Nhận bức văn tự sang tên nhà phố Hàng Vải thâm, có chữ ký của giám đốc sở Văn tự, cô Lễ đưa cho người tùy phái một đồng bạc, rồi thuê xe về tòa báo.
Lòng cô lúc này phơi phới vui. Vì cô đã làm xong một việc khó khăn để chiều ý chồng.
Ý chồng cô là muốn theo lời bà cụ khuyên bảo, dọn về ở một cái nhà của mình, cho rộng rãi, được tự do, khỏi phải nhờ cái buồng chật hẹp của tòa báo, thỉnh thoảng cụ có đến, không có chỗ mà ngồi, Nhưng anh lại khái, không muốn mang tiếng là ở nhờ nhà bố mẹ vợ. Cho nên, để chiều theo được ý mẹ, cô Lễ nghĩ chỉ có cách giải quyết, là xin hai cụ sang tên hẳn một cái nhà cho mình.
Cố nhiên, cụ bà bằng lòng. Nhưng cụ ông lưỡng lự. Và cậu Nghĩa thì phản đối kịch liệt.
Cô phải về tất cả bốn lần để thúc cụ bà thuyết cụ ông, thuyết bằng lý, bằng tình, bằng cả nước mắt. Cô lại nhờ cả mấy ông chú bà bác đến vận động hộ, cụ ông mới đồng ý.
Bây giờ văn tự ở trong tay cô rồi. Cô định chốc nữa, về nhà, còn giả vờ giả vịt mãi để trêu chồng lâu, cho đến lúc anh thất vọng, mới đưa anh xem văn tự, cho anh cười. Rồi chiều nay, hai vợ chồng lên Hàng Vải thâm, bảo người trương tìm nhà khác để dọn đi, cho ông chủ bà chủ đến ở. Nghĩ đến tiếng ông chủ bà chủ, cô sung sướng quá. Cái nhà ấy sẽ là cái tổ uyên ương, ủ ấp cho ái tình của đôi vợ chồng mới. Rồi đôi vợ chồng mới sẽ chọn xem chỗ nào ấm cúng nhất thì làm buồng ngủ, chỗ nào yên tĩnh thì làm nơi cho anh nghĩ văn, nghĩ thơ, để viết báo. Buồng ngủ, buồng làm việc, buồng tiếp khách, bày biện những gì, ông chủ bà chủ sẽ bàn bạc với nhau rồi sắm dần.
Xe đến đầu phố Hàng Bồ. Cô chắc bây giờ đức anh chồng mong mình lắm đây. Hẳn là xe vừa đặt vào hè cô chưa xuống, chàng đã chạy ra đón, và hỏi:
- Đâu? Được chưa?
Cô sẽ làm mặt buồn rầu, không nói. Cho anh thất vọng. Cô Lễ mỉm cười một mình.
Xe gần đến tòa báo, cô vui sướng, lánh mặt sang phía gọng mui, nhìn cho rõ xem chồng cô đứng ở đâu, để trốn anh.
Nhưng cô không trông thấy anh Thừa.
Xe đỗ trước tòa báo. Trả tiền xong, bỗng cô thấy một người đàn bà, trạc tuổi cô, tay dắt một thằng con trai độ lên ba tuổi, đến gần cô. Người này đi đất, mặc váy vải, áo cộc nâu, nhưng không rách rưới. Chắc không phải kẻ đến ăn xin.
Người đàn bà hỏi cô:
- Tôi hỏi khí không phải, chị có phải là vợ anh Thừa không?
- Vâng.
Cô hơi ngạc nhiên. Nhưng nghĩ đến tiếng chị mà người ấy gọi cô, cô đoán là một người họ hàng của chồng ở nhà quê ra thăm. Cô mỉm cười, nhìn người ấy:
- Chị hỏi anh Thừa ạ?
- Vâng. Anh ấy có nhà không ạ?
- Mời chị vào chơi. Tôi mới đi về, chẳng biết nhà tôi có nhà không.
Rồi cô hỏi:
- Chị ở nhà quê mới ra ạ?
- Vâng.
Cô đưa người khách vào buồng riêng, mời ngồi, rồi rót hai chén nước:
- Mời chị. Chúng tôi ở đây cũng là chân nâng, cho nên phải chịu chật chội.
Người khách hỏi:
- Anh Thừa đi vắng ạ?
- Vâng, chắc là thế.
Người ấy uống chén nước, rồi nói:
- Tôi nghe anh chị mới lấy nhau.
Cô Lễ ửng đôi má:
- Vâng.
Rồi cô hỏi:
- Thưa, tôi mới về, mà nhà tôi thì bận, thành thử chưa đưa tôi đi được đến chỗ họ hàng. Thưa chị là thế nào với anh Thừa ạ?
Người khách cười. Cô Lễ lại hỏi:
- Để họ hàng biết nhau, đi lại cho thân mật. Kẻo lại đánh nhau vỡ đầu mới nhận họ!
Cô cười. Nhưng người khách không cười. Cô Lễ chưa được biết người này là ai, nên lại phải hỏi những câu đưa đẩy:
- Thưa, trong quê ta năm nay mùa màng thế nào ạ?
- Xấu hơn năm ngoái. Đến đói to mất. Năm nào cũng mất mùa.
- Chị cấy bao nhiêu ạ?
Người đàn bà lắc đầu:
- Chả có ruộng nương đâu mà cấy, chị ạ.
Rồi nói:
- Vợ chồng mới, ở thế này, vui nhỉ!
Cô Lễ thẹn, chỉ cười, không đáp.
Người khách đứng dậy:
- Tôi vô phép chị nhé. Tôi đợi ở ngoài cửa, lúc nào anh Thừa về thì tôi vào.
Cô Lễ níu cánh tay người ấy lại:
- Không. Đây là nhà chúng tôi. Mời chị cứ ngồi chờ. Tôi không bận gì cả.
Người đàn bà thở dài. Cô Lễ hỏi:
- Ban nãy tôi hỏi, chị chưa cho biết. Thưa chị là thế nào với nhà tôi ạ.
Người ấy cười:
- Xin nói thật thế này. Tôi với chị, chả có điều tiếng gì với nhau, cho nên tôi sợ nói ra thì chị tưởng tôi xấu bụng, chị lại buồn.
Cô Lễ nhã nhặn:
- Có điều gì, xin chị cứ bảo. Để gọi nhau cho đúng. Việc gì mà buồn ạ?
Người khách ngồi nghiêm lại, nói:
- Chị ạ, tôi là vợ cả của anh Thừa. Thằng Mão, con anh ấy đấy. Chị xem nó có giống bố nó không?
Cô Lễ trợn tròn đôi mắt, lạnh toát như người bị cảm suýt ngã.
Mẹ Mão vội vàng đứng dậy, đỡ cô ngồi xuống giường:
- Phải. Tôi biết là chị nghe thì buồn mà! Nhưng vì chị cứ gặng hỏi, nên tôi phải nói. Vả tôi thấy chị cũng như tôi, đều bị nó lừa, cho nên không nỡ giấu chị.
Cô Lễ chăm chắm nhìn mẹ Mão. Mẹ Mão vẫn dịu dàng:
- Chị ạ, tôi xem chị không phải như hạng con cô đốc, thì chị có biết bố thằng này thế nào không, mà lại lấy nó?
Cô Lễ run run:
- Cô đốc nào? Cô đốc ở Phòng thuốc nhà giàu ấy à?
- Phải, con Tây lai đĩ rạc đĩ rày chứ đốc đếch gì nó!
- Thế sao, hở chị?
- Nó bỏ tôi, lấy con cô đốc, đã có đứa con trai. Bây giờ chắc lại bỏ con cô đốc, mới lấy đến chị.
Cô Lễ hu hu khóc.
Mẹ Mão chép miệng, lắc đầu, an ủi:
- Thôi, chị ạ. Chẳng qua cái số tôi với số chị nó sa vào vũng bùn, cho nên khổ.
Cô Lễ lau nước mắt:
- Tôi không ngờ!
- Phải, ở đời nào ai học đến chữ ngờ. Ấy là tôi chỉ nói những người vợ nó có cưới xin hẳn hoi. Còn những người tằng tịu tạm bợ, rồi đẻ hoang với nó, thì vô khối ra đấy. Tôi chả biết đám cưới chị có linh đình không, chứ mà mắt tôi trông thấy đám cưới nó lấy con đĩ Tây lai có mang sẵn với ai ấy, mà nào quả phù trang, nào lọng xanh, đi mười xe song mã, mà chả biết nó thuê đâu được những người rước dâu, toàn áo gấm với áo nhung. Rồi tế tơ hồng, lễ hợp cẩn, rồi tiệc tùng, hát xướng linh đình suốt đêm trong cái nhà thuê ở phố Hàng Tiện.
Cô Lễ rên ra tiếng:
- Ôi trời ơơơi! Nhục nhã thân tôi!
Mẹ Mão khuyên giải:
- Nó đi lừa thì nó nhục, chứ việc gì mình nhục. Chị có biết tại sao nó làm thuốc không?
Cô Lễ thổn thức:
- Tôi nghe nói anh ấy du học ở bên Tàu.
Mẹ Mão cười:
- Thế chị có biết nó làm những nghề gì không?
- Tôi nào có biết!
Mẹ Mão nhìn cô Lễ bằng đôi mắt ái ngại:
- Nguyên do thế này, chị ạ. Ngày thuở bé, nó học ở trường làng. Đâu vì cái tính ăn cắp thế nào ấy, thầy giáo mới đuổi. Ngày ấy, tôi chưa về làm dâu ông bà Bếp, nên không biết đích.
Cô Lễ hỏi:
- Ông bà Bếp nào?
- Là ông bà đẻ ra thằng Thừa chứ ông bà nào!
Cô Lễ ối lên một tiếng, rồi hỏi:
- Sao bảo…
- Sao bảo gì? Ông ấy đi lính khố đỏ được đóng lon bếp. Cho nên năm bên Tây đánh nhau, ông ấy thấy nó học không hay, cày không biết, cứ lêu lổng, mới bắt nó đăng lính mộ chào mào. Ông Bếp hỏi tôi cho nó, tôi có bằng lòng đâu, nhưng ông bà tôi cứ ép, thành thử tôi phải lấy nó, để tôi khổ suốt đời.
Cô Lễ thở dài. Mẹ Mão tiếp:
- Sau ông bà tôi mới biết hối hận. Tôi chắc rằng hai cụ bên nhà cũng cả nghe mối lái thế nào, mới gả chị cho nó. Chứ tôi tính, dù con ế chồng, chết già thì chết, chứ không ai hoài người mà gả cho cái quân bịp bợm, bạc tình ấy.
Cô Lễ như bị một nhát búa, lại rú lên:
- Trơơời!
- Thôi, than vãn làm gì? Bố mẹ trót lầm, thì mình nên chịu, chứ oán ai?
Cô Lễ vật vã chân tay:
- Nhục nhã thân tôi!
- Thôi, chị ạ. Chẳng qua là Trời định cái số mình phải thế, thì mình tránh cũng chẳng được, chị để tôi nói nốt. Nó không đăng lính mộ, mới định đi kéo xe cho con dì nó, là con vợ Tây, tên là cái Ĩnh con. Nhưng bố nó không cho. Nó lễ lạt con vợ Tây, nên được làm phu kíp ở ga Đồng Đăng.
Cô Lễ choáng người:
- Phu kíp?
- Phải, phu kíp. Ở Đồng Đăng, thỉnh thoảng được hôm ông sếp ga đi bắn, nó phát vé thay, thôi thì ăn cắp ăn nảy của hành khách từng xu một, bị người ta kêu ca, chửi bới, rác cả tai.
Cô Lễ thở mạnh:
- Nhục ơi là nhục!
- Có tiền, nó vào sòng bạc, nó uống rượu, rồi về hành hạ vợ con. Nó bắt nhân tình nhân ngãi lung tung, Tôi ngăn không được, còn bị nó đánh sưng cả mặt mũi. Một lần nó dọa tôi, bóp cả cổ con bé dại nhà tôi suýt chết. Nó tàn nhẫn đến thế là cùng!
Ngừng một lát, mẹ Mão tiếp:
- Một hôm, ông sếp ga đi bắn vào rừng, cứu được ông quan Tàu khỏi bị thổ phỉ bắt. Ông này về nước được ít lâu, thì ông sếp ốm. Ông sếp phải xuống Hà Nội để chữa, nhưng vì bệnh nặng, nên ông ấy chết. Thế là bố thằng này được tạm quyền sếp. Thôi, từ đó nó lại làm tướng ở ga Đồng Đăng. Lại ăn cắp. Lại đánh bạc. Lại chim gái. Lại uống rượu. Lại đánh vợ. Cứ năm ngày ba trận, tôi thâm tím cả mặt mũi, mình mẩy không mấy lúc không lằn những vết roi, gậy. Tôi tính đời tôi chưa đận nào khổ hơn đận ấy.
Cô Lễ xoa đầu thằng Mão.
- Cái ông quan Tàu về nước, thì đền ơn ông sếp. Ông ta gửi biếu ông sếp cái bằng làm thuốc. Nhưng vì không biết tên ông sếp là gì, nên để trống chỗ tên, cho ông sếp điền vào. Nhưng vì ngày ấy ông sếp ốm, về Hà Nội, nên bố thằng này nhận hộ. Rồi khi nghe tin ông sếp chết, nó mới điền tên nó vào cái bằng làm thuốc ấy, để nhận chằng là của mình.
Cô Lễ quật mạnh tay xuống chiếu.
- Ông sếp ga mới đổi lên thay ông sếp cũ, thì bố thằng này không được hoành hành, nên hục hặc với ông ta. Ông ta tức mình mới tư đuổi. Nó sợ quá, bảo tôi về nói lót với con vợ Tây, xin cho nó đổi về Hà Nội. Nó được về Hà Nội. Chị có biết nó làm gì không?
Cô Lễ lắc đầu, vẻ chán ngán.
- Làm cu-li kéo quạt, chị ạ.
Cô Lễ như bị tắc thở, kêu lên một tiếng ặc trong cổ họng.
Mẹ Mão đưa cô chén nước, rồi tiếp:
- Từ ngày này, tôi về nhà quê để ở cữ cháu Mão, thì không biết nó làm thế nào mà dan díu với con Tây lai, là vợ thằng chủ, tức là con cô đốc đấy. Ở ga Hà Nội nó làm cu-li kéo quạt cũng không nổi, nên bị đuổi. Từ đó, nó toàn sống bằng nghề đi lừa. Sẵn có bằng làm thuốc, nó mở hiệu thuốc. Nó dắt ở nhà quê ra một lão chú họ, thi trượt khóa sinh, làm cụ Điều. Nó kiếm ít bài thuốc đăng ở báo, mới lòe người ta là của nó, rồi cứ thế chữa cho bệnh nhân. Cho nên nó có dám kể bệnh, kể thuốc với người ốm bao giờ đâu. Chỉ những người dại dột, ngu ngốc, mới tin là chú cháu nó biết thuốc.
Cô Lễ thở dài thật mạnh.
- À, nó lại làm thuốc cao đơn hoàn tán để bịp khắp nước nữa. Nó mua thuốc của hiệu khác, rồi dán nhãn của hiệu nó thay vào. Nó quỵt không biết bao nhiêu là tiền của những hiệu thuốc trong Nam Kỳ tin nó, nhờ nó làm đại lý. Kể tội ăn cắp của nó trong những năm làm thuốc, thì đến chiều chưa hết, chị ạ.
Mẹ Mão uống hụm nước, rồi kể tiếp:
- Không hiểu vì sao con Tây lai cũng có bằng y tá. Bố thằng này mới gọi tôn lên làm cô đốc, để hai đứa cùng lừa bịp thiên hạ. Con Tây lai là con một thằng cố đạo Tây. Lớn lên, nó lấy hết thằng này đến thằng khác, rồi đi làm giăng há kiếm tiền. Hai đứa mê nhau, con Tây lai có mang với nó, mới bắt nó cưới thật linh đình, như cưới một cô con gái tân, con nhà tử tế.
Cô Lễ suýt đánh rơi cái chén xuống gác.
- Từ đó, nó đuổi mẹ con tôi đi. Con vợ Tây là dì nó dắt tôi đi khâu đầm. Những người tử tế không thể làm cái nghề ấy được. Giá tôi không gặp một anh người làng bảo tôi, thì tôi mắc mưu con đĩ già rồi. Tôi bỏ nghề khâu đầm, bơ vơ ở Hà Nội mất mấy tháng. Nhiều lần tôi đến phòng thuốc của nó ở Bờ Hồ, đều bị nó tránh mặt. Tức quá, tôi mới nói chuyện với chị em, thì có ba người giỏi võ, đến đánh cho nó với con cô đốc một trận. Tôi nói toáng lên cho bệnh nhân biết ông y sĩ với cô đốc là người thế nào. Do cái tích ấy mà nó phải đóng cửa phòng thuốc đấy. Chẳng biết hai cái răng gãy nó đã chữa chưa, hay vẫn để hổng nguyên.
Cô Lễ thở dài.
- Trời quả báo, một hôm, nó còn bị con nhân tình cũ ở Đồng Đăng, tên là Múi, cho một trận ngay giữa phố Hàng Đậu, phải vực đi nhà thương.
Cô Lễ giật mình, hỏi:
- Hàng Đậu à?
- Vâng. Hàng Đậu. Tôi không hiểu thế nào, chữ nhất là một không biết, mà nó làm chủ báo. Chắc là làm báo cũng để lừa chài, làm hại con gái nhà người ta. Chứ báo bổ gì đồ ấy. Thằng này còn sống ngày nào, còn ăn gian nói dối ngày ấy. Nó lấy vợ đẹp, thì lừa vợ đi ngủ với trai để làm tiền. Nó lấy vợ giàu thì đào mỏ. Đến ngày vợ hết nhan sắc, hết tiền, thì nó bỏ, nó tìm người khác, để lại đày đọa người ta.
Mặt cô Lễ tái lại.
Uống hết chén nước, mẹ Mão lại nói:
- Tôi biết rằng tôi nói từ nãy đến giờ thì chị buồn. Nhưng tôi có muốn thế đâu. Chị với tôi vốn không có điều tiếng gì với nhau, cho nên tôi không ghen với chị. Mà chắc chị cũng biết rằng không phải tôi kể như thế, để chị bỏ nó, cho tôi lại về với nó. Không. Không bao giờ tôi chịu làm vợ cái quân gian ác, tàn nhẫn, bạc tình đâu, chị ạ.
Cô Lễ lại như bị nghe những câu chửi rủa. Cô loạng choạng đứng dậy. Nhưng mẹ Mão đỡ lấy cô:
- Chị muốn gì, chị bảo tôi, tôi xin giúp.
- Không. Cảm ơn chị.
Mẹ Mão dắt tay con:
- Thôi, tôi chào chị ở lại.
Cô Lễ rưng rưng nước mắt:
- Chị ở lại để gặp bố thằng Mão chứ?
Mẹ Mão lắc đầu:
- Không cần. Tôi gặp chị, được nói hết là hả rồi.
Cô Lễ cúi xuống, bế thằng bé con, nhìn nó, rồi nước mắt giàn giụa.
Cô móc túi, lấy hai tờ giấy năm đồng, giúi vào tay nó. Nhưng mẹ Mão nói:
- Chị đừng cho nó. Nó không biết tiêu tiền. Mà tôi thì không nhận đâu. Mấy năm nay tôi có phải ngửa tay xin thằng khốn ấy đồng nào, còn phải nộp công sưu cho nó, mà mẹ con vẫn đủ cơm cháo hai bữa.
Cô Lễ nghẹn ngào:
- Tiền này là tiền riêng của tôi, tôi cho cháu.
- Ừ, tiền của chị thì sạch sẽ, không bẩn thỉu.
Mẹ Mão bảo con:
- Mão cầm lấy, xin cô đi.
Cô Lễ đặt thằng Mão xuống. Mẹ Mão dắt con:
- Thôi, chào chị, tôi về.
Cô Lễ đáp:
- Chào chị.
Cô nhìn theo hút mẹ Mão. Rồi bỗng cô run bắn người như lên cơn sốt rét. Cô lần bước đi vào buồng, thét lên một tiếng, rồi nằm vật trên giường.
* * *
Cô Lễ hốt hoảng ngồi dậy. Cô bàng hoàng. Bâng khuâng. Không. Cô nhớ lại rồi. Không phải chiêm bao đâu. Mẹ Mão ngồi đây. Chị ta nói chuyện với cô. Đó là sự thật.
Cô nhìn đồng hồ. Ba giờ chiều rồi. Thế mà cô chưa ăn cơm sáng. Nhưng bụng đầy, cổ nghẹn, cô có thấy đói đâu.
Ừ, ba giờ chiều thật. Vậy mà chồng cô đi đâu từ sáng chưa về?
Cô đứng trước gương một lúc, nghĩ mãi không nhớ là định làm gì. Cô nhìn mặt cô vậy. Thấy đầu tóc rối xù, cô mới nhớ rằng cô định vấn khăn. Cô rót nước vào chén. Chén đầu ộc lúc nào, cô không biết, nước tràn cả ra đĩa. Nhưng cô lại quên, không uống. Cô lững thững xuống nhà, ra đứng ở hè. Lúc ấy cô mới sực nghĩ ra là cô chưa khóa cửa buồng. Cô nắn túi. Tờ văn tự vẫn còn ở đó. Cô lấy ra, nhìn lại xem có đúng không. Rồi không biết chân cô bước lúc nào. Cô thẫn thờ đi. Cô cúi mặt, không dám nhìn ai. Lúc ngẩng lên, cô mới biết là cô đã tới cuối phố, gần Hàng Thiếc. Cô nghĩ mãi tại sao cô đi đường này, lại không ra Hàng Đào, để về nhà?
Cô thẳng đến trường học Cửa Đông. Đoàn xe lửa xuống gần hết dốc, xình xịch trên cao, hét một tiếng. Cô giật mình.
Những bánh xe đương rít lên kia, đã nghiến nát bao nhiêu người nằm trên đường sắt rồi? Chết trên xe lửa thì gọn quá. Quéc một tiếng là xong, không đau đớn gì. Cô lại nhìn cây gạo mọc trên bãi cỏ. Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề. Chỗ này vẫn đồn là có lắm ma, tối đến, hiện lên, giương đôi mắt xanh lè, thè cái lưỡi dài như quả núc nác, để dọa người qua lại. Đó là những oan hồn của người thắt cổ phải không? Ừ, cây gạo này thấp, cành nó là là. Người tự tử đứng trên ghế, với tay buộc dây thừng vào cành cây, rồi thò cổ vào thòng lọng, đạp cái ghế cho đổ đi, thế là lơ lửng treo dưới thừng. Năm phút sau, người ấy tắc thở, chân tay mềm, duỗi thẳng. Nhưng bây giờ người ta hay tự tử ở hồ Hoàn Kiếm. Lội xuống nước, bước độ ba bước, thì hụt xuống chỗ sâu ngập đầu. Ằng ặc tắc thở. Vùng vẫy, uống nước. Thế là chìm. Lại còn có người uống thuốc phiện, hòa với dấm thanh. Bao nhiêu thuốc phiện, bao nhiêu dấm thanh thì đủ nhỉ? Hòa với dấm tây có chết được không? Nghe nói Tây hay tự tử bằng thuốc ngủ, và đầm lại tự tử bằng hoa. Ừ, thì uống nhiều thuốc ngủ, ngủ lịm lâu thì phải chết. Nhưng hoa thì thơm, giết thế nào được người? Song, chắc là có công hiệu, cho nên người ta mới tự tử bằng hoa chứ? Người chết rồi, thì không biết gì nữa, không lo lắng, không buồn phiền, không giận dữ, không xấu hổ, không nhục nhã. Người sống muốn nói gì thì nói. Người chết chỉ nằm yên. Và dù chết vì tội bất hiếu, chết vì tội bất chính, chết vì chán đời phụ bạc, thì đám ma vẫn có người khóc lóc, người phàn nàn, người thương xót, người hối hận.
Cô Lễ đã đến phố Hàng Bông. Đi đâu bây giờ? Về nhà mà nhìn thấy cha mẹ, thấy hai em, thì muốn tự tử thật. Tại sao cô không tin lời thành thực của người em ruột thịt, lại tin lời tán tỉnh đường mật của con người lọc lừa? Tại sao cô không vâng lời cha mẹ, lấy cậu Nhân là chỗ hẳn hoi. Tại sao cô không cứ ở với ông bà Nhì, xa Hà Nội, để dứt hẳn dây liên lạc với người quỷ quyệt. Và tại sao cô nhẹ dạ, trốn nhà đi theo trai, theo một thằng phu kíp, một thằng cu-li kéo quạt, một thằng ăn cắp, một thằng bợm, một thằng rượu chè, cờ bạc, trai gái, đã bỏ mấy đời vợ, đã bỏ mấy đứa con, thằng ấy chỉ là con một anh lính tập, vì giết quân ông Đề Thám mà được Tây cho đóng bếp! Cô nghĩ tới lời của mẹ Mão nói con Tây lai đĩ rạc đĩ rầy, bụng phưỡn cái thai của ai ấy mà đi lấy chồng, thì được cưới bằng lọng xanh, bằng quả phù trang, bằng xe song mã, bằng nhung, bằng gấm, bằng tiệc tùng hát xướng, đến nhà mới thuê cũng tế tơ hồng, cũng lễ hợp cẩn như một cô gái tơ. Thế mà cô, một cô con gái Hàng Đào đức hạnh, trong trắng, giàu có, con nhà lễ giáo, thì đi lấy chồng như đi ăn trộm! Tối hôm ấy, cô đến đầu chợ Đồng Xuân, thì hắn chờ sẵn ở đấy. Trống ngực cô thình thình, cô nhìn trước nhìn sau, nhảy tót lên chiếc xe thuê sẵn. Trời tạnh ráo, nhưng xe che kín mít bằng áo tơi cánh gà, như chở người ốm vào nhà thương. Cô ngồi ở trong, không dám dòm ra xem xe đi những đường nào. Một lát, xe đỗ xuống. Cô ra ngoài, nhìn xung quanh, không biết là ở đâu. Trời tối như mực, đèn lửa lại chẳng có. Cô theo hắn đi vào trong xóm. Đường gồ ghề, mấy lần cô suýt ngã, phải đưa tay cho hắn dắt, như vợ chồng anh xẩm. Rồi cô chui vào một cái buồng hẹp trong một căn nhà tranh thấp. Mùi mốc. Mùi hôi. Mãi mới mượn được cái đèn con. Cô mới nhìn thấy chỗ nằm là cái giường tre, trên trải chiếc chiếu cũ rách giữa. Đám cưới của cô thế đấy. Thế là cô hết đời trinh bạch. Vậy mà lúc ấy, cô không tưởng tượng đến cha mẹ, đến hai em ở nhà đương thế nào, sáng mai hàng phố bàn tán ra sao. Cô chỉ cần có mỗi một mình hắn ở cạnh, một mình hắn là đầy đủ, là hạnh phúc, là tương lai.
Cô dừng sững chân lại để nhịn khóc. Cô nhìn chuyến xe điện đi qua, để xua đuổi những hình ảnh đương vẩn vơ trong đầu óc.
Cô đi đâu bây giờ? Đi đâu cũng được. Nhưng đi đâu mà trốn được xấu, được nhục? Đi đâu mà tránh được nghĩ ngợi, buồn phiền, giận thân, giận kẻ gian ác? Đi thế này, lỡ họ hàng, bạn bè trông thấy mà hỏi thì nói thế nào? Nhà cậu Nhân ở phố nào nhỉ? Mặt mũi cậu ta thế nào? Có phải là cái chàng đi xe đạp kia không? Hai hè phố, người ta đi đâu mà tấp nập thế? Họ không có điều gì nghĩ ngợi, buồn phiền, giận thân, giận kẻ gian ác à? Sao cô kia lại cười nói vui vẻ thế? Cô không có tội bất hiếu với cha mẹ à? Cô không đi theo trai à? Cô không bị ai lừa à? Chồng cô không là phu kíp, không là cu li kéo quạt, không rượu chè, cờ bạc, trai gái, không bỏ nhiều vợ và bỏ nhiều con chứ? Còn cô kia, cô vẫn giữ được tấm lòng trinh bạch, hay đã có chàng trai nào nó ném thư cho cô, nó quyến rũ cô bằng lời đường mật để cô mê nó, cô tính đường theo nó? Còn cô kia nữa. Tại sao cô cười? Cô đã có chồng chưa? Cô lấy chồng, cưới xin đàng hoàng hay cô đã lẻn đi theo trai? Cô cười ai? Cô cười gì? Cô hớn hở vì lấy được tấm chồng xứng đáng, hay cô mỉa mai cái người tội lỗi, nhơ nhuốc nào?
Đến chợ Cửa Nam, cô thấy hàng họ đã vãn, và đường bị chắn. Một chuyến xe lửa đi qua. Sao mà đông thế? Họ đi đâu? Họ về với vợ, với chồng, về với cha mẹ, hay trốn vợ, trốn chồng, trốn cha mẹ? Trốn đi đâu? Lên Lao Cai, lên Lạng Sơn rồi sang Tàu, hay xuống Hải Phòng, rồi vào Sài Gòn? Dù đi đâu, cũng phải đem theo cái đầu có bộ óc biết nghĩ, biết nhớ, để mà buồn, để mà giận. Nhưng họ buồn, họ giận, còn tìm được người thân mà than thở cho vợi nỗi lòng. Còn cô thì than thở với ai? Cô định ngậm bồ hòn làm ngọt chứ mình làm mình chịu, chứ kêu mà ai thương? Vả vạch áo cho người xem lưng, thì xấu chàng nào có ai khen chi mình? Tội ở cô, cô đành đau đớn một mình, còn đày đọa thêm cho cha mẹ và hai em đau đớn lây nữa hay sao? Thật là khổ tâm. Thật là đau xót! Chỉ có nằm trên đường sắt, chỉ có treo dưới dây thừng, chỉ có dìm đầu xuống nước, chỉ có uống thuốc độc vào ruột mới không biết gì nữa.
Cô thở dài, quay trở lại. Cô về Hàng Đào.
Cô về nhà.
Cụ bà trông thấy cô thì tươi tỉnh, khoe ngay:
- Cậu ấy ở đây, vừa mới đi khỏi.
Cô khẽ đáp:
- Vâng.
- Thế cô đi đâu từ chiều mà cậu ấy phải tìm thế?
Cô nén thở dài:
- Con đi có việc.
Rồi cô hỏi:
- Thầy con không có nhà ạ?
Cụ cười:
- Ấy, hai bố con ăn cơm xong, rồi đưa nhau lên Hàng Vải thâm đấy.
Cô giật mình:
- Làm gì ạ?
- Xem cái nhà của cô chứ làm gì?
Cô nhăn mặt:
- Xem làm gì vội!
- Để sửa chữa mà dọn đến ở chứ làm gì!
Cô tặc lưỡi:
- Ở gì!
Cụ cau mặt:
- Con bé mới hay chứ! Chưa được nhà thì nằng nặc đòi cho kỳ được. Bây giờ được rồi thì ở gì, ở gì! Ai biết thế nào mà chiều được!
- Nhưng trước khác, bây giờ khác.
- Khác khác thế nào! Đừng trẻ con!
Cô không nói nữa. Cụ giục:
- Thôi, liệu mà về, kẻo cậu ấy tìm. Bận sau có đi đâu, thì cũng phải nói một tiếng cho người ta biết.
- Nhưng có nhà đâu mà nói.
- Thấy cậu ấy bảo cô đi chơi với một người nào dắt đứa bé con phải không? Ai thế?
- Người quen.
- Ừ, thế chứ lị. Cậu ấy cứ tưởng là họ hàng, mới đoán thế nào hai người cũng đưa nhau về nhà.
- Nhà con chờ có lâu không ạ?
- Đến đây lúc gần bốn giờ. Vừa mới đi. Còn nói chuyện với thầy mãi, mới ăn cơm. Đẻ bảo rể hay con cũng thế, không khách khứa gì, đến chơi chạm bữa thì ăn. Được cái cậu ấy cũng dễ tính, không như người ta.
Cô Lễ thở dài. Cụ thấy con có vẻ buồn, thì cười:
- Đúng là cô phải chờ cơm cậu ấy, chưa thấy về, thì đến đây để tìm à?
Cô đáp cho xong:
- Vâng.
- Thế ăn cơm chưa?
Cô nghe trong bụng, rồi đáp:
- Con ăn rồi.
- Ừ, tưởng chưa ăn thì chờ chốc nữa em đi học về, ăn với nó.
Rồi cụ dịu dàng bảo:
- Này, đẻ mới mua được mấy gắp chả Cầu Dần, ngon đáo để. Ăn vã vậy nhé.
Cô lắc đầu:
- Con chả ăn.
Cụ cười:
- Bảo thật cô nhé. Có ăn ở đây thì ăn, chứ xin mang về là đẻ không cho đâu. Gì cũng để phần cho chồng!
Rồi không cười nữa, cụ bảo:
- Nói đùa, chứ cậu ấy ăn ở đây rồi. Mà hôm nay đã dám uống tí rượu. Chắc là nể thầy lắm đấy.
Cô thở dài, khừ một cái, rồi nói giọng mát mẻ:
- Vâng, nhà con không biết uống rượu!
Cụ không hiểu là cô đay người chồng giả dối của cô, nên cụ khen:
- Ừ, cậu ấy cũng hiền lành, thật thà. Thế là mừng.
Cô ngồi thừ, không đáp. Cụ cau mặt:
- Quái, hôm nay cô này thế nào ấy.
Rồi cụ đùa:
- Hay là nhớ chồng? Này, đã lớn rồi, đừng có như sơn như nhựa mà người ta cười cho đấy. Vắng nhau một lúc, mà chồng đi tìm vợ, vợ đi tìm chồng!
Cô thở dài:
- Không phải thế đâu ạ.
Cụ yên lặng, rồi hỏi khẽ:
- Hay là nghén? Có thấy trong người khác cái gì không?
Cô không đáp, nhưng hỏi:
- Nhà con nói chuyện gì với thầy ạ?
- Đẻ cũng chẳng nghe. Chắc lại chuyện văn bài nghĩa lý chứ gì.
Cụ nghĩ một lát, rồi:
- À, có một lúc, đẻ nghe thấy cậu ấy phàn nàn là từ ngày làm báo, có lắm kẻ độc tâm, nó ghen ghét, nó đặt điều để nói xấu cậu ấy.
Cô Lễ xám mặt:
- Hừ! Đặt điều! Nói xấu! Tốt thì ai nói xấu. Có thực thì ai đặt điều!
Cụ cau đôi lông mi:
- À, cô này! Hay vợ chồng đã có điều gì giận dữ nhau đấy? Cổ nhân bảo chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì. Gia pháp nhà này không có dạy con gái hỗn với chồng đâu nhé!
Cô nói:
- Không ạ, chúng con có điều gì với nhau đâu ạ.
- Thế chứ lị! Thôi, về đi, kẻo tối.
Bỗng cậu Nghĩa mở cửa vào. Cô Lễ được cớ để ở lại với em.
Cô chờ cho cậu cất sách và rửa mặt xong đâu đấy, rồi bấm cậu lên gác.
Hai chị em rón rén lên thang. Vừa đến mặt sàn, bỗng cô Lễ nắm chặt cánh tay em, òa lên khóc:
- Chị khổ lắm, em ơi!
Rồi cô nhét chặt vạt áo vào miệng để nức nở, cho cụ Tú khỏi nghe tiếng.
Mợ Nghĩa chạy đến gần. Hai vợ chồng đỡ chị ngồi xuống ghế. Cậu hỏi khẽ:
- Việc gì thế, hở chị?
Cô thút thít:
- Chị chán đời lắm, em ạ.
Cậu thương chị. Mặt nhăn nhó.
- Thôi, em xuống nhà mà ăn cơm. Chị khóc được một tiếng là hả rồi. Để chị yên, nằm nghỉ một lát.
Bỗng có tiếng cụ bà gọi mợ Nghĩa. Cô Lễ dặn:
- Đẻ có hỏi chị, em nói là chị đau bụng nhé.
Mợ Nghĩa xuống gác. Cô Lễ nói:
- Chị không muốn về đằng ấy hôm nay.
Cậu Nghĩa hiểu chị, nhưng đủng đỉnh đáp:
- Lấy chồng thì phải về với chồng. Dù là ngủ lại nhà mình cũng không được.
Mợ Nghĩa lên nói:
- Đẻ bảo em xuống coi nhà cho đẻ đi một tí. Đẻ dặn chị xem đau thế nào, có phải gọi anh đến xem mạch và cho thuốc không.
Cô Lễ bực mình:
- Chị không cần gì cả!
Rồi cô đay:
- Xem mạch! Cho thuốc!
Một lát, cô nói:
- Chị chỉ cần hai em điều này. Là chốc nữa, thầy hay đẻ có hỏi chị, các em nói rằng chị về đã lâu rồi.
Cậu Nghĩa hỏi:
- Chị không về à? Thầy đẻ biết các em nói dối, thì mắng các em chết.
Mợ Nghĩa xuống nhà. Cô Lễ nói:
- Mặc kệ các em.
Cô Lễ nằm một mình. Cô muốn ngủ một giấc cho say sưa như ban nãy. Nhưng không sao ngủ được. Lúc nào cũng như văng vẳng bên tai cô tiếng của mẹ Mão. Có thật chồng cô xấu thế, hay chị ta thù ghét mà bịa thêm? Nhiều câu chị ta vô ý, vô tình mà nói, nhưng chẳng khác gì những nhát búa bổ vào đầu cô, những ngọn dùi đâm vào tim cô. “Bố mẹ trót làm thì mình nên chịu”, “cả nghe mối lái mới gả cho nó”, “chết già thì chết, ai hoài con gả cho quân bịp bợm, bạc tình”. Khổ quá! Tội ở cô cả, mà người ngoài lại đổ cho hai cụ! Đau xót làm sao!
Rồi luôn luôn hình ảnh chồng cô hiện ra trong óc cô. Nhưng không phải cái người mặc quần áo Tây cổ đứng màu xám, đội mũ lưỡi trai, đeo đôi kính trắng không vành, ngồi bắt mạch; cũng không phải cái người đội khăn nhiễu tây, mặc áo đoạn trơn, ngồi ở bàn giấy tòa báo; mà là một anh Thừa đi đất, mặc bộ quần áo xanh cũ, tay cầm lá cờ, tay giữ đầu ghi; một anh Thừa tựa lưng vào tường, hai tay ôm đầu cái dây quạt để kéo xuống, buông lên, như người lạy; một anh Thừa mặc áo thụng xanh ra ngoài áo gấm, đứng trước bàn thờ lễ tơ hồng với cô đốc mặt trát bự những phấn.
Xấu chàng hổ ai!
Cô thở dài. Không biết một người đốn mạt, tàn nhẫn có thể sửa đổi thành lương thiện được không? Có ăn lời khuyên bảo, can ngăn của vợ không? Ước gì cô có phép tiên, cảm hóa được chồng!
Từ ngày ăn ở với nhau, chồng cô đối xử với cô ra sao? Có lẽ sẵn lòng tin, và mù quáng về tình yêu, cô không nhìn rõ được. Chỉ từ hôm hai cụ nguôi giận, cho vợ chồng cô đi lại như thường, thì anh hay vắng nhà, nói rằng làm việc báo. Có phải thật, hay anh đi chơi bời rượu chè, cờ bạc, trai gái, thuốc xái ở đâu? Có phải anh hay lại nhà vợ, là vì yêu vợ nên quý mến bố mẹ vợ, hay để nịnh hót, lấy lòng tin của hai cụ, hòng mưu mô điều gì? Bạn bè của anh, có những người văng tục, văng rác như đồ xỏ lá ba que, nhưng sao cũng có ông ấm Cận, ông Cử Huyền? Và có cả mấy ông huyện, ông phủ? Thật là khó hiểu. Tính nết thì thất thường. Thật không ra thật, dối không ra dối, khôn không ra khôn, đần không ra đần. Không hiểu chồng cô thế nào mà lại viết báo, và lại là chủ bút? Rồi cô lại nghĩ. Có thật người đàn bà ấy là vợ của anh Thừa, hay là vì anh làm báo, quen nói thẳng thắn, quá lời mà bị người ta ghét, thuê người đến đặt điều với cô để bôi nhọ anh?
Bỗng sàn gác kêu đánh kẹt. Có tiếng chân người đến gần. Cậu Nghĩa gọi:
- Chị! Chị ơi!
Cô không trả lời:
- Chị ngủ rồi à?
Cô cũng không trả lời.
Cậu Nghĩa rón rén ra xa, rồi xuống thang.
Cô vờ ngủ để cậu Nghĩa khỏi hỏi chuyện. Ruột cô rối bời bời, chưa nghĩ ra nên làm thế nào. Nếu em mà hỏi, tất cô không thể giấu. Em cô biết, tất hai cụ cũng biết, sẽ đau lòng vì thương cô.
Hiện giờ, hai cụ đương tin và yêu chàng rể. Song, sự thực thì rõ ràng là vì hai cụ đương bị chàng rể bịp. Cô cứ để vậy thì hai cụ vẫn vui vẻ đấy, nhưng như thế là cô có biết hai cụ bị bịp mà cứ để yên. Như thế là cô về hùa với chồng để lừa cha mẹ. Gặp một người ngoài bị nạn, mình còn phải cứu chả vẻ thay, huống hồ người bị nạn lại là người đẻ ra mình! Đau đớn cho cô quá. Cô có nên tự tử không? Đành rằng tự tử thì cô được yên thân, song, như vậy lại đúng là cô đưa con dao cho dư luận để bồi vào đầu cha mẹ cô thêm một nhát quyết liệt cho chết hẳn. Không! Cô không thể bất hiếu đến hai lần. Vả lại, nghĩ đến tự tử, cô sợ lắm. Bỗng nhiên, mình giết mình đương sống, ai lại đang tay thế được? Rồi người tự tử hóa thành những oan hồn, những con ma, nó bắt người khác theo dớp của nó, để thay cho nó được lên làm người. Bỗng cô ghê rợn, rùng cả mình. Cô kéo chăn trùm hẳn lên đầu để suy tính. Thôi, đành vậy. Cô phải chôn sâu nỗi khổ tâm xuống tận đáy lòng, âm thầm mà một mình chịu tai họa. Thế thì đối với chồng, cô phải thế nào? Đã giấu cha mẹ, cô đành giấu cả chồng, không cho rõ là cô đã biết hết về anh để anh đối với cô cho tự nhiên, để anh đối với hai cụ cho tự nhiên. Như vậy thì giữ được hòa khí. Chồng cô đối với cô tự nhiên thì gia đình được thuận, cô sẽ dò dần thói hư tật xấu của chồng để lựa lời mà khuyên can. Nhưng cô nghĩ lại. Cô có nỡ lòng trông thấy cha mẹ bị chồng cô đưa xuống hố mà cứ để vậy hay không? Và cô có thể suốt đời là cái mộc chống đỡ, che đậy cho người ngoài khỏi nhìn thấy bộ mặt thực của chồng, để trong ấm ngoài êm không?
Cô thở dài. Cô thấy má lành lạnh. Cô sờ tay vào gối xem cái gì. Thì ra không biết cô khóc từ bao giờ, khóc nhiều hay ít mà gối sũng những nước.
* * *
Sáng hôm sau, lúc cô Lễ dậy thì cậu Nghĩa cũng vừa dậy. Cô đưa cái văn tự nhà:
- Em giữ hộ chị.
Cậu Nghĩa ngơ ngác, hỏi:
- Sao thế, hở chị?
- Em cứ giữ cẩn thận cho chị. Bao giờ chị cần lấy, chị sẽ bảo.
- Nhà của chị thì chị giữ văn tự chứ?
Cô tặc lưỡi:
- Nhà cửa gì! Để xem đã.
Nói đoạn, cô để tờ giấy trên mặt bàn, rồi xuống nhà. Cụ bà nhìn thấy cô thì ngạc nhiên. Cụ gắt mợ Nghĩa:
- Sao con nói dối đẻ là chị con về rồi?
Cô Lễ vội vàng nói:
- Thưa đẻ, đó là tội của con. Con đau bụng quá, về thì sợ sương gió, mà ở thì sợ đẻ giục về. Cho nên con phải xui em con nói thế.
Cụ nguôi giận:
- Thôi, thế thì quàng quàng lên mà về, kẻo cậu ấy không bằng lòng. Xuất giá thì phải tòng phu, con ạ.
Cụ bảo con dâu:
- Con cùng đi với chị. Nói với anh rằng tại đêm qua đẻ bị cảm, nên thầy bảo chị ở lại.
Cô Lễ thấy mẹ nhận lỗi hộ mình để che mắt một người đầy tội lỗi với mình, với mẹ và với cha, cô vừa cảm động vì mẹ, vừa bực dọc với chồng. Không thèm nói dối người hay nói dối, cô nhăn mặt:
- Con về một mình, không sao ạ.
- Ừ, vợ chồng mới, đương tin yêu, chiều chuộng nhau.
Nhưng có lẽ cụ ông cũng băn khoăn, cụ rời ghế trường kỷ, ra nhà ngoài, nói:
- Đây, đây! Thế này. Cô bảo cậu ấy là ở lại xem thầy lấy số tử vi cho cậu ấy đến khuya. Chắc là thế nào cũng thích, rồi vọt ngay đến đây cho mà xem.
Cô Lễ chào cha mẹ, rồi lững thững đi bộ về Hàng Bồ.
Cô đã quyết định. Nhất định cô giữ vẻ mặt như thường. Để xem chồng cô thế nào.
Nhưng lạ quá! Cô không gặp chồng, Đêm trước, anh Thừa không ngủ nhà.
Anh ta theo cụ Tú đến Hàng Vải thâm, rồi đi đâu? Thưa rằng: