sang, tìm phương kế cứu chị. Hai bác định cáng chị xuống huyện, vào nhà hộ sinh.
Nhưng bác Sang sực nghĩ ra:
- À, nghe nói bà hàn trước kia đỗ đốc tờ, chắc là biết đỡ đẻ. Hay ta xuống dinh mời bà ấy đến đỡ cho chị Xi.
Bác Nẫm bàn:
- Chỉ sợ ngại đêm hôm khuya khoắt, đường xa và khó, bà ấy không đi thôi. Hay là ta cáng chị ấy vào dinh?
Bác Sang xua tay:
- Không được. Lỡ bà ấy kiêng, không cho vào đẻ ở nhà bà ấy, thì ta cáng mất công toi à?
- Không, Tây lai người ta văn minh, không tin nhảm như ta đâu. Tôi chỉ sợ bà ấy đi vắng, chứ có nhà, thì thế nào cũng giúp đỡ. Đàn bà với nhau ấy mà.
Bác Sang cho là đúng.
- Bà ấy mà đi vắng, thì ta đưa tuột chị Xi xuống nhà thương đẻ ở huyện.
Hai bác cáng chị Xi đi.
Đến dinh quan hàn, hai bác gọi cổng.
Lúc bấy giờ Ma-ri đương hí hửng với Thừa về món tiền vừa vơ vét được hôm trước. Hắn cũng yên trí là công danh đến ngõ nhà mình rồi. Nghe tiếng gọi thất thanh ở cổng, và tiếng đàn chó sủa dậy lên, hắn nghĩ ngay đến việc tống tiền. Hắn trợn mắt, nhìn chồng:
- Cẩn thận đấy!
Nhưng khi thấy Lan vào trình rằng bác Nẫm nhờ hắn đỡ đẻ cho chị Xi, thì hắn lộn tiết. Hắn đứng ở hiên, the thé nói:
- Cha tiền nhân cái con đẻ ra mẹ chúng bay! Láo vừa vừa chứ! Ai làm đầy tớ nhà nó?
Bác Nẫm nói to:
- Lạy bà lớn. Chị ấy đẻ khó. Nhờ bà lớn đỡ cho, làm phúc.
Ma-ri quát:
- Bà thì vả cho tan họng bây giờ. Nhà bà đương thịnh vượng, mày rước vợ thằng hội kín vào để xúi quẩy nhà bà à?
Bác Sang nài:
- Trình bà lớn, chị ấy gần xổ rồi, bà lớn có kiêng, thì cho chị ấy vào nằm tạm trong chuồng trâu cũng được.
- À quân này to gan thật. Đẻ ở bờ ở bụi nào thì đẻ, chứ vác xác vào đây để gieo tai vác họa vào nhà bà phỏng?
Biết rằng nói thêm vô ích, bác Nẫm bảo bác Sang cáng chị Xi đi.
Khi đặt đòn lên vai, hai bác còn nghe thấy Ma-ri thét:
- Con Đào đâu! Ra xem nó bước chưa. Lấy gạo muối tống vía nó cho tao.
Một lát, giọng hắn vẫn the thé:
- Hay không phải gạo muối mà phí của. Đốt cho tao một tờ giấy vàng, rồi ném theo vía nó cũng được.
Chị Xi nằm trong cáng, nghe những lời như đập vào ruột ấy, chị càng thấy đau đớn. Chị lăn lộn, cắn răng lại để cố chịu đựng.
Đến nhà hộ sinh huyện, bác Nẫm và bác Sang đặt chị ở sân để gọi cửa.
Trong các buồng khóa kín, không có ai trả lời.
Biết là cả nhà đi vắng, bác Nẫm bảo bác Sang ở lại trông chị Xi. Bác đi hỏi thăm xem cô đỡ ở đâu, để mời về.
Lúc bấy giờ dễ đến mười hai giờ rưỡi đêm rồi. Ở phố, nhà nào cũng đóng cửa im ỉm. Người ta đi ngủ đã lâu rồi. Vì vậy, bác Nẫm hỏi, mãi mới được trả lời, và trả lời bằng hai tiếng “không biết”. Có người tỉnh táo hơn mách rằng mọi tối, cô đỡ hay đánh tổ tôm ở nhà ông lục sự Ích.
Bác Nẫm hỏi thăm đến nhà ông lục sự Ích. Nhưng hôm nay ông lục sự không chầu tổ ở nhà, mà đến chơi đằng ông thừa Bái. Bác đến ông thừa Bái. Ở đây, đám tổ tôm đương họp, nhưng người ở trong trả lời ra rằng cô đỡ chỉ đánh có một hội đầu, rồi đi đâu, không rõ. Bác liền gọi cửa tất cả các nhà khác, những nhà gạch, những nhà hiệu to, mà bác đoán là cô đỡ có thể chơi ở đấy. Nhưng rút cục, nhà nào cũng nói rằng không có.
Thất vọng quá, bác trở lại nhà hộ sinh.
Thì lúc ấy chị Xi đương xổ. Chị kêu trời kêu đất, lăn lộn trên sân còn hôi hổi những hơi nóng. Tiếng kêu yếu dần. Chị thở hổn hển.
Hai bác cố giữ chị, và ngọt ngào khuyên chị cố chịu đau một tí.
Bỗng chị tru lên như xé, giãy giụa, rồi nằm lịm đi. Bác Nẫm reo lên:
- Bắt đầu ra rồi!
Trong bóng tối đen như mực, ở giữa nơi gió lộng, hai bác sờ soạng, đỡ mò cho chị Xi. Nhưng không có gì để cắt rốn, không có gì để buộc rốn, không có gì tắm rửa, lau chùi cho đứa bé. Bác Sang phải dứt khúc rốn bằng tay ra khỏi rau và xé thắt lưng của bác để buộc. Bác Nẫm cởi áo, lau cho đứa bé, rồi đặt nó vào lòng chị Xi đã gần như bất tỉnh.
Gió vẫn thổi lồng lộng. Sương đã đọng vào các ngọn cỏ. Hai bác ngồi gục suốt đêm bên cạnh chị Xi.
Tinh mơ hôm sau, đứa trẻ sơ sinh tắt thở.
Chị Xi được hai bác cáng về. Cơn sốt làm chị run bắn người lên.
Chị lo chồng, thương con, ức với bà hàn, với cô đỡ, lại kiệt sức, còn bị cảm lạnh, nên càng ốm nặng thêm.
Mấy người ở gần đó, cố săn sóc chị. Họ tìm lá, sắc thuốc cho chị uống, và vay hộ gạo, nấu cháo cho chị ăn.
Bệnh của chị hôm tăng, hôm giảm. Mọi người đã thất vọng, thì anh Xi về.
Nghe thấy tiếng chồng, chị mở mắt, vừa nức nở khóc, vừa cố cười. Và thều thào:
- Nhà!