Thừa chăm chăm nhìn vào cuốn sổ tay, gãi đầu gãi tai, vẻ bực tức, nói với Ma-ri:
- Quái, mình cũng làm đúng như bọn họ, sao nó không nổ nhỉ!
Ma-ri hỏi:
- Hay không đúng phân lạng từng thứ thuốc?
Thừa lắc đầu:
- Không phải. Bom của họ ít ra cũng nổ ra được một tiếng, bom của mình ném mạnh đến đâu, nó cũng trơ thổ địa như thằng câm, mới tức chứ!
Ma-ri thở dài:
- Hay là… Thôi ông ạ. Phiền lắm!
Thừa ngước mắt lên nhìn Ma-ri:
- Nản chí à? Làm việc mà không kiên tâm, có bao giờ thành công?
Ma-ri cười:
- Tại tôi thấy ông hì hục, thử thách mãi mà chẳng ăn thua gì.
Rồi hắn nhắc lại câu vừa nói:
- Hay là… Thôi, ông ạ. Phiền lắm. Đừng làm nữa. Không khéo lại lòi đuôi như hai lần trước thôi.
Thừa ngồi ỏe cái ghế ra đằng sau:
- Sao lại lòi đuôi? Tại mình chưa lịch duyệt. Lần thằng Hoài Tân, mình không có bằng chứng, cố nhiên là không ăn thua. Lần thằng Xi, mình chỉ có cái cờ, không đủ làm bằng chứng. Nhưng lần này, mình có hẳn bom, bom làm đúng như kiểu của Việt Nam Quốc dân đảng thì bố chúng nó cũng không kêu oan nổi.
- Nhưng tôi sợ lắm. Cứ vu oan giá họa cho người ta là hội kín, thất đức đấy, ông ạ.
Thừa bĩu môi:
- Thật là đàn bà! Đã định lao vào công danh, thì cứ mạnh dạn mà lao. Ngón nào có lợi cứ phải lợi dụng mà tiến.
- Thế ngộ…
- Thế ngộ sở Mật thám khám phá ra mưu mô của mình phải không?
Thừa lại bĩu môi:
- Bà tin là nhà nước sáng suốt à? Nếu nhà nước sáng suốt, đã chẳng có ai bắt bớ, tù đày oan. Nếu nhà nước sáng suốt, tôi với bà chẳng còn ngồi đây để hưởng phú quý. Bà thử ngẫm kỹ lại xem, hay tôi cũng vu oan giá họa cho nhà nước?
Đay được bốn tiếng này, Thừa nhìn Ma-ri, hất hàm hai ba lượt.
Ma-ri đáp:
- Nhưng mà, ông ạ, dù nhà nước không sáng suốt, thì đời cũng có mắt. Nếu ông bảo tôi ngẫm kỹ, thì tôi phải thấy như thế này: Vì từ trước đến giờ ông làm việc gì cũng nóng bốc to ngay, nên ông phải dùng lắm thủ đoạn. Cho nên không việc nào bền, cứ luôn luôn lên voi lại xuống chó. Ông mở hiệu thuốc, đương phát tài đùng đùng, thì bị kiện, phải đóng cửa. Ông mở phòng xem bệnh, khách đương đến tấp nập, thì con trời đánh nó dẫn xác vào. Ông làm báo để đào mỏ, thì tòa báo bị phá, và con Lễ chết non. Ông buôn thuốc phiện lậu, đương hót của thiên hạ dễ như bỡn, thì công ty vỡ lở. Ông xoay sang công danh, vu cáo công ty là hội kín, nhưng thằng cu Hoài được tha ngay. Ông dùng cờ để đổ cho bọn khách hàng là Việt Nam Quốc dân đảng tụ họp, thì không những bị cụ sứ mắng, mà còn mất hết tiền. Thế không là đời có mắt, chẳng dung thứ cho người làm bậy là gì?
Thừa cúi rạp đầu, giọng chế giễu:
- Tôi xin kính cẩn chào cái đạo đức của bà!
Ma-ri vẫn nghiêm:
- Tôi là đàn bà, ông cho là mê tín. Nhưng nhìn qua đời ông mà tôi thấy thế, nhất định là không phải tôi tin nhảm. Thất đức thật đấy, ông ạ.
Thừa tặc lưỡi, nhại lại hai tiếng của Ma-ri:
- Thất đức! Sợ thất đức, thì cụ Hoàng Cao Khải chả làm đến quận công, mà cụ khâm sai Lê Hoan suốt đời chỉ là anh nho quèn! Phải nhớ rằng nước mình mất. Mình có muốn ngóc đầu ngóc cổ dậy, tất phải nhờ bàn tay của người Tây nhắc giúp lên cho. Thế thì mình phải lập công với người Tây. Lập công với người Tây để người ta nhắc cho mình ngóc đầu ngóc cổ dậy, mở mày mở mặt được với đời, mà gọi là thất đức, thì tôi cũng lạ cho cái đạo đức của bà!
Ma-ri cãi:
- Nhưng người ta lập công thật, ông lập công giả.
Thừa im lặng. Ma-ri tiếp:
- Vả lại lập công bằng cách nào, chứ bằng cách chém giết, tù đày người vô tội, tôi vẫn cho là thế nào ấy. Nó không bền đâu ông ạ. Mình nên nghĩ đến năm đứa trẻ nhà mình.
Thừa cau mặt:
- Sao lại không nghĩ? Muốn trở nên giàu sang, tôi phải khó nhọc. Nhưng được hưởng sung sướng, là bà với chúng nó, chứ là ai?
Ma-ri lắc đầu:
- Đành vậy. Nhưng tôi cứ ngẫm thế này. Cụ Hoàng Cao Khải có công dẹp giặc, nên được làm đến quận công, kinh lược Bắc Kỳ. Ba ông con trai cụ lại được nhà nước đền ơn, cho hai ông làm tổng đốc, là ông Hoàng Mạnh Trí, tổng đốc Nam Định, và ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, thăng đến võ hiển.
Thừa hất hàm, bẻ:
- Thế còn ông cử Sen Hồ được đền ơn gì?
- À, ông này không thèm ra làm quan thôi. Bởi vì bố giàu có quyền hành thế, anh giàu có quyền hành thế, ông Hoàng Gia Luận cần gì phải làm quan cho mệt? Vậy cứ đứng ngoài mà nhìn, thấy cái gia đình ấy, phú cũng thừa rồi, quý cũng thừa rồi, tưởng sung sướng biết bao nhiêu. Nhưng mà, có một cái không sung sướng là trong nhà, bố con, anh em, chú cháu, lúc nào cũng lục đục, kiện cáo nhau, tranh nhà, tranh ruộng nhau. Mà vô phúc nhất là họ Hoàng lại tuyệt tự.
Thừa lại bẻ:
- Tuyệt tự?
- Phải. Ông Hoàng Mạnh Trí có hai con trai, là Hoàng Gia Đức và Hoàng Gia Mô. Hai tay này thì nắm chắc cái tổng đốc sau này rồi. Nhưng hai người đều không có con trai. Lão Hoàng Gia Mô còn trẻ, còn nhiều hy vọng về con cái, thì đùng một cái, bị Việt Nam Quốc dân đảng giết ở huyện Vĩnh Bảo. Ông Hoàng Trọng Phu có một con trai là Hoàng Ứng Thanh, ai cũng đoán tay này sẽ làm to hơn bố. Nhưng hắn sang Tây học, thì chết ở bên Tây. Ông Võ Hiển có đứa con trai riêng với con vú em, vẫn nhờ người sốp-phơ tên là Cửu Khắc, nuôi kín. Khi cậu ấm Thanh chết, ông ta mới đưa nó về nuôi trong dinh. Nhưng ít lâu, thằng bé cũng lăn ra chết nốt. Vì vậy, có một dạo, thêm cả những việc buồn khác trong gia đình, ông ta phát điên, phải xin nghỉ mấy tháng, ông quên rồi à?
Thừa gật gù:
- Thế ông cử Sen Hồ chả có hai con trai học bên Tây là gì?
- Nhưng một thằng đứng chơi ở cái nhà đương xây, chẳng may bị một tảng đá ở trên cao rơi xuống đầu vỡ sọ, chết tươi. Còn một thằng đương ho lao, đâu đến thời kỳ thứ ba rồi.
Thừa thở dài, Ma-ri tiếp:
- Cho nên tôi thấy ông làm những việc ngày nọ, tôi cho là thất đức, cứ nghĩ đến năm đứa con.
Thừa yên lặng một lát, rồi lắc đầu:
- Vẫn là tin nhảm. Gia đình cụ khâm có như gia đình cụ quận đâu?
Ma-ri tặc lưỡi:
- Cũng chả ra gì. Nhà nước cũng đền ơn cụ khâm, cho hai ông con lớn ra làm quan, nhưng hai ông ấy lẩn thẩn thế nào ấy, phải về cả rồi. Tôi còn nghe nói gia đình này loạn luân, chú ngủ với cháu, đến nỗi cả bố ngủ với con gái, làm nó đẻ đến hai lần.
Thừa gấp cuốn sổ tay, đút vào túi, có vẻ chán nản, cười khinh:
- Việc nhà các cụ ấy xảy ra như thế nào, là do con cháu các cụ ấy làm ra, chứ lại đổ cho là vì tội các cụ ấy, thì thật oan cho những người tốt với gia đình. Chẳng hạn, gia đình nhà ta như thế này, thì bà bảo do ảnh hưởng của ai?
Ma-ri vênh váo:
- Mình được giàu có vẻ vang, là do nhờ ông cụ đẻ ra tôi tu nhân tích đức chứ do ai?
Bỗng Ma-ri thở dài:
- Nhưng đến đời mình… Buồn quá!… Tôi nghĩ đến tương lai của năm đứa mà lo. Chúng nó có vừa đâu. Từ hôm vỡ lở cái việc thằng sở khanh nó làm hại con bé, tôi cứ giật mình.
Một lát, Ma-ri an ủi Thừa:
- Thôi, ông được gọi là ông hàn, đã sang chán rồi. Đừng bay nhảy nữa.
Thừa lắc đầu:
- Chức quan này là chức quan của bà cho tôi. Nhưng còn chức quan của nhà nước bổ, và chức quan do dân bầu. Thế nào tôi cũng không chịu khoanh tay. Có điều là bà nói lập công thật thì tốt, lập công giả thì không có kết quả, tôi cho thế là đúng.
Ma-ri dịu dàng:
- Phải, lập công giả cũng như đi buôn lừa khách, dù có lắm của cũng không bền. Ông đã lên xuống trong đời ông nhiều lần, ông nghiệm rồi. Nếu ông cứ làm ăn chân chỉ, thì ông phải giàu bằng ông ký Bưởi.
Thừa bĩu môi, nhạo:
- Ông ký Bưởi làm ăn chân chỉ! Mô Phật! Tôi chỉ nghĩ như thế này. Là định làm việc gì, thì cứ xông vào mà làm liều đi. Ở đời, không liều không làm nên to tát được, vả lại, nhà nước có công minh đâu mà mình sợ? Nhưng chỉ có là mình không nên quá liều, vừa lừa nhà nước bằng việc nọ, đã lừa ngay nhà nước bằng việc kia, thì lộ mưu gian, mất tín nhiệm. Thế thôi. Cho nên tôi cũng nghĩ rằng phải ngừng giở ngón, tạm đình việc lập công danh lại một dạo, chờ cho những việc trước nguôi đi, rồi hãy hay.
Ma-ri biểu đồng tình:
- Phải, vì bị hai việc trước, ông đã định làm ngay việc này, để vu oan cho người lương thiện, thì không tiện. Tôi nhớ là ngày trước, lão Từ Bộ Thực, tri huyện Tam Dương, cũng làm bom giả để bỏ vào nhà dân, hòng thăng quan, chả bị lão công sứ Bút-sê nó mắng cho mất mặt đi đấy à? Cho nên ông hãy để tâm trí vào cái đồn điền này, làm sao cho chúng nó nộp đủ thóc, vào mấy cái nhà ở Hà Nội, làm sao thu được đều tiền thuê. Không đủ tiêu, thì ta sẻn một ít, cũng không sao.
Thừa bật cười:
- Mấy chục năm rồi, hôm nay tôi mới được nghe bà nói một câu đáng bái phục! Sắp đổi đời chắc!
Cả hai người cùng cười to.
* * *
Ma-ri về bên phòng ngủ.
Thừa ở lại, cũng đặt mình trên giường.
Từ hôm Ma-ri giở thói tai ngược, treo ảnh bà mẹ Mão ở đầu giường, thì Thừa lấy nê là phải giữ bí mật cái âm mưu bom giả, hắn làm việc một mình trong buồng của khách đến tận khuya, rồi ngủ luôn ở đó. Hắn không muốn cái hình ảnh tiều tụy của người đàn bà bị đày đọa này luôn luôn nhắc nhở tội ác của hắn.
Hắn muốn tâm trí được an nhàn để lo tính việc cho hắn.
Bây giờ hắn nằm, cẳng duỗi thẳng, tay vắt trên trán, mắt nhìn lên trần, chốc chốc lại hút thuốc lá, rồi thở dài.
Hắn thấy chưa bao giờ công việc của hắn lại lúng túng như ít lâu nay. Đường làm giàu bằng thuốc phiện, thì công ty giải tán, hắn xoay sang lập công, lập công thất bại, hắn lại làm giàu bằng cách đầu cơ thóc đến chỗ bị lụt. Thóc bị bắt, hắn lại mưu mô làm bom giả để lập công. Nhưng làm bom không thành, thì bây giờ hắn bị Ma-ri ngăn cản. Hình như Ma-ri muốn hắn suốt đời cam chịu nhận chức ông hàn, để buộc chân hắn ở Cẩu Rồng, trông nom ruộng nương cho Ma-ri. Vì Ma-ri không thể quản lý lấy được đồn điền.
Vụ này, do ảnh hưởng của trận lụt, thóc thu tệ hơn vụ trước. Ấy là vụ trước đã kém vụ trước nữa rồi đấy.
Vụ trước nữa, điền tốt gánh thóc đến. Họ gãi đầu gãi tai, phỉnh bà lớn là từ thiện, hay thương dân nghèo. Ma-ri phổng mũi lên, cho mỗi người chịu lại một vài thùng.
Thấy vậy, Thừa đã bảo:
- Này! Còn ưa phỉnh, còn chết!
Y như rằng, đến vụ trước, điền tốt lại nộp không đủ thóc. Họ lại phỉnh bà lớn là từ thiên, còn kè nhè, viện thêm lý do là vì đại hạn kéo dài, lúa má hỏng gần hết.
Thừa đã dè chừng:
- Này! Đừng có tin họ, không thẳng tay mà cứ ỷ vào chín cái nhà của tôi ở Hà Nội cho thuê, thì không đủ tiêu đâu!
Đến vụ này, điền tốt không nói rằng chịu, mà xin hẳn số thóc nộp thiếu. “Cũng như bà lớn phát chẩn ngày vỡ đường”. Họ giao hẹn dứt khoát thế.
Ma-ri không biết làm thế nào, đành cắn răng nhịn họ. Nhưng Thừa bực lắm.
Thừa đến chơi các chủ điền khác, hỏi xem ở đó tình hình ra sao. Hắn thấy xa thì như đồn điền ông Đỗ Đình Đạo, đồn điền cụ tuần Lê, đồn điền quan bố Từ, đồn điền ông tham Duận, và gần thì ngay bên Cẩu Rồng giáo, tức là nửa đồn điền của hàn Xương mà Ma-ri nhường cho nhà thờ, ở đâu điền tốt cũng nộp răm rắp, thiếu một đấu không được.
Thừa cho là bọn tá điền bên mình, một là họ bướng, hai là họ trây, ba là họ láu, vì Ma-ri dễ dãi một lần, thì được đằng chân, họ lân đằng đầu. Hắn tự xét mình, cũng thấy là ngay từ những ngày đầu, hắn thích ăn to trong công-ty Mác-tanh, nên không tha thiết đến ruộng nương, rồi khi có xừ Tuynh làm quản lý, bao công việc đồn điền, Ma-ri phó thác cả cho xừ, hắn không để ý gì, nên bây giờ hắn bỡ ngỡ, và bị nông dân lòe bịp. Chứ chẳng phải vì lụt gì cả.
Ma-ri cũng nhận thấy nếu cứ theo cái đà thu hoạch này, thì là xuống dốc. Năm đứa trẻ ngày một lớn, ăn tiêu ngày một nhiều hơn. Không thể bám mãi vào ngót năm chục mẫu ruộng với chín cái nhà mà sống được. Thừa ngồi phắt dậy. Hắn đã có một ý định gì cương quyết đây. Hắn lại hút thuốc lá, rồi đi đi lại lại, bách bộ ở trong buồng.
Thừa nhớ lại việc ông Lăng mách, là việc buôn tàu thủy.
Thừa suy tính. Quái, không biết thuyết nào nói đúng cái lý do mà ông Bạch Thái Bưởi bỏ cái ngai vàng làm vua sông?
Nếu bảo vì ông ta tin số tử vi, mà số tử vi là thật, thì số Thừa đúng là số giàu. Không những cụ Tú Phúc Lâm ngày trước xem số hắn đã nói thế, mà cả hai ông thầy tướng người Tàu, là Quỷ Cốc Tử và Thần Cốc Tử, và một ông thầy tướng người Nam, là ông Mét Khánh Sơn[1], dùng khoa học Thái Tây để phân tách, cũng đều phục hắn là có tướng không những giàu mà còn sang. Thế thì buôn tàu, hắn không sợ phá sản.
Thừa lấy làm lạ, không hiểu sao ông ký Bưởi có óc kinh doanh lớn lại sợ không địch nổi với ô-tô-buýt. Ô-tô-buýt chạy trên bộ. Tàu thủy chạy dưới sông. Ô-tô-buýt có đường riêng của nó. Tàu thủy cũng có đường riêng của nó. Hành khách bên đường cái, có ô-tô-buýt, thì đi ô-tô-buýt cũng như hành khách bên bờ sông, có tàu thủy thì đi tàu thủy, chứ tàu thủy cướp sao được khách trên đường cái, mà ô-tô-buýt cướp sao được khách trên bờ sông?
Lý luận như vậy, Thừa quyết định buôn tàu thủy. Nhưng hắn thấy ngay cái vướng mắc. Hắn lại lên giường, nằm vắt tay lên trán.
Nếu buôn tàu thủy, thì Ma-ri có cho hắn bỏ cái đồn điền này không? Ai trông nom cho Ma-ri? Thà có một người quản lý tốt, có thể giao hẳn cho người ấy. Thật ra, hắn cũng biết một mình Ma-ri không thể đối phó nổi với những khó khăn mới nảy ra ít lâu nay trong nghề làm chủ đồn điền.
Thừa chợt nhớ đến xừ Tuynh. Hắn thở dài. Hắn trót đuổi xừ rồi, không lẽ bây giờ làm thế nào. Có xừ làm quản lý, hắn rất rộng cẳng. Dù thiên tai mấy, thì sau mỗi vụ gặt, xừ thu chẳng sứt một hột thóc. Mà thóc đẹp, mẩy, phơi khô, quạt sạch. Tá điền nào mới hở ra một tí là định dây dưa, ấy là xừ trị liền. Xừ đánh, hoặc sục vào tận nhà, bắt kỳ được đồ đạc trước. Lạy van, kêu khóc, xừ bỏ ngoài tai hết. Giá mà xừ hẳn hoi như người ta, chơi đâu thì chơi, chọc đâu thì chọc, đừng có chọc ngay vào mắt chủ, có phải bây giờ xừ được nhờ bao nhiêu không! Bây giờ tìm được một người có nhiều đức tính làm quản lý, như xừ Tuynh, thật là khó.
Thừa hối hận việc đuổi xừ Tuynh là hắn làm quá. Thật ra thì tội của xừ không đáng trừng phạt nặng như thế. Hắn không ghen với xừ đâu. Nếu ghen, thì hắn phải ghen suốt đời với nhiều người, chẳng cứ gì một lần với xừ. Và hắn có yêu Ma-ri nữa đâu mà ghen. Chẳng qua thấy xừ ôm Ma-ri ngay trên xe, thì hắn tự ái, và lúc ấy, hắn đương nghĩ bực cái việc ly dị với mẹ Mão không xong, thì giận cá chém thớt, hắn nổi nóng bừng bừng. Mà lúc nóng thì hết khôn.
Bây giờ hắn cần người quản lý cái đồn điền này quá. Không có quản lý, hắn không thể dứt ra để đi buôn tàu, kiếm lãi mà ăn tiêu phong lưu như mấy năm trước được.
Thừa sực nghĩ đến anh Xi.
Hay là gọi anh Xi, giao quách ruộng nương cho anh trông nom hộ?
Tuy anh Xi không cương quyết được bằng xừ Tuynh, nhưng anh là người cũ. Hắn biết tính anh, mà anh cũng thuộc tính hắn. Anh chỉ phải cái khái. Nhưng là khái vặt thôi, chứ khốn nạn, có khái to tát gì cho cam! Anh Xi không quen nghe nói nặng. Thì hắn ngọt ngào. Có khó gì? Lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau. Câu phương ngôn dạy thế, theo đúng thì bao giờ cũng có lợi.
Anh Xi có một điểm quý nhất, là đối với đồng tiền phân bạc, anh rất phân minh. Ngày trước, hắn đã giao hàng trăm cho anh, mà chẳng suy suyển một nửa đồng trinh nào. Không rõ anh Xi có muốn làm quản lý hay không? Làm quản lý thì nhàn, không phải quanh năm đánh vật với trời với đất mới có cái ăn. Làm quản lý thì vợ chồng con cái được ở nhà ngói. Và đến vụ này, anh bắt đầu phải nộp thóc đây. Thì làm quản lý, anh không những không phải nộp thóc, còn được thu thóc. Mà thu thóc, thì tha hồ mà ra oai. Vô khối người sợ. Chẳng phải sợ ai.
Nhưng Thừa cho là chưa nên bàn với Ma-ri về việc dùng anh Xi vội. Phải đợi một vài lần gặp khó khăn, thì hắn nói, Ma-ri mới chịu. Hắn biết Ma-ri ghét anh Xi lắm. Mà anh Xi thì khinh Ma-ri là Tây lai, lại thù Ma-ri là đồ đi cướp chồng người. Nhưng Thừa cho là sự hằn học giữa hai người không có gì là khó giải quyết. Hắn sẽ giảng cho Ma-ri hiểu là có dong kẻ dưới mới là người trên. Mình tử tế trước, đạt lượng trước, thì tự khắc người ta phục mình, vả mượn ai làm việc gì, chỉ nên nhìn ở việc ấy, xem có chạy không. Chứ đi mà xét nét những ý ăn ý ở lặt vặt, rồi sẵn lòng căm giận trước, thì dễ nhìn sai nghĩ lệch về người ta lắm! Có khi người ta làm việc này, nói câu này, thẳng thắn hẳn hoi đấy, nhưng mình cứ nghi ngờ, rồi bẻ ra queo, để hằn học, thì chỉ tổ chuốc lấy cái bực vào mình.
Thừa chắc Ma-ri vốn thông minh, thì dễ hiểu lẽ phải. Vả lại, bất đắc dĩ rồi, không dùng anh Xi thì dùng ai? Hẳn là mấy ngày đầu, mấy tháng đầu, Ma-ri chưa tin anh Xi là tốt đâu. Thừa sẽ lựa từng việc, lụa từng cử chỉ của anh, nói vào cho anh, làm cho Ma-ri chuyển dần. Rồi sau hết, thế nào Ma-ri cũng nhìn rõ giá trị của anh. Nếu anh Xi làm quản lý, mà Ma-ri cứ nan hóa kiểu nữ nhi thường tình, thì Thừa sẽ dồn Ma-ri vào chỗ bí, hỏi rằng một là chịu đụng một tí để được thu đủ thóc, hai là không mượn anh để tình trạng thua thiệt kéo dài, Ma-ri chọn đàng nào? Nếu Ma-ri cứ vẫn khăng khăng giữ thành kiến với anh Xi, Thừa sẽ mặc, Ma-ri thấy ai hơn anh Xi thì đi tìm về mà dùng. Hay muốn bán đồn điền đi, thì tùy.
Điều đình với Ma-ri xong, Thừa sẽ điều đình với anh Xi. Thừa chỉ bảo anh suy nghĩ để so sánh xem làm ruộng nhờ đất của đồn điền hơn, hay làm quản lý cho đồn điền hơn. Còn như cái việc Ma-ri là Tây lai, Ma-ri cướp chồng của mẹ thằng Mão, thì có can dự gì đến anh? Anh thiệt hại cái gì? Hắn chỉ cần tìm lý do, để giảng giải cho anh nghe thủng về hai việc mới đây làm anh đau khổ thôi. Một việc là anh bị bắt oan. Một việc là vợ anh bị Ma-ri đuổi, không đỡ đẻ, làm cho con anh chết và vợ anh ốm. Việc thứ nhất, Thừa đã thanh minh nhiều lần với anh rằng vì tình cờ mà anh bị bắt oan với những người khác, chứ không phải vì hắn bố trí cho họ đến nhà anh để nhà nước bắt cả anh. Chứng cớ là không phải làm chính trị, chỉ là bị bắt lầm, cho nên cả anh lẫn những người buôn thuốc phiện đều được tha ngay, về điều này, có lẽ anh đã thấy xuôi tai rồi. Còn việc thứ hai, Thừa sẽ nói cho anh biết rằng, phong tục nước ta như thế, sinh dữ tử lành, ai dám cho người ngoài vào đẻ ở nhà mình, để phải bại hoại. Thế thì Ma-ri kiêng là phải. Vào địa vị anh, nếu ai xin đến đẻ ở nhà anh, anh có cho vào không? Ừ, ví thử anh là đàn ông, không tin nhảm, thì hãy hỏi vợ anh có giúp người ta hay cũng đuổi quầy quầy như Ma-ri đã xử với vợ anh? Vả lại, có điều này là điều chính, người ngoài không biết, nhưng anh phải rõ hơn người ngoài. Ngày trước, Ma-ri được gọi là cô đốc, thì anh có thấy Ma-ri biết thuốc men, chữa chạy cho ai và đỡ đẻ bao giờ không? Vậy sở dĩ Ma-ri không giúp vợ anh, là vì không biết nghề chứ không phải vì độc bụng. Do người ngoài lầm, nên Ma-ri bị mang oan tiếng ác với chị. Còn như con anh chết, vợ anh ốm, là lỗi ở cô đỡ bỏ nhà thương đi chơi đêm, chứ tội đâu ở Ma-ri, mà Ma-ri cũng bị oán?
Anh Xi là người biết phải trái, nghe phân trần như vậy, chắc anh hiểu. Anh hiểu rồi, thì anh phải nói cho vợ anh cùng hiểu, đừng hậm hực nữa. Rồi vợ chồng bảo nhau, thu xếp vào dinh mà ở, làm quản lý, hưởng lấy an nhàn.
Thời buổi kinh tế khủng hoảng rồi làm ăn mỗi ngày một khó khăn thêm, không mỗi chốc kiếm được việc, huống chi là có việc được mời đến, lại không làm. Làm quản lý trong dinh, anh có chỗ thế lực mà nương tựa. Không những anh không phải đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn phải lo nự, lo nộp thuế, lo nộp thóc, mà còn chợt lúc nào nhà nước bắt đi phu, là cả gia đình đói khát lúc bấy giờ. Không những vậy, là bạch đinh, anh còn bị bắt nạt, ức hiếp, mắng chửi, đánh đập. Ai bênh anh? Anh kêu ai? Anh đã từng bị thế, chứ có lạ gì?
Thừa phải gặp anh Xi, nói chuyện kỹ cho anh và nhất là cả cho vợ anh suy hơn tính thiệt. Nghề đàn bà vẫn thiển nghĩ. Dù anh khái mấy, nhưng vợ anh nhất định là tham lam, tất thế nào cũng bắt anh phải bằng lòng.
Nhưng nếu anh Xi vẫn khái vặt, không bằng lòng làm quản lý thì sao? Nghĩ đi, Thừa phải nghĩ lại cho hết lẽ.
Nếu đồn điền này không có người trông nom tốt, mà cứ mỗi vụ thu một kém trước, dần dần đến không được hột thóc nào, thì thà giũ nó trước đi thì là hơn. Ôm rơm làm gì cho thêm rặm bụng?
Nhưng đồn điền này là của Ma-ri. Bán hay giữ là quyền của Ma-ri, Thừa không quyết định được.
Thừa xem ý Ma-ri, thì biết rằng Ma-ri muốn giữ đồn điền để sau này cho riêng con Rô-da-lin. Vốn Ma-ri biết rằng Thừa không coi con bé ấy như con đẻ. Thừa chỉ nhượng bộ, nhận là bố của đứa con anh cha đạo trong khai sinh, cho Ma-ri đỡ tủi là có con đẻ hoang thôi. Một đôi khi, vợ chồng trò chuyện với nhau về tương lai, chia gia tài cho những đứa nào, cái gì, thì Ma-ri đã xí trước cái đồn điền Cẩu Rồng cho con Rô-da-lin. Vậy của riêng của bố, thì con được hưởng là đúng, vả lại, hẳn Ma-ri đoán rằng tất bốn đứa kia, mỗi đứa được một nhà và một biệt thự. Còn một cái lẻ, Thừa và Ma-ri không chia cho ai, để dành làm của dưỡng lão. Chứ con Rô-da-lin chẳng hòng được tơ hào. Cho nên Ma-ri càng thương con bé, nhất là từ ngày vỡ ra chuyện nó dại dột với xừ Tuynh.
Vậy thì tất là Ma-ri muốn giữ đồn điền Cẩu Rồng. Cho nên phải cần có anh Xi làm quản lý. Nếu không, hắn không thể dứt khoát đi buôn tàu được. Mà còn phải đối phó với điền tốt, họ nghe cộng sản xui dại nữa chứ!
Song, nếu bán đồn điền thì bán cho ai? Thừa phải tìm người mua cho Ma-ri, thì bảo bán, Ma-ri mới dễ xiêu lòng. Thừa lạ gì xưa nay Ma-ri chẳng chịu tính toán, chạy vạy, mà chỉ muốn ăn sẵn, ỷ lại vào chồng.
Vậy Thừa phải gọi người mua đồn điền cho Ma-ri. Ai hứng cho cái nạn này?
Thừa thở dài. Hai mắt hắn lại tráo trưng, nhìn lên trần.
❀ ❀ ❀
[1] Mét, tiếng Pháp là Maitre, nghĩa là thầy. Khánh Sơn tự xưng mình là Maitre, để bịp là thầy tướng.