Đống Rác Cũ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§9. Những Ngày Đầu Trong Cuộc Kinh Doanh
Ix Những Ngày Đầu Trong Cuộc Kinh Doanh

❊ ❊ ❊

Hai chiếc tàu về tay chủ mới, đều được thay tên mới. Chiếc to hơn và khỏe hơn, sơn màu trắng, thì lấy tên là Đại Pháp, đề chữ tây là La France. Chiếc nhỏ hơn và yếu hơn, sơn màu vàng, thì lấy tên là Bắc Kỳ, đề chữ tây là Le Tonkin. Thừa rất tự hào về sáng kiến đầy ý nghĩa này.

Vì tàu nhỏ, nên chạy chừng quãng ngắn. Bến chính là Hải Dương. Chiếc Đại Pháp đi Ninh Giang. Vì Ninh Giang to như một tỉnh, nên vẫn được gọi là tỉnh Ninh Giang. Ở đây, hành khách nhiều, gạo được tải đi các nơi cũng nhiều. Lại có đền Tranh, linh thiêng có tiếng. Đến ngày hội, khách thập phương về lễ rất đông. Chiếc Bắc Kỳ đi Phả Lại. Trong tỉnh Hải Dương, nơi buôn bán sầm uất sau Ninh Giang, là Phả Lại, Phả Lại gần đền Kiếp Bạc. Mọi năm đến kỳ hội, hôm nào cũng hai ba chiếc tàu chở con công đệ tử đến đền đức thánh Trần không xuể. Còn khối người phải đi bộ.

Chiếc Đại Pháp và chiếc Bắc Kỳ cứ sáng đi, chiều lại về. Đêm ngủ ở Hải Dương.

Thừa giữ lại để dùng tất cả những nhân viên cũ. Vì họ đã quen việc. Họ cũng không bị giảm lương. Điều này là điều đặc biệt. Xưa nay, mỗi lần tàu thay thầy đổi chủ, thì bao giờ nhân viên cũng bị sụt lương mấy tháng đầu. Rồi sau, có tăng thì mới tăng. Ông chủ lấy lý do là phải thử thách xem người làm có xứng đáng với tiền họ được thưởng hay không. Thử thách xem tàu chạy đường mới, khách vắng, đông, chủ lỗ lãi thế nào.

Ai cũng khen ông An-be là quân tử, là không tẹp nhẹp. Họ vui lòng nhất về cách ông gọi họ không có vẻ gì là khinh người. Ba-toong, mại bản, ông gọi là ông. Tài xế, nhì-xế, ông gọi là bác. Mạch-nô, ông gọi là anh. Ông Bưởi, ông Thu, lúc ngọt ngào cũng gọi thế, nhưng lúc nóng giận thì chẳng phân biệt ai với ai. Các ông ấy mày tao tuốt. Còn ông Phúc Lai Thành thì bất kỳ to nhỏ, già trẻ, cũ mới, ai cũng bị gọi là nị.

Mỗi buổi tối tàu về bến chính, Thừa và Ma-ri đều đứng ở trên bờ để nhìn. Bề ngoài, hai người làm như chủ mới thì lấy việc ngắm nghía chiếc tàu mới sơn, ngắm nghía hành khách tấp nập lên bờ, làm một sự thích thú, sự tiêu khiển. Nhưng bề trong, là để kiểm soát ngầm xem mại bản có thật thà không. Ma-ri đếm tổng số hành khách, Thừa đếm số trẻ con xem bao nhiêu đứa không phải lấy vé, phải lấy nửa vé, hoặc nặng nề, đáng lẽ phải đánh cước, là bao nhiêu. Khi Thừa vào quầy xem số hàng gửi lại, rồi đến buồng mại bản để tính sổ. Xem vé người, vé cước hành lý và hàng gửi là bao nhiêu, để nhận tiền. Còn Ma-ri làm như tò mò. Hắn vào buồng máy, hắn ngó thành tàu, hoặc đi tung tăng ở trên boong. Hắn để ý xem, than, dầu mỡ, tốn hơn hôm trước hay không bằng. Hắn vào buồng máy xem máy móc có giữ sạch sẽ không, có y như hôm trước không, hay tài xế, nhì-xế muốn phản chủ, đánh hỏng đi, để chủ phải thiệt hại, để nếu phải chữa lâu, thì họ được nghỉ việc. Hắn ngó thành tàu xem có chỗ nào sứt lở, thì biết là ba-toong đã không lái cẩn thận, cho tàu va chạm vào vật gì. Và trong khi hắn đi tung tăng khắp từ đằng mũi đến đằng lái, là để thúc ngầm mạch-nô phải quét tước, lau rửa mọi chỗ cho sạch sẽ.

Một tháng đầu, Thừa và Ma-ri không có ý phàn nàn với nhau về nhân viên. Chỉ có một điều đáng ngại, nhưng Thừa cho là thường, là dĩ nhiên. Tức là lỗ vốn. Số tiền chi về than, về dầu, về mỡ nói chung, ngày nào cũng đều như nhau. Nhưng số tiền thu vé vé người, vé cước, thì hôm nhiều, được lãi, hôm ít, lỗ vốn. Và trung bình, cả hai chiếc Đại Pháp và Bắc Kỳ, cái nọ bù cho cái kia, so thu so với số chi, thì có kém. Thừa bảo Ma-ri:

- Tàu mới, khách chưa quen. Rồi khách quen dần, mình sẽ có lãi. Nghề buôn bán, bao giờ cũng thế. Cho nên không nên lo, không nên nản lòng. Chỉ nên cố gắng.

Ma-ri bàn:

- Làm thế nào cướp được khách của ô-tô thì tốt. Có ô-tô, mỗi ngày mình thiệt đến hàng trăm người.

Thừa lắc đầu:

- Không cần. Ô-tô chỉ lấy được khách đi vội cho kịp xe lửa, và khách mang hành lý nhẹ nhàng, lại không tiếc tiền. Khách của ta là những người không cần đi nhanh, nên so kè từng hào từng xu, là những người có nhiều hàng, không cần kịp chuyến xe lửa. Ô-tô không cướp được khách của ta. Trái lại, trừ mấy ngày trong hội đền Kiếp, còn thì quanh năm, ta đã cướp dần gần hết khách của thuyền. Ta có cái may mắn là được độc quyền vận tải trên khúc sông từ Hải Dương đi Ninh Giang, từ Hải Dương đi Phả Lại, không phải chia mối lợi với hãng khác. Làm việc gì không có cạnh tranh thì óc được thư nhàn. Ta chỉ cần để ý đến nhân viên xem họ có thật thà hay không thôi.

Thừa tiếp:

- Cho nên không lo lỗ vốn, mà chỉ nên mừng rằng mình không bị ai ganh. Rồi cứ đà này, thì dần dần hòa vốn, và có lãi.

Bàn đến cách đối xử với nhân viên, Thừa nói:

- Mình ngọt ngào với họ là đúng, và kiểm soát kín đáo họ là tốt. Một đôi khi, tôi cũng nghi là có lần mại bản ăn bớt, nhưng nghi thôi. Tôi có hỏi khéo, thì anh ta trả lời cũng có lý. Ví dụ có lần chín mươi hai hành khách người lớn, mà anh ta chỉ nộp có chín mươi mốt suất rưỡi. Anh ta nói là một người nghèo không đủ tiền trả cả vé, chẳng lẽ người ấy đã trót xuống tàu, lại đuổi lên bộ hay sao. Tôi đã nhiều lần đi tàu thủy, nên cũng thấy có những người không đủ tiền lấy vé, mà cứ đi liều thật.

Ma-ri nói:

- Thôi, thiệt vài xu, nhiều lắm là một hào chứ mấy.

- Phải rồi. Nhưng mình cũng cho mại bản thấy là mình biết, thì nó mới sợ mình. Chứ mình cứ lờ mờ, lần này nó bịp được, thì lần sau nó lại bịp. Vả thế nào cũng có lần nó bịp mình món to. Nên biết rằng lòng tham thì ai cũng có. Mình suy như mình thì biết, huống hồ là người lương ít, mà lại nắm đồng tiền trong tay. Cho nên phải cho họ thấy là ta tinh, thì họ không dám ăn cắp, hoặc nếu có ăn cắp, cũng chỉ dám lấy những món lặt vặt.

Ma-ri gật gù:

- Làm nghề này dễ chịu hơn làm đồn điền. Làm chủ đồn điền thì của mình gửi trong tay người. Làm nghề này, thì của người, mình nắm trong tay. Tức là mình phát lương.

Thừa thêm:

- Của mình gửi trong tay người đã đành, nhưng cũng gửi cả vào thiên nhiên nữa. Nào hạn, nào lụt, nào bão, nào sâu. Cho nên chúng nó mới viện những lẽ thiên nhiên, viện những lẽ bóc lột sức lao động mà làm khó dễ cho mình. Đằng này mình dùng máy móc. Chẳng cộng sản nào tuyên truyền được máy móc nó phản mình. Còn một dúm người làm, thì ta phát lương cho họ. Họ tử tế thì ta dùng, họ dở giọng thì ta thải. Ba-toong, tài xế có nghề chuyên môn, khó thay, chứ mại bản bán vé ai làm chẳng được. Tôi, bà, thằng Pôn, thằng Giăng, con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, nhà ta còn vô số người ngồi không đấy. Vả lại, người nhà còn đáng tin cậy bằng mấy người ngoài ấy chứ.

Ma-ri gật đầu:

- Cho nên, để lại đồn điền, tôi có tiếc gì đâu.

* * *

Ma-ri để lại đồn điền cho nhà Chung.

Việc này, ta đã nghe thấy một lần Thừa bàn với Ma-ri, và ta biết vì mục đích gì Thừa lại kén chọn người mua, là nhà Chung.

Ma-ri đến gặp lão cha Hảo.

Hắn nói liến thoắng trong mười phút liền.

Trước hết, hắn xin lỗi bề trên, là mấy năm nay, vì bận việc quá, hắn không đến thăm sức khỏe cha được. Nhưng không phải vì thế mà hắn quên ơn, quên tình của cha đối với hắn.

Ma-ri không ỡm ờ, không nhí nhảnh. Dáng điệu và giọng nói hắn rất lễ phép, khiến con dê già cũng phải nghiêm nghị mà nghe.

Ma-ri nói tin hai đứa bé đẻ sinh đôi ngày ấy, chỉ còn nuôi được một đứa, năm nay đã 15 tuổi, tên là Rô-da-lin.

Người bố thở dài khẽ.

Ma-ri tả mặt mũi, khổ người con Rô-da-lin, và khen là nó giống cha. Hắn nói về sự học hành và hạnh kiểm của con bé. Hắn không giấu là nó đã mất trinh, không giấu là nó vừa dốt vừa lười, và không giấu là bây giờ nó lớn phổng lên, cả ngày chỉ phấn sáp, mặc thật diện, để đứng cửa, hoặc đi rong phố.

Người bố lại thở dài khẽ.

Ma-ri nói đến việc hắn ăn ở với Thừa thế nào. Hắn cố tình tỏ cho lão cha đạo biết là hắn không yêu chồng bằng yêu bề trên.

Chẳng qua hắn ngoan đạo, thì phải tuân theo lời bề trên xếp đặt, chứ thực ra, hắn chỉ tha thiết về với bề trên thôi.

Người bề trên gật gù.

Ma-ri cho nhà tu hành biết những thủ đoạn làm giàu của Thừa, bây giờ hắn có vốn liếng ước chừng bao nhiêu. Hắn cũng báo cả việc Thừa xoay công danh thế nào, nhưng đến nay, tường nhà chỉ lòe loẹt những tưởng lục. Hắn kể ý của hắn là vì sao định dành đồn điền làm của hồi môn cho con Rô-da-lin, nhưng tình hình thóc lúa ở Cẩu Rồng khó khăn thế nào. Thừa muốn báo thù nông dân thế nào, mới xui hắn để lại đón điền cho cha, lấy tiền chung vốn buôn tàu thủy.

Kể một thôi một hồi xong, Ma-ri lấy mù-soa chấm mồ hôi trán, rồi nhếch mép, nói đùa một mình:

- Y như khai ở sở mật thám.

Người cha đạo vẫn nghiêm nét mặt, hất bộ râu xồm:

- Hết?

- Thưa cha vâng ạ.

- Nó định kinh doanh vận tải đường thủy?

- Vâng ạ.

Nhà tu hành gãi mép một lúc, rồi lên tiếng:

- Chỉ vì muốn cha trị bọn điền tốt bướng bỉnh mà nó bảo con để rẻ đồn điền cho nhà Chung, hay nó còn mục đích nữa, là muốn cầu cạnh cha chạy công danh cho nó?

Ma-ri nghĩ rồi phát vào đùi đánh đét:

- Ừ nhỉ, dễ thường cả hai đấy, ông ạ. Thằng cha ấy láu lắm.

Người cha đạo cau mặt:

- Thế nào? Con nhắc lại câu nói?

Ma-ri sực nghĩ ra, lễ phép thưa:

- Trình lạy cha, dễ thường nó nhằm cả hai mục đích đấy ạ. Chồng con tinh khôn lắm.

Nhà tu hành gật đầu:

- Để ruộng cho nhà Chung. Ý ấy rất hay. Đáng thưởng. Để rẻ ruộng cho nhà Chung. Việc làm này rất tốt. Nó xứng đáng được cha giúp về công danh.

Ma-ri nhìn người cha đạo:

- Nhưng đồn điền của con. Chính nhà Chung cướp cho con. Sao cha lại giúp nó?

Cha Hảo cau mặt:

- Con không được dùng tiếng cướp. Cha đã nhờ pháp luật lấy lại cho con, chứ cha đi ăn cướp của ai bao giờ? Còn như bây giờ cha mua lại của con, đã là giúp con rồi. Chồng con đáng thưởng, vì sáng kiến bán cho nhà Chung, lại bán rẻ, là sáng kiến hay, đáng thưởng. Vậy con về, gọi nó đến đây hầu cha. Con ủy quyền cho nó thương lượng giá cả với cha. Bởi vì nó hiểu việc, mà con thì chỉ tham tiền.

Ma-ri im lặng. Người cha đạo hỏi:

- Con không bằng lòng về lời cha vừa nói hẻ?

Ma-ri vẫn im lặng.

- Thế nào? Con nghĩ gì?

- Trình lạy cha, con đương nghĩ xem nên xin cha giúp chồng con cái gì?

Người cha đạo cũng ngẩn mặt ra nghĩ. Một lát hắn nói:

- Cha tìm ra cái thứ để thưởng nó rồi. Rất xứng đáng.

- Thưa cha, cái gì ạ?

- Cha không muốn giúp nó ra làm quan, dù biết nó sẽ là một tên khuyển mã tốt. Nhưng cha sợ khi được làm quan rồi, thì nó mãn nguyện, cha sai bảo không nổi nữa. Cha có thể xin cho nó cái hàn lâm. Nhưng nó đã trót được gọi là ông hàn rồi, chắc nó không thích nữa. Cha có thể xin cho nó Bội tinh của chính phủ Bảo hộ, nhưng cha xét nó chưa xứng đáng. Bởi vì đồn điền này là công của cha lấy cho con, thì nó chỉ xứng đáng được cái kim khánh, hoặc cái Long Bội tinh của chính phủ Nam triều thôi.

Ma-ri hỏi:

- Thưa cha sao lại thế ạ?

- Giá phải là đồn điền của nó bán rẻ cho nhà thờ, thì công thật là của nó. Nhưng thế này là nó ghé vào của con, thì nó chỉ xứng đáng được chính phủ Bảo hộ ghé vào chính phủ Nam triều mà thưởng nó thôi.

Ma-ri thở dài:

- Hoài của, giá chính phủ vẫn còn lệ ban mề-đay cho đàn bà, thì lần này, con quyết xin cha một chiếc.

Người cha đạo nhếch mép cười:

- Nhưng chẳng lẽ tự nhiên cha lại nói cho nó được thưởng. Phải chờ một ân điển của nhà vua, ví dụ thưởng cho những người có công chấn hưng thương nghiệp chẳng hạn.

Bỗng người cha đạo nghĩ ra:

- À, thế này. Con có biết tin quan công sứ Vĩnh Yên Mát-xi-li sắp về Pháp nghỉ giả hạn không?

- Thưa có.

- Rồi ngài lại sang, sẽ làm Đổng lý văn phòng phủ Thống sứ.

Ma-ri ngơ ngác nhắc lại:

- Đổng lý văn phòng?

- Tức là phó thống sứ đấy.

- À, à, to nhỉ.

- Vậy con bảo chồng con tậu ngay độ dăm mẫu ruộng ở phố huyện, để lập sân vận động. Bây giờ phong trào thể dục thể thao được khuyến khích, nghe chưa?

- Vô ích, cha ạ. Người quê, làm ựa cơm ra, việc gì còn phải vận động.

- Nhưng quan thống sứ thích thế.

- Thế ạ? Con thấy một vài nơi có sân vận động, chỉ tổ làm cho người ta lười biếng, tụ bạ nhau để đánh chửi nhau, chả thiết làm ăn gì. Sân vận động Kinh Môn ấy, cha ạ, khánh thành xong, thì để mặc cho cỏ mọc, chó ỉa. Thỉnh thoảng quan phủ bày trò ra thì phải sức cho cả hạt phải cờ quạt, và bắt bớ người đi xem, làm người ta mất công mất việc, đến nỗi người ta trốn như trốn giặc.

- Con không được nói thế. Cha bảo thì con cứ phải nghe và làm theo. Chồng con sẽ lập sân vận động, sẽ xin tên quan công sứ Mát-xi-li đặt cho sân vận động ấy. Nó có làm được thế không?

- Thưa cha, có gì mà chả được?

- Còn một việc nữa.

- Gì ạ?

- Muốn giữ tình thày trò với quan Mát-xi-li, nó sẽ đứng lên tổ chức tiệc trà tiễn ngài, khi ngài sắp lên đường về Pháp. Nó có làm được thế không?

- Thưa làm ở Cẩu Rồng ấy ạ?

- Sao lại Cẩu Rồng? Làm ở Cẩu Rồng thì ai đến được. Phải làm ở Vĩnh Yên. Phải mời nhiều quan chức ở Hà Nôi về dự. Tiệc trà phải được chụp nhiều ảnh, tường thuật lên các báo. Để quan công sứ giữ làm tài liệu. Như vậy, không ai tranh nổi ngài chức Đổng lý văn phòng nữa. Nghe chưa? Nó có làm được thế không?

- Trình lạy cha, con không dám trả lời hộ nó. Vì việc này tốn kém, không biết nó có chịu bỏ tiền ra không?

- Tốn kém mà nó phải chịu một mình à? Nó chỉ đứng lên cổ đông. Tiền đã có các quan đóng góp và bắt dân đóng góp. Quan nào dám từ chối đóng góp? Quan nào dám phản đối tiệc trà tiễn quan công sứ về Tây?

Ma-ri mừng rỡ:

- Thế thì nó làm được, cha.

- Ừ. Nó lập sân vận động, thì mới có cớ để xin thưởng cho nó. Giấy xin thưởng sẽ kể các công lao của nó từ trước tới giờ, như giấy của sở Mật thám Bác Kỳ tư xin cho nó đi tri châu mà con nói ban nãy ấy. Việc lập sân vận động sẽ làm vui lòng quan thống sứ, chắc ngài sẽ không hẹp hòi. Việc lấy tên quan Đổng lý văn phòng đặt cho sân vận đông, sẽ làm quan Đổng lý nhớ mãi chồng con, dù chúng con không ở Vĩnh Yên nữa.

- Nhưng, thưa cha, nếu cha không gọi cho các ngài, thì hỏng toét! Lại thêm một đạo tưởng lục phải gió nữa thôi.

Người cha đạo cau mặt, lắc đầu:

- Không. Việc làm sân vân động chỉ là cớ phụ. Việc để đồn điền cho nhà Chung mới là cớ chính. Các quan trên sẽ vào nhà Chung mà tu kim khánh hoặc bội tinh của Nam triều cho nó.

Ma-ri ngẩn mặt ra nghĩ, rồi hỏi:

- Nhưng thưa cha, ngộ chính phủ Nam triều không cho thì sao ạ?

Người cha đạo cau mặt:

- Con đừng làm bộ ngây thơ mà hỏi cha điều ấy. Há con không biết là chính phủ Bảo hộ bảo gì thì chính phủ Nam triều phải tuân theo hay sao? Con không biết là ai cho Bảo Đại làm vua à? Vậy nó có thể không tuân lệnh không? Vả chăng thằng bé con mới lớn lên này đã biết gì? Nó là thằng si ngốc, ít tuổi, nhưng đã mê gái, mê cờ bạc. Cho nên nó sợ mất địa vị, thì mất lương tháng để chơi bời. Vả lại, vua An Nam chỉ còn quyền cho phẩm hàm, kim thánh, kim bội, kim tiền và bội tinh cho người sống, cùng phong sắc cho các thần. Nếu Bảo Đại không làm những việc ấy, thì nó còn việc gì mà làm? Quyền nhà vua là quyền của quan khâm sứ Trung Kỳ. Người tay trong của chính phủ Bảo Hộ là Phạm Quỳnh, con nghe chưa?

- Thưa cha, con cũng nghe đồn thế.

- Thật thế, chứ đồn đại gì. Việc xin thưởng cho chồng con, Phạm Quỳnh làm cũng nổi. Nhưng cha ngại Phạm Quỳnh là người Bắc, trước lại là thư ký hội Khai Trí Tiến Đức, thì nó biết rõ chồng con, nó có thể nói với quan Khâm sứ là chồng con không xứng đáng. Vậy về việc này, con phải vào Huế, đưa thư của cha đến tận tay thằng Ngô Đình Diệm cho cha.

- Thưa cha, thằng Ngô Đình Diệm là đứa nào ạ?

- Là thượng thư bộ Lại, con không biết à?

Ma-ri cười:

- Thượng thư mà cha gọi là thằng!

- Nó là thượng thư với người An Nam, chứ không phải với người Pháp. Vả nó được các cha cất nhắc cho lên chức ấy.

Ma-ri nhìn người cha đạo, tỏ ý ngờ vực:

- Con không tin hả? Thế con không biết rằng từ ngày lập bảo hộ, thì trong nội các của nhà vua An Nam bao giờ nhà thờ cũng cho một tay chân vào để lúc cần thì sai khiến, nghe chưa. Thế con đã vào Huế lần nào chưa?

- Thưa chưa ạ.

- Con phải đi.

- Vâng ạ.

- Để đưa thư của cha tới tay thượng thư bộ Lại. Bao giờ con đi, con sẽ gặp cha để lĩnh thư, nghe không?

- Vâng ạ. Chắc chồng con thích lắm. Thế nào cũng cho con đi. Con đi một mình thôi cha ạ. Nó theo đi, thì mất tự do!

- Việc này vợ chồng thu xếp với nhau. Nói tóm lại, con phải bảo chồng con vào hầu cha.

- Nhưng cha đừng bảo nó theo đạo, cha ạ. Nó đểu lắm. Chả lẽ lại dụ người đểu theo đạo!

Người cha đạo không đáp:

- Thôi, con về đi.

Ma-ri đi độ dăm bước, hắn quay lại:

- À thưa cha, nếu nó có xin cha dùng thằng quản lý cũ của nó là đội Tuynh, thì cha đừng dùng.

- Tại sao? Đội Tuynh làm quản lý có tốt không?

- Tốt. Nhưng mà… không tốt.

Cha Hảo mỉm cười:

- Lại sắp ỡm ờ. Thôi, đi về.

* * *

Ma-ri đến Huế.

Hắn chuẩn bị tư tưởng và thái độ, khi được quan thượng thư bộ Lại tiếp kiến.

Hắn nhuộm thuốc mới cho mười móng tay, và mười móng chân thêm đỏ. Hắn đánh phấn cho đôi má thật hồng. Hắn vẽ son vào môi trên, môi dưới, vẽ trên nửa bề dày, cho môi trông như mỏng lại, và có hình trái tim. Sửa xong bộ mặt mất hai mươi phút, hắn mới bắt đầu chải tóc. Hắn bôi dầu cho bóng nhẫy mớ tóc nhỏ như tơ và màu hung hung của hắn, rồi uốn từng nạm, từng món cho tròn. Lúc ấy hắn mới dùng cái độn tóc ngoài, để bới với tóc hắn cho lẳn. Hắn vẫn tự hào về cái bới tóc của phụ nữ Bắc. Phụ nữ Bắc bắt chước phụ nữ Nam và phụ nữ Trung bới tóc, nhưng bới khéo hơn phụ nữ Trung và phụ nữ Nam. Bới tóc phụ nữ Trung cao quá, hở cả gáy, làm cho cái cổ trơ. Bới tóc phụ nữ Nam xệ xuống quá, nhiều cái, khi người đi, nó lúc lắc như quả lắc đồng hồ. Bới tóc phụ nữ Bắc chỉ thấp hơn của phụ nữ Trung một tí, và chỉ cao hơn phụ nữ Nam một tí, mà sao nó nền, nó nhã, nó mềm mại như thế!

Bới xong tóc, Ma-ri chọn quần, và chọn áo. Hôm nay, hắn hãy mặc chiếc áo màu vằn da rắn. Và như vậy, hắn cũng lận đôi săng-đan cao gót và cắp cái ví đồng màu với áo. Hắn đeo chiếc kiềng vàng chạm vào cổ, và đôi vòng nạm kim cương vào tay. Ngón giữa tay trái, hắn đeo chiếc nhẫn có mặt ngọc đỏ.

Trang điểm xong, Ma-ri đứng trước chiếc gương, để kiểm lại một lượt, hắn rất tự hào.

Hắn thuê xe vào bộ Lại.

Nhưng không may cho hắn. Người lính nói:

- Thưa, cụ đi vắng, hình như vào chầu mạt chược đức Thái Hậu.

Ma-ri cho là người lính nói dối để khách thấy lâu mà đừng đợi. Chứ hôm nay là ngày làm việc, lẽ nào quan thượng thư lại đi chơi.

Hắn chờ.

Cho đến hơn mười một giờ, bỗng có tiếng còi ô-tô. Người lính canh vội vàng mở toang hai cánh cổng ra. Một chiếc xe Rơ-nôn kiểu cũ, dễ thường sơn lại bằng màu đen mộc, nên không bóng nhoáng như những xe ở Hà Nội, rầm rộ tiến vào sân. Rầm rộ, bởi vì nó vừa chạy vừa kêu phành phạch, kêu to hơn chiếc Béc-li-ê cổ của Thừa. Ma-ri không nổi trống ngực nữa. Bởi vì, thoạt tiên hắn tưởng cụ thượng về. Nhưng đến khi thấy xe và người ngồi ở trong, hắn cho không phải là quan cụ. Bởi vì hắn đã tưởng tượng quan cụ là một người già, có râu bạc phơ phơ. Người ngồi trong xe này không có râu, mặt lại càu cạu như thằng sắp văng tục. Đến khi người ấy bước xuống đất, Ma-ri yên trí là không phải quan thượng thư bộ Lại, to nhất triều đình. Vì hắn ta mặc cái áo thâm ngắn cũn cỡn trên đầu gối, đội cái khăn ít nếp. Ma-ri yên trí là chú lính lệ.

Nhưng Ma-ri đã lầm. Chính là Ngô Đình Diệm đó.

Ngô Đình Diệm thoáng nhìn thấy Ma-ri, thì nó trỏ và hỏi người hầu:

- Cái tê vô mần chi?

Ma-ri nghe rõ. Hắn quay ngoắt đi. Hắn không thèm nhìn cái thằng lính lệ mà hách dịch, xấc láo, nói giọng khinh bạc, coi người như một đồ vật mà gọi là cái.

Người hầu đáp:

- Lạy cụ lớn, bà nớ ở Bắc vô hầu cụ lớn.

Ma-ri thấy tiếng cụ lớn, mới nín thở để nghe thêm cho rõ. Hay là quan cụ đây? Nhưng không thấy ai nói nữa, hắn mới quay lại. Quan cụ đã vào nhà trong. Chỉ còn người hầu đứng đó.

Ma-ri đến gần người ấy:

- Ai vừa vào thế?

- Cụ đấy.

Nhưng nghe tiếng cụ, Ma-ri lại hiểu theo nghĩa Huế, là phu xe hoặc ăn mày.

Hắn cố làm ra vẻ thản nhiên. Người hầu nhắc:

- Cụ lớn thượng Lại đấy.

Ma-ri mỉm cười:

- Anh vào trình cụ là có bà hàn An-be ở ngoài Hà Nội vào đưa cụ cái thư cần, nhé.

Người hầu lễ phép, đáp:

- Thưa bà, cần gì thì cũng mời bà chờ đến buổi hầu chiều. Bây giờ cụ xơi cơm. Xơi cơm xong, cụ giấc. Con không dám trình, sợ cụ quở con.

Vốn ỷ vào nhan sắc, quen được chiều chuộng, Ma-ri không chịu được lối cửa quyền. Hắn cau mặt:

- Giờ làm việc thì quan cụ đi đánh mạt chược. Giờ nghỉ thì quan cụ không tiếp khách. Tôi có thư cần đưa đến cụ, nếu anh không vào trình, lỡ hỏng việc của cụ, anh chịu lấy trách nhiệm.

Người hầu sợ quá:

- Thưa bà…

Anh ta đương định nói, bỗng có tiếng gọi, vội bỏ Ma-ri ở sân để chạy vào.

Một phút sau, anh ta ra:

- Thưa bà, mời bà vô.

Ma-ri theo người hầu, ngồi trong buồng khách.

Hẳn là Ngô Đình Diệm đương ăn cơm, Ma-ri nghe rõ thấy cả tiếng nó nhai tóp tép, và tiếng nó húp canh xụp xoạp. Ma-ri nghĩ:

“Quái, tưởng quan đại thần thì thanh nhã, ai ngờ ăn uống thô tục thế!”

Độ hai mươi phút sau, Ma-ri nghe có tiếng giày ra buồng khách. Hắn biết là Ngô Đình Diệm, nên hắn càng dùng cái quyền của nữ lưu phương Tây để đối đãi.

Khi Ngô Đình Diệm ra, Ma-ri thấy nó chỉ mặc cái áo dài trắng, mà không đội khăn, thì hắn nghĩ ngay cách đối phó với thằng vô lễ này. Ma-ri không đứng đậy. Hắn chỉ khẽ nghiêng đầu, và hai nhếch mép để chào bằng cái chào ngang. Ngô Đình Diệm không gật đầu chào lại.

Ma-ri lại trêu thêm. Hắn giơ tay ra bắt. Ngô Đình Diệm không dám từ chối. Ma-ri chỉ đưa bàn tay nắm lỏng lẻo lấy tay Ngô Đình Diệm thôi. Hắn cho như thế là đắc thắng.

Ngô Đình Diệm hỏi:

- Có việc chi?

Thấy câu hỏi trống không, Ma-ri không đáp, cúi xuống mở ví, lấy cái thư của cha Hảo, đưa cho Ngô Đình Diệm. Thằng này đọc, bỗng nhìn Ma-ri bằng con mắt hốt hoảng:

- Tôi xin lỗi bà lớn.

Nó vào nhà trong. Lúc nó ra, đầu nó đã chụp khăn, mình nó đã mặc thêm chiếc áo thâm. Thấy vậy, Ma-ri rất hởi dạ. Ngô Đình Diệm lễ phép hỏi:

- Thưa bà lớn, bà lớn mới vô?

Ma-ri lễ phép lại:

- Thưa, chúng tôi mới vào tối hôm qua. Cha bảo phải vào tận nơi để đưa cụ lớn bức thư.

- Dààà.

- Và để biết ý kiến của cụ lớn thế nào để tôi về trình cha.

- Dààà.

* * *

Ma-ri ở Huế, nửa tháng.

Hắn bảo Thừa là vì hắn mến cảnh, mến người.

Cảnh sông Hương núi Ngự có tiếng là đẹp, ai cũng phải mến đã đành. Nhưng còn mến người, thì Ma-ri không nói là hắn mến ai.

Bởi vì việc hắn đưa thư lão cha Hảo đến quan thượng thư bộ Lại, đã kết thúc ở tiếng dạạạ dài thứ hai của vị đại thần, Ma-ri có thể đứng dậy để rồi khởi bộ, rồi đợi tàu về Hà Nội.

Thế thì cái gì nó hấp dẫn Ma-ri ở lại đất đế đô những nửa tháng ròng?

Ma-ri không nói rõ, nên tác giả không biết để viết tỉ mỉ lại.

Ma-ri chỉ khoe là cụ thượng Lại tử tế lắm. Vì trọng cha, nên cụ quý cả người của cha. Cụ mời Ma-ri ở luôn trong bộ Lại, dành cho Ma-ri một buồng riêng, cho Ma-ri được thoải mái như ở gia đình. Cụ đưa Ma-ri đi xem lăng tẩm các vị đế vương, xin cho Ma-ri vào Nội, và hân hạnh nhất, là Ma-ri được vào chầu đức Từ Cung, và trông thấy cả ngài Ngự đánh quần. Ngô Đình Diệm có đưa cả Ma-ri đi chơi thuyền ở sông Hương, và dắt Ma-ri đến thăm mấy ông hoàng bà chúa. Hắn cũng có dịp gặp một vài cụ thượng khác.

Hắn khoe cụ thượng Phạm, thượng thư Bộ quốc dân giáo dục, mà hắn quen miệng gọi là cụ Học. Hắn bảo cụ Học bây giờ béo, trắng hơn ngày cụ còn làm báo Nam Phong. Buồng khách của cụ bày toàn đồ trang trí bằng vàng và ngọc. Cụ hỏi thăm Hà Nội, hỏi thăm Thừa, hỏi thăm các bạn của cụ mà Ma-ri cũng quen biết.

Cụ Lại cắt riêng một người hầu Ma-ri. Người ấy gọi là cậu giáo. Trước hết, Ma-ri cứ tưởng như ở Hà Nội vẫn gọi, cậu giáo là một người dạy học riêng các con cụ thượng. Nhưng khi hỏi thì biết cậu giáo là con một quan võ, cậu được chức giáo dưỡng, hàm lục phẩm, nên gọi tắt là cậu giáo. Các cậu giáo đến hầu các quan văn, để sau này nối nghiệp cha, ra làm quan võ.

Cậu giáo trẻ, và đẹp. Nhưng Ma-ri chê cậu yếu đuối và nhút nhát. Nói đến cậu giáo này, không rõ vì sao Ma-ri lại liên tưởng đến cụ thượng Ngô.

Hắn bảo:

- Còn cụ thượng thì thật xứng đáng là vị quan to nhất nội các. Vì ngài nhã nhặn, tử tế, khỏe mạnh, và thành thạo.

Về Hà Nội, những lúc ngồi một mình, mơ màng cảnh và người của sông Hương núi Ngự, thỉnh thoảng Ma-ri ti tỉ ngâm:

Ngày trông quan lớn như vua

Đêm sao quan lớn nô đùa như dân?

Ngày trông quan lớn như thần,

Đêm sao quan lớn tần mần như ma?

Ngày trông quan lớn như cha,

Đêm sao quan lớn la đà như con?

Và câu:

Yếm trắng anh ngỡ rằng cò,

Anh quỳ xuống gối anh thò hỏa mai.

Ngày sau, em đẻ con trai,

Nó lớn, nó giống anh cai bắn cò.

Ma-ri đến chơi các nhà bạn hữu để khoe chuyện Huế, khoe nhân vật Huế, trong hơn một tháng. Hắn còn chắc chắn là chỉ trong ít ngày nữa, thế nào Thừa cũng được vua ban Nam long bội tinh, về việc này, Ma-ri nói riêng với Thừa:

- Lão thượng nó bảo rằng nếu nó tâu cho ông mà đức Kim thượng không chuẩn y, thì nó đã có cách.

- Cách thế nào?

- Là nó cứ làm giấy tờ sẵn đấy. Hôm nào đức Kim Thượng gọi tê-lê-phôn vời nó vào đánh mạt chược, thì nó rình lúc ông ấy được bạc, đương vui, thì nó xui ông ấy xơi non. Đám mạt chược tan, nó mới thò một tập giấy cho ông ấy ký. Trong tập này, nó gài tờ giấy thưởng bội tinh cho ông vào giữa. Lúc này thì anh vua nhắm mắt lại mà ký. Một là anh ta tin nó, hai là anh ta cũng muốn được nhanh chóng chuồn đi, để nuốt trôi món tiền được bạc.

Ma-ri thêm:

- Lão ta chắc chắn mưu mô này trôi chảy, vì lão đã làm như vậy nhiều lần rồi.

Cả Thừa lẫn Ma-ri đều hy vọng. Mối hy vọng cứ mỗi ngày một to dần.

Nhưng chờ đến hai tháng, chưa thấy tin tức gì, Ma-ri bảo Thừa:

- Hay là lão ta dìm việc này để bắt tôi vào lần nữa với lão ta?

Hắn đòi vào Huế. Thừa đồng ý. Nhưng hôm Ma-ri sửa soạn hành lý để lên đường, thì Thừa xem báo, thấy một tin như sét đánh. Hắn lật đật cầm tờ báo vào cho Ma-ri.

Tin ấy là tin Ngô Đình Diệm bị cách tuột chức thượng thư.

Không rõ lý do vì sao tên thượng thư bộ Lại bị xuống làm thường dân, Ma-ri tím mặt lại, nghiến răng:

- Cha tiên nhân thằng sở khanh Ngô Đình Diệm, nó làm bà mòn mất ít da thịt.

* * *

Thôi, ta để mặc Ma-ri chửi cho hả cái thằng suốt đời làm kiếp chó này. Mà ta biết, khi đã nổi lôi đình, thì Ma-ri phải đặt thêm nhiều danh từ cho ngôn ngữ Việt Nam thêm phong phú. Hẳn chẳng phải Ma-ri chỉ réo tên con dê già xỏ lá, mà còn đào bới cả mả bố thằng Ngô Đình Khả, để cho ăn những của chẳng ngon, cho bõ cái tội thằng cha, thằng ông không biết dạy con cháu.

Việc của thằng mấy đời bán nước và mấy lần liếm gót bọn đế quốc, phát-xít này, đến đây xin chấm dứt. Bởi vì nó hết dính dáng đến chuyện của Thừa và Ma-ri.

* * *

Trong những ngày Ma-ri vào Huế thì Thừa được rảnh thời giờ và tâm trí. Ngoài việc kinh doanh hai chiếc tàu thủy, việc hắn quan tâm thứ hai, là Xuy-dan.

Lắm lúc Thừa tự hỏi tại sao hắn lại đối đãi đặc biệt với Xuy-dan như hắn đã xử mấy lần trước? Xuy-dan cũng chỉ là một người bán trôn nuôi miệng, như những người đã thỏa mãn tình dục cho hắn một lần, cùng lắm là vài lần thôi. Thế là hắn quên. Mà không quên, hắn cũng không muốn nhớ, để thay bằng người mới. Nhưng Xuy-dan thì hắn không muốn quên. Hắn thương hại, xót xa, và càng biết sâu đời của người con gái bị ruồng bỏ, hắn càng thương hại, càng xót xa. Chưa bao giờ hắn nỡ nghĩ đến việc bỏ Xuy-dan.

Thừa xuống Hải Phòng thăm Xuy-dan.

Nhưng đến nhà cũ, hắn không thấy Xuy-dan. Hắn hỏi thăm, biết là Xuy-dan khỏe mạnh, nhan sắc được như cũ, đã bị An-na Phán bắt về, tiếp tục làm nghề nhà thổ.

Thừa vội vàng đến nhà An-na Phán.

Hắn điều đình với người mẹ dầu cho Xuy-dan được sống tự do. An-na Phán bằng lòng:

- Thế thì anh phải bồi thường cho tôi hai trăm bạc. Tôi nể anh là chỗ thân. Nếu không, tôi giữ nó lại. Nó là mình vàng mình bạc, kiếm lợi cho tôi đến hàng nghìn.

Thừa không đủ món tiền ấy ở trong túi, nhưng vì An-na Phán nể và tin hắn, nên hắn được chuộc chịu Xuy-dan. Hắn đưa Xuy-dan về Hải Dương.

Hắn tìm thuê cho Xuy-dan một căn nhà ở phố Đông Quan, thật hẻo lánh. Hắn kiếm một gia đình cho Xuy-dan dạy học tư, bảo năm đứa trẻ, hai đứa học quốc ngữ, ba đứa học thêm những bài ở nhà trường. Xuy-dan được lương mười lăm đồng một tháng. Thừa nói:

- Thế là đáng mừng. Ở đây người ta gọi em là cô giáo. Người ta không biết nghề cũ của em. Vậy em cũng đừng lấy tên là Xuy-dan nữa.

Xuy-dan sung sướng, nũng nịu:

- Thế anh đặt tên mới cho em đi? Hay cứ lấy tên ông bà đặt cho, là Thúy, là Thúy gian?

Thừa lắc đầu:

- Cũng không nên. Anh không muốn ai biết tung tích của em.

Bỗng Thừa nghĩ ra:

- A, có một tên hay lắm. Em vẫn lấy tên cứ trong khai sinh, là Thúy, nhưng gọi chệch tiếng gian là lan, Thúy Lan.

Xuy-dan ôm lấy cổ Thừa, ngả đầu vào ngực Thừa:

- Anh!

Thừa vỗ về Xuy-dan. Hắn đưa cho Xuy-dan một trăm bạc:

- Em cầm lấy mà sắm đồ đạc cho đủ dùng. Thiếu bao nhiêu, anh lại cho. Anh không tiếc.

Xuy-dan hỏi:

- Anh có ở với em không?

- Anh không hứa điều ấy. Song, em nên yên tâm rằng anh ở gần, thì được về với em luôn.

Xuy-dan thở hồi hộp, nhắm dần đôi mắt lại, tay quờ quạng vào mặt Thừa:

- Anh dùng tiếng về. Em cảm động.

Rồi mở đôi mắt đỏ hoe ra:

- Anh là vị thiên thần vớt em ra khỏi đống bùn nhơ. Công anh như núi Thái Sơn.

Thừa hiểu ý câu nói, mỉm cười, lắc khẽ đầu. Hôm sau, Thừa xuống thăm Xuy-dan:

- Thế nào, một trăm bạc có đủ sắm các thứ không.

Xuy-dan đáp:

- Em không cần đủ cho em. Vì anh không ở hẳn đây. Em chỉ mua những thứ cần cả cho anh và cho em thôi. Còn nếu cần riêng cho em, thì em sắm dần.

Thừa âu yếm, vuốt ve mái tóc Xuy-dan:

- Em thật ngoan.

Hắn nhấn mạnh:

- Ngoan.

Rồi tiếp:

- Em phải khổ là do tội anh, nhưng cũng là tự em đày đọa thân em, hoặc do trời không có mắt. Thế bây giờ em còn thù đời nữa hay không?

Xuy-dan lắc đầu:

- Hiện giờ thì không. Còn mai sau thế nào, em chửa dám nói trước.

- Mai sau cũng như hiện giờ thôi.

Xuy-dan cười:

- Khi em không là vợ anh, thì em sống với anh ngày nào, biết ngày ấy. Ngộ chiều nay, hoặc tuần sau, hay một tháng nữa, tiếng anh bao gái đến tai hoạn thư, thì em bị mổ mề ăn gan!

Thừa buồn bã:

- Anh tiếc rằng, cha mẹ anh đẻ anh sớm mười năm, và cha mẹ em đẻ em muộn mười năm. Nếu chúng ta cùng một lứa tuổi thì…

Xuy-dan rưng rưng nước mắt:

- Thôi, em van anh, anh đừng nói đến việc ấy.

Một lát cô hỏi:

- Anh ạ, gần một năm rồi, hôm nay em mới tò mò hỏi anh. Có phải tên thật anh là Trần Đức Thừa phải không?

Thừa gật đầu:

- Phải. Sao em biết?

- Ở Hải Dương này, ai còn lạ anh?

Thừa giật mình:

- Tại sao? Lạ thế nào?

- Lạ tên ông chủ tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ.

Thừa mỉm cười. Xuy-dan thở dài hát:

Thân em là hạt mưa sa,

Nay vào đài các, mai ra ruộng lầy.

Thừa làm bộ điệu như trẻ con.

- Ứ, không hát thế. Hát lại cơ.

Xuy-dan tủm tỉm:

Em không là hạt mưa sa,

Chỉ vào đài các không ra ruộng lầy.

Hai người cùng cười, nhìn nhau âu yếm.

anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc k
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.