Chị Thừa bế con ra Hà Nội với chồng. Chị hỏi thăm đến được Bờ Hồ. Nhìn cái nhà có gác sơn vàng, chị chắc là chồng chị ở đấy. Chị không biết chữ. Phải hỏi thăm. Đúng là Phòng thuốc nhà giàu.
Lúc ấy chưa phải giờ làm việc. Thấy mở cửa, chị toan vào. Nhưng ở trong lố nhố những người lạ. Chị đặt thằng Mão xuống hè, đứng đợi. Thỉnh thoảng chị quay liếc vào trong, nhìn từng người một. Toàn là đàn ông, đàn bà đứng tuổi. Hẳn là bệnh nhân. Thế thì chồng chị đâu?
Sợ hỏi mà không phải thì ngượng, chị đành chờ. Chị mua cho thằng Mão cái bánh giò, rồi ngồi xổm xuống, bóc lá, bón cho nó ăn.
Lúc ấy, Ma-ri ở bên nhà, thoăn thoắt đi sang Phòng thuốc nhà giàu. Thấy một người ăn mặc nhà quê ngồi ở hè, thì hắn nhìn. Người ấy gọi con:
- Mão! Mão!
Hắn biết ngay là vợ anh Thừa, vả, trước kia đứng trên gác, hắn vẫn trông thấy chị, nên nhớ mặt. Nhưng chị không biết hắn. Bà sếp phó ở trên, chị ở dưới. Bà không xuống sân. Chị chả gặp bà bao giờ.
Thoạt thấy chị Thừa, Ma-ri tái mặt. Tất cả những việc bàn bạc về đám cưới với anh Thừa mấy hôm nay, như sụp đổ trong đầu óc hắn.
Nhưng hắn giữ ngay được bình tĩnh. Đầu gật gật chào khách ngồi trong buồng đợi, tay hắn với cái nút bấm chuông điện ở cửa.
Anh Xi ra. Hắn bảo:
- Có con mẹ nào bế con đến bày bẩn cả hè. Anh đuổi nó đi, kẻo đội sếp đến, họ phạt rác đấy.
Anh Xi ra cửa, toan đuổi. Bỗng anh trông thấy chị Thừa:
- Kìa, chị!
Chị Thừa ngẩng mặt lên, mừng rỡ nói:
- Kìa, chào anh! Tôi cứ tưởng không phải nhà. Anh đưa tôi vào.
Anh Xi đứng im, ra ý nghĩ ngợi, rồi bảo:
- Chị bế cháu đi theo tôi.
Chị Thừa không hiểu, hỏi:
- Thế tôi ngỡ nhà đây?
Anh Xi đáp:
- Nhưng đi cửa khác chị ạ.
Chị Thừa vai đeo nải, tay bế con. Anh Xi ngắm thằng Mão mỉm cười:
- Giống bố nhỉ! Cái cằm! Chị đưa tôi đỡ cháu cho.
Anh dỗ thằng Mão:
- Ra chú. Chốc nữa chú cho kẹo.
Anh âu yếm vuốt ve thằng bé, rồi hỏi chị Thừa:
- Chị ra làm gì?
- Có tí việc anh ạ.
- Việc gì?
Chị Thừa không muốn nói thực, tặc lưỡi nhắc lại câu vừa nói:
- Có tí việc, anh ạ.
Anh Xi băn khoăn:
- Độ này anh ấy bận lắm, mà chị với cháu ra chơi, không biết anh ấy có bằng lòng không.
- Việc gì mà chẳng bằng lòng. Vợ con chứ người ngoài đâu!
Đi được mươi bước, chị hỏi:
- Anh ạ. Tôi hỏi câu này, anh đừng giấu nhé. Cứ đồn về làng là thầy thằng Mão có vợ bé. Có thật hay không, anh?
Anh Xi ái ngại, nhưng cười lạt:
- Chỉ đồn hão. Làm gì có việc ấy. Chả tin, chốc nữa chị hỏi ông hai mà xem.
- Thế mà ở làng cứ ầm lên. Cuối tháng tám, bà Ĩnh con về tìm người kéo xe thay anh, bà ấy mách ông bà tôi là thấy nó có vợ bé. Bà tôi cứ giục tôi ra ngay. Tôi biết là cái lối dì ghẻ con chồng, bà tôi chả ưa gì nhà tôi, lại muốn đuổi không cho tôi ở chung nhà, nên xúc xiểm cho tôi tức. Bà tôi bảo, mày không giữ nó thì mất chồng. Hôm nọ bà Ĩnh con về thăm ông cụ ốm, lại nói đích là nhà tôi lấy đầm, không khéo thì nó mang về Tây mất. Bà tôi lại giục tôi ra.
Anh Xi lại cười:
- Chà! Mấy đời bánh đúc có xương.
Chị Thừa nói tiếp:
- Mấy năm nay, nhà tôi có chơi bời thật, anh ạ. Tôi hỏi thì thú rằng cái nghề buôn bán phải giao thiệp, học khôn lẫn nhau, chẳng lẽ người ta mời mình vài lần, mình không giả nợ lại người ta được một lần hay sao. Chứ có đam mê gì cô đầu đâu… Chẳng qua là thả con săn sắt để bắt con cá sộp. Tôi thấy thày nó vẫn gửi tiền, mỗi tháng lại về thăm vợ con một vài lần, thì tôi tin là nói thật, chả phải ở bên cạnh để giữ. Mặc cho mà lo lắng làm ăn. Nhưng từ ngày vỡ đường, thầy nó không về được, rồi thưa về dần, mà lần nào cũng đi ngay, kêu là bận. Chả biết có đúng hay không?
Anh Xi thở dài:
- Có bận thật, chị ạ.
- Nhưng tôi xem ý nhà tôi khác trước nhiều lắm. Chả kém gì cái hồi ở với nhau trên Đồng Đăng, anh ạ.
Anh Xi lại thở dài. Chị Thừa hỏi:
- Nhà còn xa không, hở anh?
- Không, ở phố Cầu Gỗ, đàng sau.
Rồi như bị xúc động về lời phàn nàn của chị Thừa, anh Xi than thở:
- Anh ấy bây giờ ăn ở khác trước nhiều lắm thật, chị ạ. Năm ngoái, anh ấy với tôi làm ăn với nhau, thật là vui vẻ. Chả có việc gì to nhỏ là giấu giếm nhau. Hai đứa như hai anh em ruột. Nhưng bây giờ anh ấy hách lắm. Hách cả với ông hai. Nhiều lúc, tôi tủi thân lắm, chị ạ. Chị rẽ đằng này.
- Thế sao bảo thầy nó ở ngay chỗ làm thuốc?
- Phải rồi, nhưng chị đi cửa trước không tiện. Đương khách khứa đầy nhà.
- Sao khách nhiều mà tôi chưa thấy thầy nó nhỉ?
- Anh ấy ở trên gác, đến giờ làm việc mới xuống.
Đến một cái cổng gỗ, anh Xi đập và gọi. Then mở lạch xạch, cánh mở ra.
Cụ Điều thấy chị Thừa thì tròn đôi mắt lẫn cái miệng. Một lúc, cụ mói nói như mắng:
- Mẹ con nhà mày ra đây làm gì? Ai bảo ra?
Chị Thừa lại kể cho cụ nghe những lời đồn đại như đã kể với anh Xi. Cụ bảo:
- Tao chỉ sợ nó gắt mày, rồi gắt lây cả chúng tao.
Cụ và anh Xi băn khoăn nhìn nhau. Chị Thừa đoán biết hẳn là có sự gì thật. Chị hỏi:
- Hay lời đồn là đúng, hả ông?
Cụ Điều cau mặt:
- Có gì mà đúng?
Cụ bảo anh Xi đưa chị lên gặp anh Thừa. Anh Xi đùn cho cụ. Thấy hai người có vẻ lúng túng, ngại ngùng, chị bảo:
- Gác trong hay gác ngoài, lên đường nào? Tôi đi một mình được.
Anh Xi trỏ tay:
- Gác ngoài. Thang lên ở sân có giàn thiên lý ấy.
Chị Thừa xách tay nải, bế con đi.
Vừa lên được nửa cầu thang thì chị gặp anh Thừa xuống.
- Thầy thằng Mão đấy à?
Chị chào anh như thế.
Anh Thừa đứng dừng lại, nhìn. Bỗng anh mừng rỡ, cười vui vẻ:
- À, u thằng Mão mới ra!
Anh chạy xuống mấy bậc, giơ tay đón con, cùng lên gác với vợ. Anh hôn hít thằng Mão, và hỏi chị dồn dập:
- Ra chơi hay có việc gì? Cả nhà ông bà bình yên cả chứ? Đi từ lúc nào mà đến được sớm thế?
Thấy chồng như vậy, chị hết cả ngờ vực. Chị tìm ngay được một lý do để đáp, khỏi phụ lòng chồng:
- Ông bà bảo tôi ra thăm thầy nó vài hôm, xin cho thằng Mão ít thuốc cam.
Anh Thừa ôm con vào lòng, nựng nó:
- Khốn khổ con tôi! Con tôi gầy quá thật!
Chị Thừa không muốn hỏi thêm về con ốm thế nào, chị lúi húi cởi tay nải, lấy ra một gói, đưa cho anh:
- Thầy nó thích khế khô tôi phơi được một ít, cứ để dành, đợi mãi chả về.
Anh Thừa cười ha hả:
- Thế thì thích quá! Lâu nay tôi bận việc, không về thăm hai mẹ con được, tôi nhớ quá! Nhất là thằng chó này!
Anh ghì thằng Mão vào lòng, lại hôn hít nó.
Chị Thừa rất hả hê. Chị bảo con làm tất cả các trò mà nó biết cho anh xem để cười. Nó nhăn mặt làm xấu. Nó gọi bá, gọi chề, tức là thày, gọi u. Nó giả cách cười, giả cách khóc. Anh Thừa vui quá, cười như nắc nẻ. Chị cởi áo bông cánh ra, tìm chỗ vắt. Anh âu yếm nói:
- Để ở đâu chẳng được. Gác này là nhà mình, ông hai với anh Xi ở gác trong.
Chị Thừa có ý nhận xét. Một bàn, một ghế, một tủ và một giường nhỏ. Trên bàn, một ấm, một chén. Trên giường, một gối. Và cạnh thau nước, một khăn mặt. Chị bực mình với những cái miệng thêu dệt, với người vợ tây điêu toa.
Anh Thừa nhấm nháp vài miếng khế, rồi đứng dậy:
- Tôi xuống làm việc nhé. Đây là nhà. Muốn gì, u nó cứ hỏi anh Xi hay ông Hai. Hôm nào rỗi, tôi đưa đi xem Gô-đa với Bách Thú.
Qua mặt chị, anh dùng lại, rón hai ngón tay, tuốt một sợi tóc ở thái dương chị. Chị nhìn theo hỏi:
- Gì thế?
- Có tí bụi.
Thấy chồng âu yếm, chị cảm động, nhìn anh xuống đến hết cầu thang.
Ngồi một mình với con, chị ngắm xung quanh. Tự nhiên, chị thấy cái buồng đối với chị cũng có vẻ đầm ấm. Chị ân hận là đã nghĩ oan con người vẫn thương yêu vợ con. Chị nhớ lại những hôm anh về nhà. Trông anh lúc nào cũng đăm đắm, tất bật, như có cái gì làm bận trí. Chị tưởng anh ăn ở khác trước. Thì ra chẳng qua là anh say mê công việc, chứ không phải say mê gái.
Chị thử mở tủ xem có quần áo sứt chỉ hoặc rách, thì khâu vá lại cho anh. Nhưng cửa tủ khóa. Chị tìm quanh, xem có quần áo bẩn thì giặt đỡ anh. Nhưng không có.
Thằng Mão thiu thiu. Chị vỗ khẽ vào vai nó cho ngủ say, rồi đặt nó trên giường. Chị cầm gói khế khô xuống cụ Điều và anh Xi.
Chị hớn hở nhìn hai người, khoe:
- Thầy cháu thấy tôi với cháu thì mừng rỡ quá. Cũng vừa đi làm việc.
Lúc bấy giờ cụ Điều đương tán thuốc. Cụ ngồi trên ghế đẩu cao, hai chân lăn cái bánh xe bằng sắt cho nó đi lại trên chiếc thuyền bằng gang. Anh Xi xắn quần đến bẹn, đương rửa xe, dầu mỡ nhem nhuốc cả mặt.
Hai người thấy chị Thừa tươi tỉnh, thì đều ngạc nhiên mà nhìn nhau. Chị mời họ ăn khế. Cụ Điều hỏi:
- Anh ấy xuống nhà làm việc rồi à?
- Vừa xuống.
Cụ bảo anh Xi:
- Thôi, rửa mặt mũi chân tay, mặc quần áo vào, kẻo chuông gọi bây giờ. Ra chậm, ông ấy lại gắt cho!
Anh Xi không đáp, hỏi chị Thừa:
- Thỉnh thoảng chị có đến chơi đàng thầy u tôi không? Chả biết có đủ ăn không.
Chị Thừa thở dài:
- Đủ ăn thế nào được! Ba năm rồi, năm kia vỡ đường, năm ngoái lụt úng, năm nay đại hạn!
Cụ Điều hỏi:
- Đại hạn mà không cầu đảo à?
- Có, hôm rước, cả quan huyện cũng về. Nhưng vẫn chả mưa. Gặt hái rồi, nhưng suốt làng, chả ai còn hột thóc. Dân làm đơn lên quan xin miễn thuế, xin phát chẩn. Quan hứa mãi, nhưng đã có gì đâu!
- Thế chị có năng lại thăm nhà tôi với các em không?
- Có. Khóc dở mếu dở đấy ông ạ. Bà dặn ông có dư thì gửi tiền về, chứ cả làng, cả tổng, chả ai có mà vay mượn tạm được.
Chị sực nhớ ra, nói:
- À, ông với anh Xi phải nhớ ngày đóng công sưu mà gửi tiền sơm sớm về. Chứ ở nhà thì chạy đâu ra. Kỳ thuế vừa rồi, các ông ấy kìm kẹp anh Bách thế nào mà gãy cả ngón tay. Tôi cũng phải bảo nhà tôi gửi tiền sưu về mới được. Chả có bà cháu phải nộp, bà cháu cứ chửi tôi.
Cụ Điều và anh Xi rầu rầu. Anh Xi nói:
- Mình ở ngoài này, chả biết gì. Cứ nhìn Hà Nội thì tưởng cả nước phong lưu.
Chị Thừa cười mát mẻ:
- Thế mà vừa rồi, làng còn được mua hai phiếu quốc trái, lấy tiền gửi về Tây cho nhà nước đánh giặc Đức. Quan bảo là được mua đấy nhé.
Nghe nói đến quốc trái, đến Tây, đến Đức, cụ Điều hỏi thăm tin người làng:
- À, thằng Trương có năng thư từ về nhà nó không?
- Đến gần năm nay, chả có giấy má gì. Dễ thường anh ta chết ở bên ấy rồi.
Anh Xi nói:
- Sao tôi thấy báo đăng những thư của lính mộ ta gửi về, thư nào cũng viết khoe là họ sung sướng lắm kia mà? Và ảnh người nào cũng béo tốt. Có người ngồi chụp cả với tây đầm.
Chị Thừa tặc lưỡi ra vẻ không tin:
- Nào ai biết được là thế nào?
Anh Xi lại hỏi:
- Thế ở làng có cái gì mới lạ, vui vui, hay toàn cảnh đói rách?
Chị Thừa nghĩ một lát, đáp:
- Có. Làng ta mới làm cái ấu chữ.
Cụ Điền dừng chân, ngớ mặt, hỏi lại:
- Ấu chữ là cái gì?
- Thằng Mão nhà tôi cũng phải đến ấu chữ một lần, bị cảm nắng suýt chết đấy, ông ạ.
Cụ Điền đoán ra, cười:
- À, thế thì gọi là Ấu trĩ viên, là cái vườn cho trẻ con đến phải không?
- Vâng. Tôi cứ thấy gọi thế thì tôi cũng gọi thế.
- Ấu trĩ viên đặt ở đâu?
- Ở đống bãi tha ma ngay sát đường cái tây ấy.
Anh Xi nói:
- Ở đấy thì xa làng, không tiện nhỉ.
- Nhưng quan bắt làm ở đấy, tiện cho xe pháo đi ở đường cái tây trông thấy. Làng nào ở ven đường ô tô, ven đường đê, đều phải dựng ấu chữ. Làng ta, các cụ đã khấn quan, xin cho làm ở sân đình, nhưng quan không nghe. Chính quan về cắm ở đống bãi tha ma đấy. Đận ấy cũng lại khổ không kém đận mua quốc trái. Cơm đã chả có ăn, thế mà giai gái làng, từ mười sáu trở lên, phải đi phu hết, để cất mả, san đất. Quan hẹn mười lăm hôm phải xong.
Cụ Điều hỏi:
- Thế mười lăm hôm có xong không?
- Không xong có chết với ông ấy! Làng Đông Mạc chậm có hai hôm, mà lý trưởng suýt phải cách đấy. Cho nên ông lý làng ta sợ xanh mắt, ốp ngày ốp đêm, bắt người ta bỏ cả công việc. Cũng sục sạo bắt bớ cùm kẹp dữ tợn như ngày đốc thuế ấy. Thế mà đã hết chuyện đâu. Lại còn phải dỡ đình phường, lấy gỗ, lấy gạch ngói, tải ra đấy xây nhà nữa chứ!
- Ai xây cho?
- Phải thuê chợ. Lại bổ vào dân! Công thợ thì ít, nhưng vào mồm các ông thì nhiều. Bây giờ làng làm xong ấu chữ rồi. Nhưng quan huyện rộng cho là chỉ ngày nào quan Sứ đi qua, thì trẻ con mới phải đến. Còn ngày thường, được miễn. Hôm cuối tháng tám, có giấy huyện sức là quý quan sắp đi qua. Thế là ông lý bắt dân đến ấu chữ, giẫy cỏ, quét sân, lau ghế, rồi cắm cờ, bày hương án bái vọng. Sáng sớm hôm sau, tôi phải bế thằng Mão đến. Khốn nạn, hôm ấy nắng quá. Đường thì xa, nhà thì ẩm, mốc. Tôi cho cháu ra, tưởng được về ngay, nào ngờ chờ cho đến gần chiều mới thấy tiếng còi ô tô. Thành thử mẹ đói, con đói. Trong ấu chữ, suốt ngày lúc nào cũng có tiếng trẻ mỏ khóc như ri. Chúng nó bé mà tinh thế. Dỗ thế nào cũng cứ đòi về.
- Có độ bao nhiêu trẻ?
- Đông. Giấy quan sức ba làng phải đưa trẻ đến cơ mà! Dễ gần một trăm. Chả ai trốn nổi với ông lý. Thằng Nùng, con bác Sẹo, đương ốm, mẹ nó cũng phải bế đi.
Anh Xi hỏi:
- Quái, lại mới có lệ điểm danh trẻ con à?
Cụ Điều cười:
- Anh này mới cổ nhân chứ! Ấu trĩ viên là cái vườn trẻ. Ở các nước văn minh, làng nào cũng có một ấu trĩ viên. Nước ta có ấu trĩ viên, thế là nước ta cũng văn minh. Thật là đáng mừng. Có ấu trĩ viên thì cha mẹ gửi được con để đi làm việc.
- Gởi ai?
- Có người trông, gọi là bảo mẫu.
- Làng ta, ai trông trẻ?
Chị Thừa đáp:
- Bà cụ Tư Tịnh.
- Ôi giời ôi! Con mẹ ấy mà trông trẻ thì nó đánh chết con người ta mất!
- Thật đấy. Ai dám giao con cho bà ấy! Nhưng cũng chỉ mới có một hôm ấy bà ấy ra đấy, gọi là cho có mặt thôi. Chứ mẹ nào vẫn phải trông con ấy. Cho đến lúc nghe tiếng còi ô tô, ông lý mới đuổi chúng tôi ra sau nhà, để một bà cụ ở lại. May quá, trẻ không phải khóc lâu thêm, vì quan sứ thấy các cụ mặc áo thụng ra đường đón thì bảo xe dừng lại một tí, rồi đi ngay.
- Quan sứ không vào ấu trĩ viên à?
- Không.
Anh Xi thở dài:
- Làng ta phải gánh vác nhiều việc, nào quốc trái, nào ấu trĩ viên, khổ nhỉ!
- Nhưng được quan huyện sức về khen.
Bỗng có tiếng chuông gọi. Anh Xi cầm dăm miếng khế, vội vã chạy ra. Chị Thừa hỏi cụ Điều:
- Sao bảo ông cũng bốc thuốc?
Cụ gật:
- Lúc nào cần đến tôi thì tôi bốc. Anh ấy làm một mình cũng được.
- Nghe nói còn những ai giúp việc nữa kia mà?
- Phải, còn cô đốc.
- Cô đốc như đốc Giô-dệp Phăng-đi lấy bà Ĩnh con độ trước ấy à?
- Không. Đây là đốc học, to lắm. Cô này hình như đỗ đốc học.
Chị Thừa ngạc nhiên:
- Kìa, tôi tưởng làm thuốc thì phải là đốc tờ?
Cụ Điều gật đầu:
- Ừ, phải, dễ thường đốc tờ. Công việc bận lắm. Cho nên thấy chị ra, tôi cứ lo là không khéo thì anh ấy gắt.
Một lát chị Thừa lại hỏi dò:
- Ông ơi, hay là nhà tôi có vợ bé mà giấu, ông không biết chăng?
Cụ Điều cười:
- Ăn ở nhà này, ngủ ở nhà này, chứ ở đâu mà tôi không biết?
- Thế cô đốc ăn ở đâu, ngủ ở đâu?
- Ở nhà cô ấy chứ ở đâu? Người ta thiệt đứng đắn là gái chưa chồng, chị đừng hỏi thế, mang tiếng người ta.
- Tên cô ta là gì?
- Là Ma-di.
- Sao lại là Ma-di?
- Hình như là đầm lai. Tôi trông cái mặt không phải là An-nam. Nhưng tôi cũng chả hỏi. Việc ai người ấy biết, người ấy làm. Mấy lị, chị không nên nghi ngờ gì. Anh ấy với cô ấy là chỗ người lớn với nhau. Tuy làm với nhau, nhưng anh ấy một điều thưa cô đốc, hai điều thưa cô đốc, mà cô đốc thì gọi anh ấy là ông Trần, nói với anh ấy thì thưa tiên sinh. Tôi tinh mắt lắm, chả ai làm gì mà giấu nổi tôi. Cho nên tôi cam đoan với chị là hai người thiệt trong sạch như băng tuyết.
Chị Thừa có ý chế nhạo:
- Tôi thấy ông hồ đồ lắm. Cái gì cũng hình như. Tôi yên tâm được, không phải vì tôi tin lời ông, mà vì tôi thấy nhà tôi gặp vợ con thì mừng rỡ. Cho nên tôi chẳng nghi gì.
- Đấy. Ở xa, chỉ nghe tiếng đồn hão. Oan người ta.
Bỗng anh Xi vào gọi cụ Điều ra tiếp khách. Cụ lên gác trong để sắm sửa quần áo. Chị Thừa hết người nói chuyện ra gác ngoài với con.
* * *
Chờ đến lúc ngớt khách, Ma-ri mới vào buồng thăm bệnh gặp anh Thừa. Hắn cũng giả vờ tươi cười, càng lộ vẻ mặt đanh đá. Hắn hất hàm hỏi:
- Có khách phỏng?
Anh Thừa cười lạt, không đáp. Hắn đay:
- Vui nhỉ! Có người ta ra có khác. Mặt hớn hở như được vàng!
Anh Thừa vẫn im. Ma-ri tiếp:
- Này. Chốc nữa hết giờ, anh sang ngay bên tôi, tôi hỏi một tí nhé.
Anh Thừa gật đầu:
- Được.
Rồi hai người không ai nói với ai. Bỗng giữa bầu không khí nặng nề, Ma-ri bưng mặt, nức lên. Hai vai hắn rung rung. Hắn chạy ù ra ngoài.
Anh Thừa nhìn theo, lắc đầu thở dài. Sau hôm Ma-ri nổi trận lôi đình, thì anh Thừa giận lắm. Anh làm mặt lãnh đạm. Anh chỉ nói với hắn về công việc, bằng những tiếng lẻ, hoặc những câu ngắn nhất. Còn suốt ngày anh lầm lì.
Ma-ri đối với anh cũng vậy, không nói, không rằng.
Tối hôm ấy, để tỏ ý trừng phạt, anh không sang với hắn như mọi khi. Anh nằm trên gác, vặn tắt đèn, cương quyết nuôi căm hờn.
Nhưng càng nghĩ đến Ma-ri, anh càng không ngủ được.
Hết trằn trọc lại thở dài. Y như người nghiện nhớ bữa thuốc vậy. Anh nghĩ đến giờ này, mọi tối, anh được Ma-ri đương đưa anh vào cõi mộng, làm cho anh quên sự thật ở đời. Bây giờ, dưới anh là cái chiếu mỏng với lượt thang giường bằng gỗ cứng. Bỗng anh thở dài như rên. Anh muốn biết trong phút anh sống cô độc thế này, thì Ma-ri làm gì? Hắn cũng buồn khổ như anh, hay vắng trăng thì đã có sao. Được tự do, hắn đương nằm trên tay người khác? Vậy là anh đã dại dột mà thả lỏng hắn để rồi mất hắn à? Anh nhớ tiếng dịu dàng, giọng ỏn ẻn ấy. Anh nhớ dáng dấp tha thướt, cử chỉ nhanh nhẹn ấy. Anh thương con người đau khổ. Anh phục con người nhanh trí khôn. Tự nhiên, anh thấy rằng anh không thể xa cái người đã gần gụi anh mấy tháng nay, tận tâm về công việc như người bạn thân, an ủi về tâm thần như người vợ quý. Ngẫm đến thái độ lạnh nhạt của anh, anh thử xét xem có là quá lắm không? Trước hết, anh thấy là không quá lắm đâu. Anh không hối hận chút nào. Anh phải làm cho Ma-ri thấy rõ là không phải lúc nào anh cũng mềm yếu. Nhưng nghĩ đi anh lại nghĩ lại. Anh có nên quá cứng rắn như thế này không? Anh hơi hối hận. Anh mong Ma-ri mềm yếu hơn anh lúc này, không chịu được nỗi lẻ loi trống trải, phải sang đây xin lỗi anh. Anh dỏng tai để nghe. Có phải có tiếng động của chân Ma-ri nhẹ nhàng bước lên cầu thang không? Anh sẽ được nghe thấy tiếng cười làm lành, hoặc tiếng khóc nũng nịu, làm cho nỗi căm hờn của anh vụt tiêu tan hết. Anh sẽ làm mặt giận nữa để trêu Ma-ri, cho đến lúc Ma-ri nức nở to lên, anh mới sằng sặc cười, rồi loan ôm phượng, phượng bồng loan… Nhưng không có tiếng động nào ở thang gác cả. Đồng hồ nhà thờ lại điểm thêm một tiếng chuông nữa là ba rồi. Thế mà anh vẫn luẩn quẩn. Thỉnh thoảng, anh có chợp mắt một tí, thì lại nằm mê thấy Ma-ri. Nhưng một tiếng soạt của chiếc lá rơi trên mái hiên làm anh sực thức ngay, óc anh đã lôi anh về với thực tại.
Anh vùng ngồi dậy, mở rộng cửa, nhìn ra đường. Gió bấc lọt vào lạnh lùng. Phố vắng tanh, cả Hà Nội đương ngủ say. Chỉ có anh với những ngọn đèn kia là còn thức, nhìn nhau. Anh cố rướn mình ra ngoài để ngó sang nhà Ma-ri xem bên ấy có còn đèn sáng hay không. Nhưng vì vướng cây, anh không nhìn được. Thôi, thế cũng tốt. Bởi vì đèn sáng là tại người còn thao thức, nhưng cũng là tại còn có một chàng nào đó nằm thay chân anh, chưa về.
Anh muốn ngủ đi để khỏi luẩn quẩn. Cái đêm này dài quá! Anh bật đèn, tìm một cuốn sách cũ để đọc cho dễ ngủ. Anh nằm mở từng tờ. Đến một trang rách in bài thơ mất đoạn đầu, anh đọc:
Hôm nay không gặp em,
Suốt ngày nằm lịm im,
Mong ngủ chẳng ngủ được,
Chợp mắt là thấy em.
Nhớ tiếng em dịu dàng,
Nhớ dáng em thướt tha,
Thương tình em buồn phiền,
Thương sức em yếu ớt.
Hồi tưởng buổi thu sơ,
Gặp gỡ không hẹn hò,
Hai tâm hồn đau khổ,
Say sưa vì vần thơ.
Đông về, gió bấc lạnh,
Cô miên cùng một cảnh,
Ôm, ấp, ủ, tình nhau,
Bạn bè cũ xa lánh.
Xuân sang tình tốt tươi,
Chén đồng càng nhắp vui,
Vũ trụ cũng là nhỏ,
Chỉ tình yêu to thôi!
Đêm hè trời xanh trong,
Vằng vặc trăng dòm song,
Lăn lóc ta ngâm vịnh.
Thơ hay tình càng nồng.
Mừng trời tựa đôi ta,
Yêu nhau ngày thiết tha,
Hôm nay hơn hôm qua,
Nhưng lại kém mai xa.
Mỗi ngày bao kỷ niệm,
Bút thần tả mới xiết.
Lo tính việc cho nhau,
Tương lai như gấm dệt.
Tan tác có ngờ đâu.
Ái ân chưa bao lâu,
Một phút không nén giận,
Ngàn thu mang hận sầu.
Một ngày không gặp em,
Như mười năm biệt ly!
Một ngày sống xa em,
Lạnh lùng lòng như chết!
Em ơi, em, em ơi!
Trời ơi, trời, hỡi trời!
Kêu trời mãi chẳng thấu,
Gọi em, em xa rồi!
Nhớ ai, gió gào mãi?
Thương ai mưa khóc hoài?
Gió mưa thêm sầu thảm.
Lòng anh càng tơi bời!
Văn nhân với giai nhân,
Gặp gỡ được bao lần?
Trời đã để sum họp,
Sao như áng phù vân?
Hợi xưa, khóc vu quy,
Ngọ sang, khóc tử quy,
Ai ngờ đến năm Thân,
Lại khóc em biệt ly?
Mười năm mất ba bạn,
Nghĩ kiếp mà chán ngán,
Mười năm khóc ba lần,
Mấy hồ lệ không cạn!
Nhớ nhau, tiếng thở dài,
Thương nhau, dòng lệ rỏ,
Tâm sự mình biết mình,
Lặng lẽ mà đau khổ!
Từ nay trên đường đời.
Đôi ta, người một nơi.
Hiu quạnh! Ôi hiu quạnh!
Mái tóc trắng như chơi!
Đọc xong bài thơ, anh Thừa thở dài. Sao mà tâm sự của tác giả giống tâm sự của anh thế!
Anh đọc lại một lần nữa, rồi ngồi lên, lấy bút chép nó ra tờ giấy. Anh đã có ý định. Chép xong, anh đút bài thơ vào túi, nằm vắt tay lên trán.
Lòng được nhẹ tênh tênh, anh thiu thiu.
* * *
Sáng hôm sau, anh xuống nhà làm việc. Vừa vào buồng, anh đã thấy Ma-ri ở trong ấy, đương xếp lại chồng phiếu ghi tên người ốm. Mắt Ma-ri thâm quầng, mặt Ma-ri rầu rầu, cử chỉ Ma-ri ẻo lả. Đúng là người mệt nhọc vì mất ngủ. Anh làm mặt nghiêm, không nhìn Ma-ri. Ma-ri cũng làm mặt nghiêm, không nhìn anh. Bỗng tự nhiên, không ai bảo ai, hai người cùng trông trộm nhau. Thế là cùng nhoẻn cười. Anh đứng dậy, chạy đến, ôm chầm lấy Ma-ri. Ma-ri cũng chạy lại, ôm chầm lấy anh. Y như giả cách giận nhau, hai người cùng thổn thức.
Thế là xí xóa hết. Quên cả bệnh nhân đương chờ đợi, anh kể nỗi nhớ nhung đêm trước cho Ma-ri nghe. Ma-ri cũng thổ lộ tâm sự sầu thảm cho anh nghe. Anh móc túi, lẳng lặng đưa Ma-ri xem bài thơ chép lại. Ma-ri ngả đầu vào ngực anh để đọc. Đọc xong, Ma-ri ngước lên nhìn anh, thỏ thẻ:
- Em cũng thế.
Đôi mắt và đôi môi mới tình tứ làm sao!
Nhưng hôm nay, chị Thừa bế thằng Mão ra một cách đột ngột.
Anh Thừa bực với vợ lắm, nhưng cố làm như vui vẻ. Song, anh thấy chị không tỏ vẻ gì là định đánh ghen, phá đám cưới, lại còn nói năng âu yếm, đem quà khế để dành cho anh, thì không những anh yên tâm, mà còn cảm động nữa.
Đã có lúc anh đau khổ mà nghĩ đến một ác ý. Bỏ chị này hay bỏ cô kia?
Ma-ri đẹp, khôn, giúp anh được nhiều việc. Nhưng Ma-ri quỷ quyệt, đối với anh chưa thật lòng. Bây giờ Ma-ri muốn lấy anh. Nhưng lúc chán anh, thì có thể thay chồng dễ dàng như thay áo. Vợ anh quê mùa, nhưng thật thà, trung hậu. Bị anh lừa dối, đày đọa bao nhiêu phen, mà vẫn nhẫn nại chịu đựng. Thế mà bây giờ, anh toan làm tình làm tội vợ anh, vì anh bị Ma-ri làm tình làm tội. Vậy có nên bỏ một người hiền lành, vô tội, không bao giờ bỏ mình, để lấy một người quỷ quyệt, tinh quái, vẫn dọa mình là không phải người yêu cuối cùng?
Tự nhiên anh thấy thương quý chị Thừa, và ghét khinh Ma-ri. Anh không thể xử với vợ như đã xử với người nhân tình Múi được.
Việc tổ chức cưới Ma-ri mười phần anh đã tiến hành được đến sáu bảy. Giấy báo hỷ và giấy mời dự tiệc đương in. Nhà thuê để đón dâu đã mặc cả xong. Người đi phù rể, đón dâu và phù dâu, đưa dâu, của hai họ, là những người thế nào, anh đã thỏa thuận với Ma-ri, và về bên nhà trai, anh tìm được gần đủ. Người dự tiệc là những ai, anh và Ma-ri đã đồng ý. Tiệc đặt hiệu nào làm, anh đã đi hỏi. Đám cưới đi đường nào, xe pháo khứ hồi phí tổn bao nhiêu, anh đã ghi vào sổ tay. Cô đầu hàng Giấy, cô đầu Ấp, ai có thanh, ai có sắc, anh đã chấm tên rồi. Hôm cưới, cô dâu ăn mặc thế nào, chú rể ăn mặc thế nào, anh và Ma-ri đã đến các hiệu Phan Đức Thành, Phan Hòa Thành, Phan Thái Thành, Phan Cự Thành, Phan Hưng Thành trên Hàng Ngang xem hàng rồi. Cho đến khoản hồi môn của cô dâu mang về nhà chồng, và khoản cha mẹ chồng mừng cho cô dâu là những gì, anh với Ma-ri đã thu xếp với nhau xong. Chỉ còn việc định ngày cho hai người đi đăng tên ở phòng giá thứ ngoài sở Đốc lý. Ma-ri sẽ lấy tên là Marie Quyên (do hai tiếng Thuyền quyên), và anh, là Albert Thừa. Có mà trời cũng không biết là ai. Nếu có người làm lôi thôi, cản trở đám cưới, thì chỉ là vợ anh. Nhưng vợ anh đang ở nhà quê, không ai biết chữ, lại không ai nói cho mà biết, thì làm sao mà nhờ pháp luật giữ chân anh được? Lúc ấy, anh sẽ làm một việc cuối cùng nữa, là nhờ người xem ngày tốt, thì đón dâu thôi.
Nhưng mà việc cưới xin mới ở trong thời kỳ sửa soạn, chưa thực hiện. Anh có thể thôi hết, miễn là chịu phí một vài món tiền đặt, và miễn là… anh có thể… lật Ma-ri như lật bàn tay.
Lật Ma-ri. Anh tính đến cách lật Ma-ri. Tự nhiên, anh hốt hoảng. Văng vẳng bên tai, anh như nghe thấy những lời Ma-ri dọa là làm toáng lên cho anh tuyệt đường sinh kế. Tất Ma-ri làm thế thật, chứ không chịu yên. Nhưng anh có tuyệt đường sinh kế không? Nhất định không. Ma-ri chỉ có thể phá anh trong một nghề làm thuốc. Khi anh dứt khoát với Ma-ri, anh sẽ đổi nghề. Ở Hà Nội này, thiếu gì cách sống? Chỉ có là láu cá thì làm giàu mau. Cùng lắm, anh làm việc ăn no, vác nặng, đi phu bắt-tê cũng không đói.
Anh đương lan man nghĩ đến đây thì Ma-ri vào. Nghe tiếng Ma-ri hỏi chua chát là có khách, anh bực mình. Khi cái giọng ấy đay nghiến là vui nhỉ, anh đã định đáp: “Chứ không ư?” nhưng khi nghe Ma-ri nức nở, anh mới xót xa làm sao! Y như cổ họng anh bị nghẹt. Y như trái tim anh bị xé nát từng mảnh. Anh cũng nghẹn ngào, dào dạt.
Anh có nỡ lòng đày đọa con người thế kia phải khổ vì anh không? Mấy tháng này, anh được đầy đủ cả về vật chất lẫn về tinh thần, là vì có người này hết sức chiều chuộng. Không biết có người vợ nào khéo lựa ý muốn của chồng, như Ma-ri cư xử với anh hay không? Lúc anh lúng túng, Ma-ri giải quyết giúp. Lúc anh buồn phiền, Ma-ri an ủi, làm anh lại vui vẻ như thường. Không rõ những người lấy vợ Nhật Bản thì được toại nguyện thế nào, chứ mấy tháng, anh ở với Ma-ri, là mấy tháng anh hưởng cảnh thần tiên, quên đời, thoát tục. Anh như sống giữa trung tâm của vũ trụ, quanh mình không có gì, không có ai. Chỉ có hai trái tim hòa theo một nhịp. Thật thế, chỉ có một đêm xa Ma-ri, anh đã thấy nhớ, thấy thương, thấy buồn khổ, chán nản, thấy cô đơn, bỡ ngỡ, buồng phổi như không thở, trái tim như ngừng đập, lạnh lùng lòng như chết. Người ta thường nói mê nhau vì ăn phải bùa mê bả dột của nhau. Nhưng làm gì có bùa bả, việc gì phải bùa bả. Cái nó làm cho trai gái say nhau, gần nhau thì vui, xa nhau thì khổ, ấy là hai tâm hồn hợp nhau… như anh với Ma-ri.
Nghĩ về Ma-ri, anh lại nghĩ đến vợ anh hiện đương ở trên gác. Vậy thì nên bỏ ai?
Bỏ người vợ mà cha mẹ lấy cho anh, nhưng không bao giờ người này có ý định bỏ anh? Hay bỏ Ma-ri mà anh lấy cho anh, nhưng lại chỉ như con bướm, bỏ anh lúc nào anh không lường trước được? Rồi anh nghĩ những ngày anh ở với vợ anh. Ngày ấy, anh làm phu kíp trên Đồng Đăng, làm cu li kéo quạt cho thằng Tu-nô. Ngày ấy, anh nghèo, anh bị khinh, bị nhục. Nhưng từ ngày anh gặp Ma-ri, Ma-ri bày cách cho anh, anh trở nên giàu có, được người đời kính nể, có những bạn hữu sang trọng. Chính Ma-ri cũng giới thiệu với anh quen cả Tây. Hay cái số anh không hợp với vợ anh, và Ma-ri có tướng vượng phu?
Anh như con chạch trong giỏ cua, như người đứng giữa hai ngọn súng lục. Khó xử quá!
Anh thở dài.
Bỗng có tiếng gõ cửa. Anh Xi vào, nói:
- Cô đốc vừa về, nhắn mời anh sang chơi ngay.
Anh Thừa đứng dậy:
- Anh bảo nhà tôi là tôi đi thăm bệnh một lát nhé.
Anh sang nhà Ma-ri.
Ma-ri đương ngồi ủ rũ một mình, thấy anh, lại bưng mặt nức lên. Anh vội vàng chạy lại, vuốt tóc, vuốt vai Ma-ri, khẽ gọi:
- Em! Em!
Ma-ri ngẩng lên, lau nước mắt, chớp chớp nhìn anh, rồi lại òa khóc. Anh lại dỗ:
- Em! Em!
Ma-ri thổn thức:
- Anh cho em khóc hết nước mắt, rồi hãy nói chuyện.
Anh Thừa thở dài, nhăn nhó nhìn Ma-ri. Anh ôm đầu Ma-ri ấp vào ngực anh. Lúc này, anh cũng thấy rõ tim anh đập rộn ràng, như hòa nhịp với tiếng tấm tức của Ma-ri.
Chừng độ năm phút sau, Ma-ri mới nín được. Mặt đau khổ, Ma-ri lại chớp chớp nhìn anh, đôi mắt lờ đờ như ngây. Bỗng một nhịp cười như xé, cười giòn, cười lâu, cười sặc, cười sụa như hóa dại. Anh Thừa ôm chặt lấy Ma-ri, vuốt ngực Ma-ri:
- Em! Em!
Ma-ri không cười nữa. Mệt. Thở hổn hển. Anh Thừa dịu dàng nói:
- Em! Anh có điều gì với em đâu?
Ma-ri lại nức lên mà cười, không đáp. Anh Thừa lại sợ hãi. Một lát, hắn vừa thở, vừa nói:
- Cho em chén nước.
Hắn ngồi lên, uống nước, vấn lại tóc, rồi nói:
- Em chết mất! Tính mạng em là ở trong tay anh.
Anh Thừa đau đớn, đáp:
- Thì có làm sao?
Hắn hổn hển hỏi:
- Anh giết em, hay cho em được sống với anh?
Anh Thừa chưa kịp trả lời, thì Ma-ri trợn ngược mắt, quờ quờ hai tay, ngã lăn xuống, mình mẩy run cầm cập. Anh vội vàng vực Ma-ri lên giường, lấy khăn mặt thấm nước lã, ấp lên trán Ma-ri, và gọi.
Chừng mươi phút, Ma-ri cựa, từ từ mở mắt ra. Ma-ri nhìn anh, nhìn mãi, rồi ứa hai giọt lệ, lăn xuống má.
Anh Thừa lắc đầu, thở dài:
- Em! Em nghĩ về anh thế nào mà đến nỗi như thế này?
Ma-ri thều thào mấy tiếng:
- Anh thế nào thì anh biết hơn em.
- Anh hôm qua thế nào, thì hôm nay vẫn thế. Anh là của em. Bởi vì em là của anh.
Anh ôm đầu Ma-ri, quỳ gối trên sàn gác, cúi xuống hôn vào má. Ma-ri bá lấy cổ anh, hỏi thầm vào tai, kéo dài từng tiếng:
- Có thật không anh?
Anh mỉm cười, cũng dài giọng:
- Thââật!
Cái lối nũng nịu nhau quen thuộc này có sức tiếp sinh khí cho Ma-ri. Ma-ri như khỏe ra. Hắn ngồi dậy, búi tóc, vui vẻ nhìn anh:
- Thế anh định xử thế nào với hắn?
- Ra thì cứ ra. Ở thì cứ ở. Việc ta ta cứ làm.
Ma-ri ôm chầm lấy anh, hí hí cười:
- Thế thì em sống rồi!
Hắn đứng dậy, rút ngăn kéo, lấy cái kẹo, bẻ ra làm đôi, đưa anh một nửa, và ngâm:
- Một lời đã hứa, trăm năm từ đây!
Anh Thừa mỉm cười, thong thả thò tay ra. Anh chưa cầm. Có lẽ vì óc anh đương bối rối. Bỗng tay anh bị phát đánh đét một cái. Mặt Ma-ri sầm lại:
- Không ngon bằng khế khô của người ta phỏng?
Anh Thừa tái mặt. Không ngờ Ma-ri tinh quái, cái gì cũng biết. Hắn lại dồn:
- Ăn nửa cái kẹo sợ no, không ngồi tiếp cơm người ta được phỏng?
Anh Thừa cười:
- Hứa bằng bụng chứ cần gì hứa bằng kẹo. Nuốt kẹo để nuốt lời à?
Ma-ri tươi tỉnh:
- Thế thì được. Em không tủi thân nữa.
Anh Thừa móc cái đồng hồ quả quýt ở túi thắt lưng da ra để xem giờ. Ma-ri hỏi:
- Sốt ruột về với người ta phỏng?
Anh Thừa nghiêm mặt đáp:
- Không sốt ruột, nhưng đến giờ thì phải về. Em nên bình tĩnh, đừng hơi thấy một cử chỉ cỏn con của anh là nghi hoặc, rồi đay nghiến anh, làm cho anh khổ tâm. Em bình tĩnh thì anh được bình tĩnh. Anh bình tĩnh thì em cũng được bình tĩnh. Có bình tĩnh mới để cho nhau làm nổi việc. Việc chúng ta là việc quan hệ, việc trăm năm, lâu dài. Em chỉ nên nghĩ làm sao cho nó có kết quả, đừng để ý những cử chỉ vụn vặt của anh. Nhiều khi vì muốn đạt mục đích chính, mà anh cố ý cho hắn thấy những cử chỉ vụn vặt để đánh lạc hướng mắt hắn đi.
Ma-ri khen:
- Đàn ông trí lớn hơn đàn bà.
- Đúng rồi. Chỉ nghĩ đến những điểm vụn vặt, thì lo toan sao được việc lớn. Nhưng chỉ lo toan những việc lớn mà không nghĩ đến những điều vụn vặt cũng không được. Cho nên trời sẽ cho chúng ta lấy nhau là đúng. Anh định liệu việc lớn lao, trong khi ấy, em quán xuyến việc vụn vặt, thì việc gì không thành công.
Ma-ri cười. Anh Thừa giao hẹn:
- Cho nên từ nay bất cứ anh nói gì, anh làm gì, em không được nghi ngờ, mà phải tin rằng để làm cho đám cưới chúng ta linh đình vui vẻ. Anh đã nói hắn ra thì cứ ra, ở thì cứ ở, việc ta ta cứ làm. Vậy thì anh phải luôn luôn đánh lạc hướng cho hắn không biết một tí gì, không trông, không nghe thấy sự thực.
Ma-ri ngớ mặt:
- Kìa, thế em tưởng hắn ra để phá ta. Hẳn thằng già hay thằng trẻ ở nhà này bắn tin về.
Anh Thừa lắc đầu:
- Không. Tình cờ mà ra thôi.
- Thế thì được. Chứ không, anh phải tra xem đứa nào bép xép, thì vả cho tan họng ra.
Anh Thừa nói:
- Cho nên việc ta, ta cứ tiến hành, nhưng phải kín đáo. Có kín đáo, ta mới cưới nhau ngay trước mắt hắn, mà hắn không biết. Hắn ở Hà Nội với anh, mà suốt ngày chúi trên gác, thì có khác gì bị bịt mắt. Cùng lắm, hắn có hỏi, thì lại hỏi lão già và thằng Xi, chứ còn quen ai nữa. Hỏi hai thằng này, có khác gì không hỏi. Hắn muốn ra khỏi nhà này, thì một là anh, hai là thằng Xi đi kèm, vậy còn biết cái gì. Thằng Xi có thể ăn nói hớ hênh, nhưng đã không nghi, thì hắn chả hiểu được.
- Thế thì anh kèm hắn tốt hơn.
- Anh vẫn làm thế. Cho nên anh mới bảo em là dù anh làm gì với hắn cũng không phải là thay lòng đổi dạ.
Ma-ri gật:
- Em tin lời nói của anh. Nhưng muốn em tin cả việc làm của anh là không thay lòng đổi dạ, thì em giao cho anh một nhiệm vụ.
- Nhiệm vụ gì?
- Để chốc nữa, trước khi anh về, em sẽ nói.
- Em nói đi. Anh về đây.
Ma-ri đứng dậy, ra cửa, khóa lại, rồi rút chìa, đút vào túi. Mặt hắn đanh đá nhưng hắn cố nói cho dịu dàng:
- Việc em muốn bảo, là thế này: em chưa là vợ anh thì không được ghen ngược. Nhưng em yêu anh, không thể không ghen. Dù sao thì trong thời gian vợ anh ở với anh trong một căn gác riêng, em cũng không cho phép anh được trò chuyện với hắn. Muốn vậy, thì mỗi ngày hai lượt, trước khi ngủ trưa và ngủ tối, anh phải sang đây một lát, một lát thôi, với em, để phá sức lực đi.
Thấy Ma-ri tai ngược, anh Thừa chưa biết xử lý thế nào. Anh hỏi đùa:
- Thế thì em phải trả tiền anh chứ? Tại em cơ mà?
Ma-ri cười:
- Anh còn nợ em bao nhiêu, anh có nhớ không?
Rồi nghiêm trang, hắn tiếp:
- Tùy anh đấy. Muốn dò lòng anh, em chỉ có cách ấy. Anh có chiều nổi ý này của em bắt đầu từ trưa hôm nay không?
Anh Thừa cúi sâu đầu, kéo dài tiếng để liều:
- Được!
* * *
Làm xong nhiệm vụ với Ma-ri, anh Thừa về nhà. Anh vẫn vui vẻ với vợ và con. Chị chưa ăn cơm. Chị chờ anh.
Bữa hôm nay có món thịt chuột, chị mang ở nhà quê ra. Thấy vợ săn sóc đến mình phải xa nơi chôn nhau cắt rốn, anh Thừa vui sướng quá:
- Đi xa thì nhớ nhà, nhớ quê. Thỉnh thoảng được hưởng những thứ của quê nhà, cũng vợi được buồn.
Trong khi ăn, chị nhắc lại cho anh nghe những tin của làng, vừa nói với anh Xi và cụ Điều buổi sáng. Hai người này cũng ngồi quanh mâm để nghe một lần nữa. Anh Thừa hỏi thăm từng người trong họ của anh và của chị đói no thế nào. Anh than thở:
- Tôi chỉ ước ao được rỗi vài ngày, thì về quê, thăm khắp họ hàng, bà con. Ở gần, hay coi thường nhau, nhưng ở xa mới thấy nhớ nhau, mong gặp nhau.
Chị Thừa cho là chồng nói ý nhớ mong mình, chị hể hả lắm.
Ăn xong, cả bốn người không ai muốn đứng dậy, vì không dứt được chuyện. Anh Thừa, cụ Điều và anh Xi hỏi hết việc này đến việc khác ở trong làng.
Nghe chị nhắc việc gửi tiền đóng công sưu, anh Thừa tặc lưỡi:
- Ở đâu đóng thuế đấy cho tiện.
Chị Thừa lắc đầu:
- Không được. Thế là bỏ làng à?
Anh Thừa đáp:
- Nhưng có thẻ nhà quê, mà ở Hà Nội, không có thẻ thành phố, cũng vẫn bị bắt và bị phạt. Chả có khối người mới ở nhà quê ra Hà Nội chơi, đi đường lớ ngớ gặp đội sếp hỏi thẻ đấy à? Thế là bị bỏ bót ngay hai mươi bốn giờ đồng hồ, còn bị nộp tám hào phạt nữa.
Anh thở dài:
- Hay là đóng cả hai nơi?
Cụ Điều cau mặt:
- Ông có tiền mới làm thế được, chứ chúng tôi chịu sao nổi một cổ hai tròng?
Cả bốn người cùng im lặng. Chị Thừa còn kể thêm cả những việc không ai biết mà hỏi. Cụ Điều nghe vui tai, khen chị:
- Con mẹ này ít lâu nay hay nói hơn trước. Anh Thừa cười:
- Chồng phú quý thì vợ phải biết ăn nói để giao thiệp chứ.
Rồi anh khen:
- Nhà tôi được cái tốt là ít lâu nay không biết ghen. Thấy thỉnh thoảng tôi kể là đi cô đầu, nhà tôi cũng chẳng nói gì.
Chị Thừa hơi thẹn:
- Đừng giấu giếm thì chả ghen.
Cụ Điều nói:
- Đàn ông chơi bời là thường. Làm giai năm thiếp bảy thê. Mấy lị anh ấy vẫn bảo giao thiệp để học khôn, sao gọi là chơi bời.
Chị Thừa nhìn chồng, trách bằng giọng âu yếm:
- Ở nhà cứ đồn ầm lên là thầy nó có vợ bé đấy.
Anh Thừa tái mặt, nhưng làm như cứng rắn để thăm dò:
- Thế u nó ra đây để khám phá phải không? Đã đánh ghen với ai chưa?
Chị cười:
- Nào ai tin mà ghen với tuông! Nếu có vợ bé thì trên gác phải khác kia chứ.
Anh nhạo:
- Thế là bế con ra mất công toi! Đã thế, tôi giữ ở lại, không cho về nữa. Thật đấy!
Chị Thừa đỏ bừng mặt.
Buổi trưa hôm ấy, anh Thừa không nghỉ. Chị muốn giục anh đi nằm một tí kẻo làm việc cả ngày mệt nhọc. Nhưng chị giữ ý, sợ chẳng ai biết bụng chị thương yêu chồng, lại cho là chị háo hức thì chị ngượng chết.
* * *
Song, tuy ngày nào chị cũng được chồng đối xử nồng nàn, thân mật, nhưng chị không khỏi không có điều hậm hực. Hậm hực mà không tiện nói ra với ai. Là ngay từ tối đầu tiên, anh đã thú thật với chị để nhận một tội lớn, là anh mắc bệnh giang mai. Chị đay nghiến anh một lúc, nhưng vì anh đã trót dại, cơ sự đã rồi, chị chỉ còn việc khuyên anh nên chữa cho khỏi, kẻo mà không sinh đẻ được nữa.
Ở trên gác với con cả ngày thì buồn, chị hay bắc ghế ra cửa ngồi nhìn đường. Chị muốn qua chơi phố nọ phố kia, nhưng đi một mình sợ lạc. Vì vậy, chị cũng hay sang nói chuyện với cụ Điều và anh Xi. Chị vá quần áo rách cho cụ Điều. Chị tán thuốc, thổi cơm, gánh nước hộ anh Xi. Vốn hay lam hay làm, chị để chân tay không thì buồn, cho nên muốn được hoạt động.
Chị chưa định hôm nào thì về nhà quê. Vì chả mấy khi mới cất công ra thăm chồng, vả lại, trừ cái việc riêng kín của anh chị đối với nhau, mà không ai biết, anh vẫn tỏ ra là một người chồng tốt, biết thương vợ, yêu con. Anh đã đưa chị đi nhiều phố vui ở Hà Nội. Chị đã được nhìn thấy con hổ, con báo. Chị đã đứng xem mãi cái thang máy ở nhà Gô-đa. Và chị cũng đã bốn tối đi xem hát, ở rạp Quảng Lạc, ở rạp Sán Nhiên Đài, ở rạp Đồng Lạc, ở rạp Kinh Kỳ Hý Viện Hàng Quạt. Chị tấm tắc khen đào kép hát hay, phông cảnh đẹp.
Lạ mắt nhất là chớp ảnh. Các ông tây bà đầm chỉ không nói ra tiếng được thôi, còn thì cũng đi đứng, ăn uống, giơ tay chân, mấp máy môi như người thật.
Chị lại được đi xe điện lên Bưởi xem dệt lĩnh. Và được đi xe cao-su xuống chợ Hôm mua thịt quay. Chẳng cứ gì thằng Mão trông thấy phố xá tấp nập những người, thì nó reo suốt dọc đường, chính chị hưởng những cái thứ mới lạ, chị cũng thấy thích.
* * *
Một hôm, anh Thừa nói với chị là phải đi vắng xa, chẳng biết tối nay có về được không. Chị bảo anh bận việc thì cứ đi, chị ở nhà một mình cũng được.
Anh khuyên chị nên vào chùa Trầm, trong Hà Đông, mà xem phong cảnh. Anh dặn anh Xi dẫn chị.
Thấy chồng thương chị ở nhà một mình, chị cười:
- Được, thầy nó mặc tôi.
Trước khi xuống gác, anh hôn hít thằng Mão mãi, rồi đóng tất cả cửa chớp, cửa kính trông ra đường. Anh nói:
- Để tránh nắng hanh và gió bấc. Con nó khỏi bị cảm. Trời này độc lắm.
Được chồng chu đáo với mình và săn sóc đến con từng li từng tí, chị muốn cảm ơn Trời Phật. Thành thử chị chả thiết đi đâu cả.
Buổi trưa hôm ấy, ăn cơm xong, cụ Điều và anh Xi lên gác trong để nghỉ. Chị Thừa không có ai để chuyện, nên rỗi. Chị về gác ngoài. Thằng Mão đã ngủ. Còn mỗi mình chị thức. Chị đặt con vào chỗ khuất. Rồi ra mở cửa kính, hé một cánh cửa chớp, bắc ghế, ngồi nhìn phố.
Bỗng từ phía tay phải chị, có một đám cưới sắp tới. Bốn người mặc áo the chùng, quần thắt lưng xanh ra ngoài, đội bốn mâm cau tươi, trên trùm chiếc khăn điều. Rồi đến hai quả phù trang sơn son, mỗi quả hai người gánh bằng một cái đòn cũng sơn son. Rồi cuối cùng là bốn con lợn quay, đặt trên bốn cái bàn vuông, mỗi bàn bốn người khênh. Cau, phù trang và lạn đi hàng một, đều được che lọng xanh. Người cầm lọng mặc áo màu nâu đỏ. Sau những thứ dẫn cưới, là một đoàn xe song mã đi lóc cóc bước một. Chị mới được xem đám cưới đi bằng xe cao-su, đã cho là sang lắm rồi. Anh phu xe nào cũng đội nón sơn đỏ, mặc áo cộc đỏ, sau lưng, khâu miếng vải trắng, hình tròn như mặt trời. Cô dâu ngồi xe nhà sơn đen, cho khác với xe hàng sơn cánh gián. Không ai thấy được mặt cô đẹp hay xấu. Vì bị bịt cánh gà hai bên, đàng trước còn đậy kín mít bằng cái nón nghệ quai thao mới, trắng, to tướng. Chỉ thấy ở phía dưới nón, bốn ống quần lĩnh mới của cô dâu và cô phù dâu. Sau xe này là xe con sen, ngồi một mình, đặt trên đùi cái tráp trầu tròn, phủ bằng vuông nhiễu cánh sen. Cuối cùng là xe người đội sếp, quanh áo thắt chiếc thắt lưng da to bản, ống quần quấn xà cạp vải, tay cấm chiếc roi mây. Thế là trẻ phố hỗn hào táo bạo đến đâu cũng phải hốt. Đố đứa nào dám nói trêu, hoặc lách que vào kẽ cánh gà để chọc cô dâu.
Đám cưới xe song mã thì lần này chị Thừa mới được thấy là một. Tất là sang hơn. Vì chỉ những người lắm tiền nhiều của mới thuê nổi những chiếc xe lớn, đẹp, kéo bằng hai ngựa. Chị đếm: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín mười chiếc. Mẹ ơi! Sao mà nhiều thế!
Đoàn xe qua nhà chị. Xe nào cũng để mui trần. Sáu xe đi trước chưa có người ngồi. Chị đoán đây là họ nhà trai đi đón dâu. Xe đầu đến ngã tư, thì đỗ. Các xe sau, lần lượt dừng ở sau. Chiếc thứ bảy, hai cụ ngồi. Hai cụ có búi tóc, chít khăn quấn, cùng mặc áo gấm và quần tây dạ. Một cụ đeo thẻ bài ngà ở ngực. Xe này đến cái nhà cách nhà chị hai căn, thì đỗ. Hai cụ xuống. Pháo nổ ran.
Chị cố né mình ra để nhìn vào họ nhà gái. Nhưng vướng cây và mái hiên. Xe thứ tám qua. Có hai bà đứng tuổi. Bà đeo kính trắng mặc áo xa-tanh. Bà không đeo kính mặc áo gấm, cổ và tay ngộn lên những vàng. Xe thứ chín là ba cô con gái, quấn tóc trần, mặc áo gì hoa ấy, chị không biết, mặt bự những phấn. Đến xe cuối cùng. Bỗng chị ngờ ngợ. Sao có một người giống chồng chị thế? Chị nhìn kỹ. Chồng chị ăn mặc hơi lạ, nhưng có cái cằm lẹm thì trộn đâu cũng không lẫn. Đúng là anh Thừa.
Anh Thừa đội khăn xếp bằng nhung đen, mặc áo gấm hoa màu lam, chân đi giày Huế đỏ thêu. Cạnh anh, là một người trạc tuổi anh, đội khăn lượt, mặc áo xa-tanh đen và quần tây tím, dận giày tây vàng.
Chị tự hỏi xem trong bốn người đàn ông này, ai là chàng rể. Không lẽ là hai ông cụ đi đầu tiên. Không lẽ là chồng chị. Chồng chị đương mắc bệnh tiêm la kia mà! Hẳn là cái anh ngồi cùng xe này. Vì là chú rể ấy, cho nên những người họ nhà trai, chị mới không biết mặt ai.
Nhưng chị nghĩ lại. Giá chú rể ăn mặc như chồng chị mới đúng. Vừa sang trọng hơn, vừa tiện cho khi lễ, khỏi phải cởi giày.
Xe ấy đỗ trước cửa nhà gái. Hai người xuống đất.
Trẻ phố chỉ trỏ chồng chị, lắp bắp nói những gì, xa quá, chị không nghe rõ.
Chị muốn sang gác trong, đánh thức cụ Điều với anh Xi dậy, để mách việc lạ này. Chưa nói được với ai, chị cứ luẩn quẩn nghĩ một minh. Có lý nào chồng chị cưới vợ không? Nhà bên ấy là nhà ai? Chị thử ôn lại xem từ hôm chị ra đây, chồng chị có làm gì đáng nghi là lập tâm lừa dối chị để lấy vợ lẽ giấu chị hay không? Những cử chỉ vồn vã, vui vẻ có là lừa dối không? Những lời lẽ ôn tồn, âu yếm có là lừa dối không? Hay là những buổi đi chơi, xem hát, xem chớp ảnh, là lừa dối? Hay là cả cụ Điều, anh Xi, cũng đều vào hùa với chồng chị mà lừa dối chị? Chồng chị đã lừa dối chị nhiều lần, nay kiếm tiền của thiên hạ cũng bằng cách lừa dối, thì có lý nào riêng đối với chị, độ này anh lại thành thật không?
Chị đứng không yên, ngồi không yên. Chị đắn đo, chị suy xét. Chị muốn biến thành con ruồi, bay sang nhà bên kia để nhìn, để nghe cho rõ sự thực.
Chị lại nhìn ra cửa. Đoàn xe đã quay đầu lại. Chốc nữa, chị sẽ được nhìn cho đến hết đám cưới, xem đích thực chú rể cô dâu là ai.
Có tiếng ho ở trong gác. Chị cuống queo, gọi:
- Ông Hai ơi, anh Xi ơi, ra ngoài này ngay mà xem, có sự lạ lắm!
Hai người đi ra. Chị mở rộng hai cánh cửa, trỏ tay, và tả tỉ mỉ từng người mà chị trông thấy.
Cụ Điều né nhìn xuống đường, rồi ngớ mặt trông anh Xi:
- Quái, nhà cô đốc à?
Anh Xi cũng nhìn:
- Ừ, nhà cô đốc thật.
Cụ Điều hỏi:
- Thế là thế nào nhỉ? Hay đám cưới ai ở nhà ấy họ mời anh ấy chăng?
Rồi cụ lẩm bẩm một mình:
- Có lẽ nào anh Thừa lấy cô đốc mà không mời mình?
Chị Thừa hỏi dồn:
- Thế nào, thế nào, hở ông? Mọi ngày ông thấy nhà tôi với cô đốc có tình ý gì với nhau không?
Cụ Điều ngơ ngác, lắc đầu:
- Không.
- Anh Xi thấy thế nào?
- Tôi cũng không.
- Thế sao nhà tôi lại cưới cô đốc?
Mắt chị trợn, chị run bắn chân tay. Thằng Mão thấy động, thì cựa, rồi khóc. Chị bế nó. Nó vẫn khóc. Hẳn là yên trí thế nào đấy, chị nghiến răng đay nó:
- Khóc mẹ mày đấy à? Bố mày lấy vợ đương vui, mày không cười lên được à!
Chị cắp nó ở cạnh sườn, đăm đăm nhìn ra cửa. Cả cụ Điều lẫn anh Xi cũng nhìn. Chị nói tất cả những điều chị vừa nghĩ về chồng chị cho hai người nghe. Rồi chị đứng im, chờ.
Chừng hơn một giờ đồng hồ sau, bọn trẻ đứng lố nhố ở cửa, bỗng giãn ra hai bên. Chị biết là đám rước dâu bắt đầu.
Chị vội vàng bế thằng Mão, chạy xuống gác.
Cụ Điều kéo áo, giữ chị lại. Nhưng soạt một tiếng, mặc cho áo rách, chị cứ chạy.
Chị ra buồng đợi. Nhưng cửa khóa. Anh Xi nhất định không cho chị mượn chìa để mở. Chị đành chạy về cửa sau, ra phố Cầu Gỗ, sang phố Bờ Hồ.
Hai chiếc xe đầu đã đi qua đến tận nhà ga xe điện. Chị không được thấy những ai. Xe thứ ba, thứ tư, thứ năm. Toàn những người lạ. Đàn ông, đàn bà, ai cũng ăn mặc rất sang. Chị vén vạt sau của áo chị, gài cao lên cho khỏi lòng thòng xuống đất. Chị vừa đi vừa tất tả chạy. Hàng phố có người nhìn theo chị. Lúc chị đến trước cửa Phòng thuốc, thì xe thứ sáu bắt đầu chuyển bánh. Bốn người đương lên xe thứ bảy và thứ tám. Chồng chị với người phù rể đã đứng ở hè. Cô dâu và người phù dâu cũng đã ra khỏi cửa. Chị biết ai là cô dâu, vì ăn mặc khác cô phù dâu. Hai người đều áo gấm huyền, giày văn hài thêu, nhưng cô dâu chít khăn vành dây màu quan lục và gài ở ngực áo một bông hoa to bằng cái bát, tết bằng lụa màu đào. Chị chưa rõ mặt cô dâu, vì cô ta cầm mùi soa lau mắt, đứng quay lưng lại chị để nói gì với một bà già khăn nhiễu tam giang, áo nhung đen. Chắc bà này là mẹ. Trong ngày vu quy, lúc thiếu nữ từ biệt gia đình để rẽ sang đường mới; gánh vác nhiệm vụ mới, không ai không khỏi cảm động, nhớ nhung, tiếc cái đời con gái, gặp khó khăn đều nương vào mẹ cha.
Chị Thừa đứng đợi. Mắt chị đã hoa lên rồi. Tai chị đã ù lên rồi. Trẻ phố nhảy lên câng câng và trỏ vào chồng chị:
- Chú rể! Chú rể lẹm cằm, chúng mày ạ!
Và trỏ vào cô dâu:
- Cô dâu! Tây lai lang ben, anh em ơi! Bạo hơn cô dâu An-nam!
Chị Thừa lạnh toát người, run bắn lên. Không còn ngờ vực nữa! Chính là cô đốc! Chị bế cao thằng Mão bước ra tận mép hè.
Anh Thừa và người phù rể lên xe. Xe qua mặt chị. Chị trông rõ là chồng chị đương cười nói với bạn, và đến nhà, thì ngước nhìn lên gác. Chị muốn nhảy xổ ra, túm lấy tên phụ bạc, cắn, xé, đập, phá, cho tan tành. Nhưng chiếc song mã đã vụt qua.
Xe cô dâu bắt đầu đi. Chị đã thấy mặt kẻ thù và biết hắn là ai rồi.
Xe qua mặt chị. Chị trừng trừng mắt để nhìn cho rõ hơn. Cô đốc cũng trông thấy chị. Không hiểu muốn khiêu khích hay sao, hắn chằm chằm vào chị, rồi bĩu đôi môi đỏ chót, nghẹo cổ một cái.
Bỗng một tiếng thét như xé, chị Thừa ngã lăn ra hè. Thằng Mão vập đầu vào gạch xi-măng, lộn xuống rãnh, cũng khóc thét lên. Mặt chị xám ngoẹt. Chị nằm, bất tỉnh.
Lúc ấy, chiếc xe ngựa đã vụt qua. Cô phù dâu ngoái cổ nhìn lại. Nhưng cô dâu thản nhiên, hỏi:
- Nó ngất thật hay ngất kiểu cánh mình thế?