Đến mười hai giờ rưỡi đêm, Ma-ri mặc quàng xống áo, lấy năm đầu ngón tay chải mái tóc cho đỡ rối, rồi cắp ví vào nách. Hắn tủm tỉm nhìn anh Thừa.
- Mãn nguyện nhé!
Hắn chìa bàn tay để bắt tay. Anh Thừa lóng cóng buộc mãi dây giày không xong.
Vì lúc này, óc anh nghĩ lung lắm. Từ nãy đến giờ, trong khi ở buồng bên này im lặng, thì luôn luôn bên buồng số tám kẹt cửa, rồi đóng. Bây giờ anh đi với Ma-ri qua đấy, lỡ đúng vào lúc Múi mở cửa, bắt gặp hai người mặt mũi phờ phạc đi với nhau, thì anh biết ăn nói làm sao!
Thấy anh lúng túng mãi, Ma-ri có vẻ sốt ruột, hỏi:
- Anh cũng về à?
Anh Thừa gật đầu:
- Moa tiễn toa.
Bất đồ Ma-ri bĩu môi:
- Thôi, đừng giở thối ra nữa! Anh tưởng làm thế thì lừa nổi tôi là anh yêu tôi, anh nhớ tôi, lúc rời tôi thì bịn rịn không dứt chứ gì!
Hắn lắc đầu:
- Không! Anh yêu tôi thế nào được! Vả, tôi có cảm anh đâu? Tôi có nghĩ gì đến anh nữa đâu. Chẳng qua tôi vắng chồng, anh vắng vợ, thì qua một đêm với nhau cho đỡ buồn đấy thôi, chứ tình nghĩa quái gì!
Anh Thừa như bị giội gáo nước là lên đầu. Không còn giọng dịu dàng, âu yếm, nũng nịu nữa. Không còn tiếng moa, toa, An-be, Ma-ri đầy ân ái, hoặc kém hơn, tiếng mình, em nhưng cũng rất thân mật nữa.
Ma-ri cười lạnh lùng:
- Anh ngây thơ lắm! Anh tưởng tôi xin tha cho anh, tôi trả lại tiền anh là tôi thương anh, vì tôi mê anh phải không? Anh lầm quá! Nếu hôm nay tôi đã có người hẹn hò rồi, thì tôi kệ cho mật thám giải anh đi. Tôi đã trả anh bốn chục bạc. Việc đó, không phải vì tôi tốt với anh đâu. Tôi quỵt, anh cũng không làm gì nổi. Anh có vì không tiền mà chết đói, tôi cũng mặc xác. Lỗi đâu tại tôi? Nhưng tôi trả nợ anh, là tôi đã dùng tiền của anh, chứ không thiệt riêng của tôi một xu nào, để mua anh một cách chắc chắn, làm anh không thể gỡ thoát. Thật thế. Dù lúc ấy, anh nhận được tin bố anh sắp chết đến nơi, hãy hỏi anh có dám rời tôi mà về với bố anh không? Ấy thế đấy. Ở đời, có những việc thật giản dị nhưng lại hay làm người ta tưởng là khó hiểu, cứ phải mệt trí mà suy nghĩ. Thôi, anh ở lại, ngủ cho lại sức!
Ma-ri không cười, lại giơ tay:
- Nào, ô-rơ-voa[1].
Ma-ri lạnh nhạt, cầm lỏng lẻo tay anh, rồi buông ra, chứ không rung. Hắn cười khẩy:
- Còn lần nào nữa mà ô-rơ-voa!
Từ nãy anh Thừa như nghe những lời sỉ vả nhục nhã. Anh không có thì giờ nói xen vào một câu nào. Mặt anh cứ tái dần đi.
Ma-ri quay ngoắt ra cửa. Mở cánh, rồi đóng lại. Anh Thừa nhìn theo. Không thấy Ma-ri ngoảnh lại anh lần cuối cùng.
Anh thở dài, ngồi trên ghế gục xuống. Tâm hồn anh như bị đảo lộn. Bên buồng cạnh còn người mong anh từ chiều. Người ấy phó thác hạnh phúc cho anh. Thần trí người ấy chắc không còn ở trong đầu óc người ấy, mà đương lang thang lạc lõng trong khắp phố Hà Nội xa lạ, để mong tìm thấy anh. Nhưng thật là giản dị, như Ma-ri nói, anh ngồi ngay buồng bên này, cách người ấy có vài thước. Thế mà người ấy đương suy nghĩ mệt trí. Anh có nên đến với con người thật sự trông đợi anh, để qua nốt mấy giờ còn lại của đêm nay không? Người ấy gặp anh, sẽ hết lo lắng, nghi ngờ, khổ tủi. Một câu anh bịa ra lý do về muộn, sẽ lại làm cho người ấy vui vẻ và tin cậy anh như trước, óc anh cũng sẽ được thảnh thơi, không nặng trình trịch như bây giờ.
Cánh cửa buồng số tám lại kẹt mở, rồi đóng. Anh tưởng tượng được ra nét mặt của Múi lúc này.
Anh thở dài, uể oải, chống hai tay vào gối để đứng dậy. Anh thong thả ra cửa, nắm quả bàng. Rồi để nguyên tay như thế, không nhúc nhích.
Anh lại tính toán. Và anh chờ.
Anh chờ cho đến lúc cánh cửa buồng số tám kẹt mở và vừa đóng lại rồi, anh mới vặn quả bàng cửa buồng anh, rồi khẽ khép lại. Anh nín thở, kiễng chân đi thật mau qua, và xuống thang…
Anh Thừa về tuột nhà trọ Đông Phương. Anh dọn hết đồ đạc vào hòm. Anh giấu ông chủ quán chỗ ở mới. Anh khênh hòm ra hè, thuê xe, đến nhà anh Xi. Qua săm Đồng Lợi, anh đội mũ sụp xuống, rồi nghếch mắt lên nhìn buồng số tám. Anh thở dài. Rồi vắt chân chéo khoeo. Anh hãnh diện nhìn những người nằm ở hai bên vỉa hè. Anh mỉm cười. Có tiền có khác. Anh vừa qua những giờ phút mà không bao giờ anh dám tưởng là anh được hưởng. Bây giờ anh lại ngồi xe, bắt một người kéo.
Người này chỉ vì nghèo, nên quá nửa đêm rồi mà chưa được nghỉ ngơi. Anh muốn hỏi người ấy về đời sống. Nhưng anh không hỏi. Người sang trọng không ai chuyện trò với cu-li xe.
Đến nơi, anh bảo anh Xi:
- Từ nay, tớ ở chung với đằng ấy, nhưng đằng ấy chớ nói với ai là chúng mình ở với nhau. Đằng ấy cứ gọi đằng này là ông An-be. Lấy tên Tây có lợi. Người ngoài nghe, thì không biết tớ là An-nam. Vả lại có tên Tây, đằng này không bị ai để ý mà theo dõi.
Anh Xi đáp:
- Ở chung cũng được, nhưng sao đằng ấy phải giấu giếm? Việc này lăng nhăng thế nào ấy. Cứ nói cho thật, đằng này bàn cho. Hay là đằng ấy vừa bị bắt bạc mà trốn?
Anh Thừa gật đầu:
- Cũng tương tự như thế. Tớ trốn một người cho tớ một món tiền. Người ấy đương đợi tớ. Nhưng tớ không muốn gặp nữa. Vì dù có gặp cũng không bị đòi lại tiền nhưng không khác gì tớ tự đem nộp mình để vào ngồi tù chung thân.
Anh Xi lắc đầu:
- Bố ai hiểu được!
Từ hôm sau, anh Thừa nghỉ đi bán thuốc, cả tuần lễ, anh không dám thò mặt ra phố.
Được rỗi rãi, anh lo lắng đến tương lai.
Anh không muốn kiếm ăn theo lối nhờ giấy tờ của người bán rong thuốc, lấy hỏa hồng nữa. Anh có vốn rồi. Phải sinh nhai cho ra người có vốn.
Anh thuê một căn gác của một nhà khá rộng ở giữa phố Hàng Bông. Tầng dưới là cửa hàng tạp hóa của bà chủ.
Anh mướn thợ kẻ cái biển lớn, vừa chữ Pháp, vừa chữ quốc ngữ, dài suốt bề ngang nhà, treo tận lên cao:
CÔNG TY VÔ DANH TỔNG PHÁT HÀNH TOÀN ĐÔNG DƯƠNG THUỐC TRUNG NAM BẮC Chánh giám đốc: ALBERT THUA
Ở chân thang đặt cái bảng nhỏ:
Giờ tiếp khách: Sáng: Từ 12 đến 14 giờ Chiều: Từ 18 đến 21 giờ Chủ nhật và ngày lễ: nghỉ
Gác ngăn làm đôi. Nửa ngoài, ngay cầu thang lên, là chỗ làm việc. Có bộ xa lông tiếp khách và bàn giấy ông chủ. Trên mặt bàn, có lọ mực thủy tinh, có ống bút sứ, có bàn thấm mạ kền và có ngăn giấy gỗ sưa. Lại có cả mấy điện thoại sơn đen bóng.
Ngăn cách với nửa trong, là bức bình phong căng bằng vải xanh. Đứng ngoài, không trông thấy ở đấy có những gì. Chắc là kho thuốc của công ty.
Anh Thừa đã quen nhiều bạn có tiền, muốn sinh lợi, nhưng có lẽ vì công ty mới khai trương, anh chưa muốn gọi thêm cổ phần. Cho nên mới có hai cổ đông. Hai người này là anh và anh Xi. Anh Thừa là chánh giám đốc. Chức trách giám đốc làm việc giao dịch và làm như công ty to, có cả phó giám đốc. Anh Xi là người kéo xe nhà cho ông chánh giám đốc khi đi làm việc giao dịch.
Đã từ lâu, trong thời kỳ còn đến các hiệu lấy thuốc đi bán rong, anh Thừa đã nhận xét được vài điều. Một là trừ thuốc lậu là thứ nhiều nhà làm, còn những thuốc khác, như thuốc đau bụng, thuốc cam sài trẻ con, thuốc ngã nước, chẳng hạn, thì mỗi dược phòng chỉ chế một thứ chuyên môn của mình để bán thôi.
Hai là các chủ nhà thuốc ăn lãi nhiều quá. Mua một biếu một nghĩa là giá thật chỉ đáng bằng nửa giá đề ở nhãn. Để một đồng, bán năm hào. Bán năm hào để còn tính vào đấy hỏa hồng mười phần trăm cho người buôn quen, buôn nhiều và trả tiền ngay. Thế thì giá thành của thuốc là bao nhiêu, để ông chủ còn phải ăn lãi? Mà lãi này, hẳn phải là phần to lớn nhất. Ba là phần lớn thuốc không hay, chỉ quảng cáo là hay. Người dùng thuốc lâu mà chưa khỏi bệnh, thì được giảng là chưa đủ liều, phải mua thêm, chữa dở dang thì phí tiền. Những người hay dùng, hay thử thuốc, thường là những người giàu. Họ phí chút ít, mua phải thuốc dở cũng không xót. Bốn là, điều này anh chưa chắc lắm, có vài thứ là thuốc tây, chỉ màu và mùi là khác.
Cho nên phần lớn các dược phòng đều bị tai tiếng là lừa bịp, làm xấu lây cả giới dao cầu thuyền tán.
Công ty vô danh tổng phát hành toàn Đông Dương thuốc Trung Nam Bắc tự đặt cho mình cái nhiệm vụ lừa bịp thay cho các dược phòng. Nhiệm vụ này, trong quảng cáo, anh Thừa gọi là nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang. Hai tiếng lừa bịp được anh viết bằng hai tiếng giúp đỡ. “Bởi vì, theo quảng cáo, bản công ty phát hành toàn những thuốc nổi tiếng của các dược phòng được tín nhiệm nhất Đông Dương. Bản công ty phụng sự lợi ích nhanh chóng cho bệnh nhân. Người Bắc Kỳ không phải chờ mất lâu thì giờ gửi mua tận Trung hoặc Nam Kỳ mới có thuốc trứ danh ở trong ấy. Người Nam, Trung Kỳ cũng không phải gửi mua tận ngoài Bắc mới có được thuốc hay. Vì bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào, bản công ty cũng đều đặt chi nhánh phát hành”. Cuối cùng, bản quảng cáo kêu gọi: “Xin quốc dân đồng bào các giới ủng hộ cho bản công ty!”.
Ông chánh giám đốc công ty không ăn lương, ông là người bỏ cả vốn, cho nên có quyền ăn cả lãi. Ông định lương cho anh Xi mỗi tháng mười hai đồng, nhưng phát có mười đồng. Muốn tách bạch món tiền này, anh Thừa đã tính với anh Xi như sau:
- Cơm ăn của đàng ấy thì vợ thằng Phi-lô-mát phải nuôi. Vì đằng ấy kéo cho nó. Đằng ấy cho tớ thuê xe, mỗi tháng, tớ đưa tám đồng, và hai đồng bạc thuê kéo, vị chi là mười đồng. Mười đồng một tháng, là hơn ba hào một ngày. Tớ đi xe hàng không mất ngần ấy đâu, nhưng vì xe nhà, và đằng ấy là chỗ anh em, cho nên tớ không kỳ quản. Còn hai đồng là công đằng ấy giúp thêm việc cho công ty. Nhưng đằng ấy không lấy hai đồng này ngay. Đằng ấy để góp dần từng tháng vào công ty, làm cổ phần, cuối năm chia lãi. Thế là đằng ấy yên trí hơn tớ.
Anh Xi nghe bùi tai. Nhiều lần, mắt nhìn thấy cách làm ăn của anh Thừa, lại chính tay mình góp sức với anh ta, anh Xi biết rồi công ty này sẽ phát đạt to, lãi trông thấy. Anh cho là làm ăn không chính đáng. Anh bảo anh Thừa rút cổ phần của anh ra. Nhưng anh Thừa không nghe. Anh Thừa khuyên anh Xi là ở đời, có dịp được mở mày mở mặt thì không nên bỏ lỡ. Phải biết căm thù cái nghèo, nó làm người ta hèn. Anh nhắc lại cho anh Xi nhớ những lần ở làng, hai người bị khổ nhục mà vẫn phải chịu. Anh nói rằng phải trả thù đời. Phải có tiền. Cách nào làm được tiền cũng cứ mạnh dạn mà xông vào. Anh Xi yên lặng, nhưng sợ quá. Bởi thế, nhiều lần không muốn làm với anh Thừa; nhưng nghĩ đến món tiền bỏ vào công ty, anh thấy như bị ràng buộc với bạn.
Từ hôm công ty khai trương, mỗi ngày anh Xi phải kéo ông chánh giám đốc An-be Tuy-a có một buổi sáng, không cần chạy nhanh. Anh Thừa cũng nể anh, nên hay đi bộ. Anh chỉ phải dắt xe theo. Và nếu anh Thừa vào nhà nào, anh đỗ xe ở hè để chờ.
Anh Xi thấy anh Thừa lúc nào cũng vui vẻ. Anh Thừa không phân biệt trên dưới như cái Ĩnh con. Hai người vẫn ở chung với nhau một nhà, ăn chung với nhau một mâm, ngủ chung với nhau một giường, nói với nhau, vẫn đàng này đàng ấy, mình mình tớ tớ. Thỉnh thoảng anh Thừa lại rủ anh Xi ăn cơm hiệu. Một lần, anh Thừa cho anh mượn quần áo. Anh không ngờ là anh Thừa dắt anh đi hát ở dưới ấp Thái Hà. Bị cô đầu trêu, anh sợ quá, cho nên lừa lúc không ai để ý, anh thổi phụt tắt đèn, rồi chuồn về. Anh sợ anh Thừa đam mê, mới khuyên bạn cho vợ ra Hà Nội. Nhưng anh Thừa bảo:
- Chả bao giờ tớ cho vợ tớ ra để mất tự do. Mấy lị ông chánh giám đốc thế này, mà bà chánh giám đốc như thế, thì mất mẹ uy tín!
Ông chánh giám đốc ăn mặc ra phết một tay kinh doanh kếch xù thật. Lúc nào cũng chỉnh tề, có thắt ca-vát cẩn thận. Không bao giờ bỏ sơ-mi trần, dù là bằng lụa. Quần áo ngoài là hàng mùa thu, một bộ màu xám sắt, một bộ màu tro nhạt. Ít khi ông vận đồ đũi, dù là hàng đũi thật chứ không phải đũi giả. Bất cứ đi đâu, ông cũng xách một chiếc cặp da khoa… bóng nhoáng, bốn ngăn phồng những giấy má. Trong một ngăn thế nào cũng có một tập giấy viết thư và phong bì. Cả hai đều in cái ảnh trụ sở công ty đồ sộ, hai tầng, và ở đầu góc, những chữ đề trên biển son. Có hai loại giấy viết thư và phong bì. Một loại chỉ in nguyên những chữ không biển, để gửi quanh Hà Nội, và các tỉnh gần. Một loại, ngoài những dòng ấy, có in thêm số điện thoại, để gửi đi các tỉnh xa ở Bắc Kỳ và đi Trung, Nam Kỳ, Ai-lao, Cao-miên. Không phải để các nơi ấy gọi dây nói đến công ty cho chóng. Nhưng để các nơi ấy sợ phí tổn nhiều, không dám gọi. Vì thế, cái máy điện thoại trên bàn giấy ông chánh giám đốc không có dây truyền ra ngoài đường, cố nhiên, con số điện thoại ghi trong giấy viết thư là con số bịa.
Buổi đầu, anh Thừa bỏ vốn ra buôn thuốc cao đơn hoàn tán chuyên môn của những dược phòng được khách, mà anh đã biết. Vì quen và trả tiền ngay, anh được bớt từ ba mươi nhăm đến bốn mươi phần trăm theo nửa giá mua một biếu một. Anh thuê các bạn đồng nghiệp cũ của anh đem ra bán rong, nhân tiện phát quảng cáo cổ động cho công ty. Bản thân anh lại đi xe nhà, xách cặp phồng, đưa mẫu hàng đến chào tại những nhà không biết mặt anh. Vì đã xé nhãn hiệu bào chế cũ, lại bán rẻ, cho nên nhiều dược phòng mua buôn của anh để lấy thêm mặt hàng. Những nhà này còn thấy cái lợi nữa là được anh Thừa cho phép để tên hiệu của họ làm nhãn sản xuất vào gói thuốc, để bán cất hoặc bán lẻ. Như vậy, họ không phải làm, mà được tiếng là có nhiều thuốc gia truyền, quảng cáo thêm tiếng tốt cho họ.
Như anh Thừa đã mặc cả, anh Xi giúp thêm việc cho công ty, là ngồi xé vứt nhãn hiệu cũ ở gói thuốc cất về, và dán thay bằng nhãn hiệu mới, đề tên công ty.
Một dạo, ở Hà Nội, nhà Địa cầu trước chỉ làm thuốc bổ thận, sau có nhãn sản xuất cả trên gói thuốc lậu, thuốc điều kinh, thuốc ho lao. Cũng như Nguyễn Đình Xung dược phòng chuyên chữa lậu, cũng gửi cả đến đại lý các tỉnh nhiều thuốc đề tên phòng ấy, như thuốc bổ thận, thuốc cai nha phiến, thuốc phòng tích, thuốc đau dạ dày.
Dần dần, vì là khách tiêu thụ sộp của những hiệu thuốc lớn, kể cả ba hiệu thuốc tây ở phố Tràng Tiền, anh Thừa buôn không phải trả tiền ngay. Họ tín nhiệm ông Albert Thưa, một nhà tư bản có Pháp tịch, lúc nào cũng bệ vệ, đàng hoàng, đứng đắn, nhã nhặn, và có óc bình đẳng. Nhiều hiệu được đặt món hàng lớn quá phải làm vội vàng mới kịp.
Không cần bỏ vốn buôn thuốc ở Bắc kỳ nữa, anh Thừa dồn nó vào việc lấy hàng ở trong Trung và Nam.
Ngoài bệnh ở cơ thể, người giàu Hà Nội còn thêm bệnh ở tinh thần, là hay tham thanh chuộng lạ, thích dùng thử những thuốc ở xa. Cái lối tin bóng tin gió Thích Ca ngoài đường là thiêng này, khuyến khích công ty buôn nhiều thuốc miền trong ra Bắc. Ông An-be Tuy-a trở thành khách quen và khách bở của những tiệm thuốc ở Huế, ở Chợ Lớn và Sài Gòn. Dây thép đánh vào lấy bao nhiêu là có ngay bấy nhiêu. Công ty buôn bằng cách lĩnh hóa giao ngân, nhưng nhiều lần gửi ngay ngân phiếu kèm với thu mua hàng, chẳng bớt một đồng nào.
* * *
Vì làm ăn lối kẻ cả, để cho người khác tin mình trước cho nên công ty được lắm người tin. Nhiều nhà thuốc miền trong, muốn cạnh tranh với nhau, viết thư xin ông An-be cứ việc lấy hàng, với hỏa hồng nhiều hơn trước. Nếu chưa có thời giờ thanh toán ngay, thì cứ cuối tháng, hoặc sau vài chuyến nhận hàng, công ty hãy gửi ngân phiếu một thể cũng được.
Những thuốc Trung Nam lấy về, anh Xi cũng bóc nhãn hiệu cũ để dán nhãn hiệu của công ty. Để rồi đến dược phòng sau, nhãn hiệu này vẫn được giữ nguyên, hay được thay một lượt nữa, là tùy người buôn cuối cùng.
Như vậy là công ty có gần hai chục thứ thuốc chuyên môn để đem bán buôn. Nhưng xưởng sản xuất chỉ có tí huỷn ở nửa cái gác. Làm việc pha chế một anh Xi. Đồ dùng pha chế là một niêu hồ tẻ và ít mảnh giấy nhỏ. Nhưng ở đợt giấy viết thư mới in, anh Thừa thêm một dòng nữa, dưới dòng đề địa chỉ cửa hàng. Đó là địa chỉ xưởng chế thuốc và kho chứa thuốc, viết lăng nhăng là: Trại Tây Hồ, Bưởi. Cũng có số điện thoại như số điện thoại trên bàn giấy ông chánh giám đốc.
Sau vài tháng, khi được tín nhiệm hẳn hoi đối với rất nhiều bạn đồng nghiệp trong Trung, Nam, anh Thừa mới thực hiện ý định. Họ ở xa, không thể kiểm soát, thì bây giờ anh có thể bớt của họ mỗi tháng một số tiền. Ví dụ, bán hết một chuyến hàng, đáng lẽ anh phải trả cả một trăm bạc, thì anh chỉ gửi tám chục thôi, nói rằng còn chỗ ứ đọng, khi tiêu thụ hết sẽ thanh toán sau. Nhưng anh vẫn làm ra dáng sòng phẳng, đòi gửi trả ngay món thuốc còn lại, cố nhiên cước phí về phần nhà buôn phải chịu, chứ không phải công ty.
Còn ai nỡ lòng không tin người khách hàng xưa nay vẫn buôn bán đàng hoàng, từ trước đến giờ, tháng nào cũng tiêu thụ hết hàng, tháng nào cũng thanh toán đủ tiền! Người ấy là người Tây, đứng đầu một công ty tổng phát hành thuốc toàn Đông Dương tại Hà Nội. Có cửa hàng đồ sộ, có xưởng chế tạo rộng lớn, nơi nào cũng có đặt tê-lê-phôn! Họ đều trả lời xin ông chánh giám đốc cứ giữ lại chỗ thuốc còn lại để bán lẻ, hoặc để tính gộp với chuyến hàng sau. Như vậy, vừa giữ vững lòng tin nhau, vừa tránh khỏi cước phí vô ích.
Thế là anh Thừa vẫn được tín nhiệm, mà còn được tín nhiệm hơn trước.
Nhưng anh Thừa không ăn bớt trôi được mãi mãi tiền của những nhà thuốc ở xa vẫn tin cậy anh. Nếu nghề này làm anh giàu ùn ùn, thì anh còn theo đuổi nó, việc gì phải thay đổi xoành xoạch, làm ông lang, làm ông nhà báo, làm ông chủ đồn điền vv… Khốn nỗi, việc đời nó không xuôi chiều mãi như nước chảy. Nó gặp vật chướng ngại cản dòng. Cho nên sông mới uốn khúc và thay dòng luôn luôn. Đời anh Thừa cũng uốn khúc và thay dòng như rứa.
Số là vì công ty đặt hàng quá, mà anh Xi một mình phải luôn thức quá khuya, nên việc làm kém cẩn thận. Có nhiều gói thuốc, anh không xé hết nhãn hiệu cũ. Có nhiều gói thuốc này, anh dán tên thuốc nọ. Vì vậy, tháng trước, tòa án Hà Nội nhận được hai lá đơn của người uống lầm thuốc, kiện cả ba nhà có tên trong ba nhãn hiệu dán đè lên nhau trên một gói thuốc. Một nguyên đơn là người đau đầu kinh niên uống phải thuốc đau lậu kinh niên. Hẳn anh Xi đã trông chữ lậu ra chữ đầu! Tòa không biết truy tố ai là thủ phạm, bởi vì ai cũng nhận là thủ phạm, để nhận thuốc là của nhà mình làm ra. Họ chịu phạt tiền, còn hơn chịu mất tiếng là buôn chằng thuốc.
Tháng này, mới từ ngày 1 đến ngày 15, số đơn kiện đã tăng lên đến bốn lá. Một lá kiện cả ba nhà như những đơn tháng trước. Hai lá kiện đích danh công ty vô danh của ông An-be Tuy-a. Một lá ác hơn, kiện ông An-be ăn cắp lối pha chế của nhà thuốc mình.
Kế đó, tòa nhận vô số đơn khác của các nhà thuốc kiện lẫn nhau và buôn bán bịp bợm, lừa đảo.
Thấy những vụ kiện như loại trên, một ngày một nhiều, tòa phải nhờ Sở mật thám mở cuộc điều tra.
May cho anh Thừa, là anh đã quen những tờ báo đăng quảng cáo cho công ty, lại đã nhiều lần mời mấy tay phóng viên đi ăn, đi hát, và biếu không thuốc bổ thận, thuốc lậu cho họ, nên họ viết bài bênh anh. Anh lại chạy tên mật thám Pha-vrơ và nhờ hai trạng sư Pi-mắc và Rô-nét cãi hộ, nên có tin là tòa sẽ chỉ bắt công ty đóng cửa thôi.
Bị mất mối lợi gần đến bạc nghìn rồi, anh Thừa tiếc lắm. Anh định thế nào cũng chống án lên tòa trên. Nhưng làm sao tìm được người đưa vào lọt chưởng lý Mo-rô. Anh biết Mo-rô uy quyền, và nhất là không từ chối đồng tiền. Hắn mà nhận giúp, thì tội giết người cũng được trắng án như bỡn. Anh hỏi thăm, biết Mo-rô hay hút thuốc phiện ở một tiệm lậu của một người Việt Nam vào Pháp tịch, tên là Ăng-toan. Làm sao gặp được vợ Ăng-toan là chủ. Vì mụ này nhân tình với Mo-rô.
Buổi tối hôm ấy, anh đội mũ cói Pa-na-ma, mặc quần lĩnh thâm, áo sơ-mi lụa, dận giày cườm, cầm can bịt bạc, đi bộ ra Bờ Hồ. Đã lâu lắm anh mới được lang thang như thế này. Nhưng phiền quá. Đầu óc rối như bát canh hẹ, thế mà luôn luôn tai anh cứ phải nghe những lời mời của những người phu xe ế khách, hỏi anh có đi giờ không, hoặc những tiếng thì thào của tụi ma-cô, giới thiệu món sộp ở nhà quê mới ra. Song, tuy anh khó chịu, mà anh cũng tự hào. Anh tự hào về cách ăn mặc ra lối công tử ăn chơi của anh. Ít lâu nay, vì có tiền, anh đã có nhiều bạn vào hạng sang trọng. Đồng tiền đã nâng anh lên địa vị làm ông. Anh đã quen những ông chủ hiệu, chủ thầu, những ông đốc, ông tham, là những người giàu có. Anh lại cũng đánh bạn cả với mấy tay viết báo, tuy kiết xác, nhưng hễ có xu, là ăn chơi nổ trời. Họ rủ anh đi hát. Anh cũng thết lại họ những chầu không kém đàng hoàng. Anh đã nhân tình với cô Nhạn, cô Trà ở dưới xóm cô, cứ chập tối đến, thì phấn son vào, mặc áo xanh, áo đỏ, ngồi ở hè, chờ khách. Thấy bóng anh đến, là các cô mừng rỡ như gặp thần tài. Cô thì làm ra dáng say mê anh, thút thít bên tai anh, trách móc anh hững hờ. Cô thì làm ra bộ ghen tuông, đay nghiến anh là có mới nới cũ, rồi ỏn thót rằng, nếu anh còn yêu, thì cho chiếc khăn xa-tanh, hoặc chiếc nhẫn vàng, sống cạnh các nàng tiên, anh thường so sánh với vợ anh, và với cái Múi, cái Châu trên Đồng Đăng. Anh thấy những người này thô kệch. Họ chỉ xứng đáng với anh phu kíp, với thằng cu-li cút-kít. Còn sánh vai với một ông, một ông chánh giám đốc một công ty tổng phát hành thuốc trong một Đông Dương? Họ chỉ đáng xách dép cho những ngôi sao băng này thôi! Anh lại nực cười về cái tiếng chơi trèo mà ngày trước, ở trên Đồng Đăng, anh vẫn bị mỉa mai. Bây giờ mà nếu những bọn quản, bọn đội, bọn cai lính tập, ngay cả cái thầy ký dây thép, làm lâu năm, được bổ làm chức ông chủ nữa, bây giờ mà những người hạng này mon men làm quen anh, thì chính họ bị mỉa mai là chơi trèo. Hiện nay, vô khối người muốn chơi trèo với anh, để được anh cho đi ăn, đi hát.
Đương vẩn vơ nhớ lại quãng đời cũ, thì anh đến dãy hàng kem.
- Mời ông vào xơi nước!
- Mời anh vào đây, anh ơi!
Đối với bọn phu xe, đối với bọn ma-cô họ mời anh, anh có thể không thèm trả lời, cứ yên lặng mà đi thẳng. Nhưng đây là những tiếng oanh, những giọng đon đả, cho nên anh không thể lờ như một người có tính khinh người. Anh bắt buộc phải nhìn họ để trả lời từ chối họ. Nhưng anh không khỏi không bực, vì bị đứt mối suy nghĩ.
Chợt cái quán cuối cùng làm anh chú ý. Bên cạnh ngọn đèn đất, anh trông cái mặt thấp thoáng, hình như là Ma-ri. Anh cố ý nhìn. Thì ra Ma-ri thật. Ma-ri mặc ta, lối Huế, quần trắng, áo lam, rẽ đường ngôi lệch. Thấy con vợ Tây bỏ cái váy đầm gần quét đất, để theo cái mốt rất mới của mấy cô gái Hà Nội thích diện này, anh Thừa đoán ngay rằng chắc Ma-ri đã bỏ thằng Tu-nô rồi.
Thoạt tiên anh định giả vờ quay sang phía bên kia để đi thật mau. Anh sực nhớ đến những lời cứng cỏi cuối cùng ở săm Đồng Lợi, của cái con bé nó đối với anh chẳng có cảm tình gì. Gần một năm rồi đã chắc gì cái người ưa chuộng của lạ nó dùng anh chốc lát trong khi chồng nó đi vắng, đã nhớ anh là ai. Nhưng anh chợt nghĩ lại. Biết đâu Ma-ri lại chẳng quen những người cùng nghề, là vợ Ăng-toan, hoặc là một người khác nào, có thế lực, có thể giúp anh được.
- Mời anh vào xơi kem ở hàng em.
Nghe hai tiếng “anh và em” quen thuộc cũ, anh Thừa như bị một sức hút. Anh vào hàng của Ma-ri, lẳng lặng đến một bàn xa, bày cạnh gốc cây đa, lấp lánh ánh sáng các đèn. Chỗ này vắng, một bàn nữa có khách, nhưng cách đấy đến năm thước. Một người ngồi một mình đương ngắm nước hồ. Trên bàn, chưa bày một thứ ăn uống nào.
Anh Thừa ngắm Ma-ri. Có vẻ trẻ hơn trước. Nhưng gầy một chút. Anh định hỏi thăm Ma-ri về chồng con, về công việc làm ăn. Còn anh, anh sẽ hãnh diện khoe, làm cho Ma-ri phải ngạc nhiên vì thấy anh giàu, tên tuổi An-be Tuy-a được khắp Trung Nam Bắc biết.
Ma-ri nhanh nhẹn đi đến phía gốc cây. Vạt áo mỏng bay bay trước gió. Ống quần vòi voi nhún nhảy trên đôi guốc phi mã gót cao.
Ma-ri đến bàn kia trước. Anh Thừa vờ quay đi, như không nhìn, không nghe. Bỗng anh thấy tiếng rúc rích cười khẽ:
- Khỉ! Có người kia kìa!
Anh liếc mắt nhìn. Ma-ri đứng sát vào người khách, vừa cười vừa phải đánh đét vào tay người ấy.
Anh hiểu rồi. Ít lâu nay, anh chỉ xuống xóm, chưa bao giờ hưởng cái phong vị này của việc ăn kem. Có cô hàng kem không chỉ bán kem, mà kiêm cả nghề bán mình. Muốn cạnh tranh với đồng nghiệp, trong lúc bán hang, đứng cạnh khách, nhiều cô sẵn sàng để cho tay khách được tự do du lịch vào thân thể mình. Hàng kem này được mệnh danh là kem sờ.
Ma-ri chạy đi lấy kem cho người khách, rồi đến bàn anh Thừa. Anh tủm tỉm, giơ tay ra bắt, nhưng cố lấy giọng khinh khỉnh:
- Ma-ri!
Ma-ri nhìn, bỗng rú lên như mừng rỡ:
- Anh Thừa!
Rồi vừa cười sằng sặc, vừa hỏi lau láu:
- Lâu nay anh đi chết ở đâu mà em không gặp mặt thế, hở! Hở! Hở! Hở!
Hắn đánh nhịp những tiếng “hở” bằng những cái phát đen đét vào vai anh.
Lại cử chỉ thân mật, giọng âu yếm và tiếng xưng hô dịu dàng. Anh Thừa như vụt nhớ lại cái cảnh đêm trước. Anh cười duyên dáng, nhắc nhở việc cũ:
- An-be chứ! Quên rồi à?
Ma-ri đáp:
- Quên sao được! Ừ, thì An-be!
Anh Thừa sung sướng, nói thật thong thả cho Ma-ri nghe rõ từng tiếng:
- Để kỷ niệm lần ấy, từ đó, anh lấy tên là An-be.
Ma-ri khanh khách cười:
- Hân hạnh! Thế nào, lâu nay làm gì? Có khá không?
Rồi the thé giọng trách móc:
- Kỷ niệm gì mà từ hôm ấy biệt tăm, chả đoái hoài đến người ta nữa!
- Tại em nói thế.
Ma-ri ngớ mặt:
- Em nói gì nhỉ?
Nhưng hắn không chờ anh Thừa trả lời:
- Dù em nói thế nào, cũng mặc em, còn việc anh, anh cứ làm chứ!
Anh Thừa cau mặt nhìn Ma-ri, lắc đầu:
- Thật là khó hiểu.
Ma-ri tủm tỉm, nhắc lại câu vẫn quen nói:
- Giản dị lắm. Có gì là khó hiểu?
Anh Thừa giơ tay mời:
- Ngồi xuống đây, phải nói lâu kia. Chính anh cũng muốn hỏi thăm về em nhiều.
Ma-ri vén vạt áo sau, toan ngồi, bỗng đứng dậy:
- Khoan. Toa uống gì? Ăn gì?
- Có gì, cho cái ấy.
- Rum nhé. Moa cũng uống với toa một cốc. Cố nhân lại gặp cố nhân!
Nói đoạn, Ma-ri đến bàn hàng, lấy khăn rộng rải trùm lên trên, vặn tắt ngọn đèn đất, rồi móc ở gậm, lấy ra hai cái cốc, một chai rượu uống dở, và một đĩa bánh ngọt.
Ma-ri đặt các thứ lên bàn anh Thừa, nói:
- Thôi, nghỉ bán. Cũng chẳng còn khách đâu.
Ma-ri kể cho anh nghe việc bỏ Tu-nô, và việc xin được môn bài bán kem từ đầu mùa hè.
Người khách ngồi gần muốn chừng không còn hy vọng gì, đến trả tiền Ma-ri. Ma-ri lễ phép nói:
- Xin lỗi ông nhé.
Thấy người ấy dùng dằng chưa đi, Ma-ri đuổi khéo:
- Thưa ông đã cho đủ tiền rồi ạ.
Người khách có vẻ lúng túng, bước đi một bước, rồi quay lại. Anh ta móc túi lấy một cuộn chừng năm, sáu quyển sách mỏng, rút ra một quyển, vặn bút máy, cúi xuống bàn, lật tờ bìa, ngoay ngoáy viết vào trang sau, và loằng ngoằng ký tên. Rồi bằng hai tay, anh ta đưa sách cho Ma-ri:
- Kính tặng quý nương.
Anh Thừa ngắm từng ly từng tí cái người cao lêu đêu, gầy khẳng khiu, đen thui thủi, làm anh mất thì giờ này. Anh có vẻ sốt ruột lắm.
Ma-ri nhận sách:
- Cám ơn.
Người ấy cúi chào Ma-ri rồi đi, Ma-ri nhìn theo, nói thầm với anh Thừa:
- Văn sĩ đấy nhé. Hoài Tân Tứ. Làm thơ hay đáo để.
Thấy anh Thừa không để ý đến việc không dính dáng gì đến anh, Ma-ri tiếp:
- Moa đã nộp đơn xin làm y tá ở nhà thương Đồn Thủy. Chỉ nay mai là được gọi.
- Phải rồi, đầm thì chữa cho Tây. Nhưng đầu đuôi làm sao toa lại là y tá?
Ma-ri nghiêm trang, giảng:
- Vì em biết tiêm. Thằng Tu-nô bắt em tiêm, rồi em tiêm thạo. Nhân thế, em bảo nó cho em đi học việc ở nhà thương Phủ Doãn. Lúc nó bỏ em, em xin nó cái giấy chứng thực là em làm y tá ở nhà ga.
Hai người cùng phá lên mà cười. Ma-ri hỏi:
- Bây giờ đến lượt anh kể chuyện anh.
Anh Thừa nói lại công việc của anh. Anh không giấu những mánh khóe. Cuối cùng, anh than thở việc công ty sắp bị đóng cửa.
- Toa có cách gì cứu vãn được tình thế này không? Nếu toa chạy được cho công ty vẫn buôn bán như thường, thì moa cũng tính công của toa như cổ phần đóng vào với công ty để chia lãi.
Ma-ri nghe xong, đáp:
- Thế mà ngày nọ, anh bảo với em là anh làm thuốc! Thôi, nhưng quan hệ gì cái ấy? Đàn ông khai nghề nghiệp với đàn bà, cũng như đàn bà khai tuổi với đàn ông, đều được miễn thật thà. Em khen anh tiến bộ trông thấy, khá thạo về mặt làm tiền! Nào!
Vừa nói, Ma-ri vừa rót cho đầy hai cốc, rồi chạm cốc với anh Thừa:
- Mừng ông chánh giám đốc An-be Tuy-a của công ty!
Uống xong hụm rượu, Ma-ri đặt mạnh cốc xuống bàn nói:
- Nhưng em quái lạ về anh! Anh có óc xoay xỏa, sao anh còn sợ công ty bị đóng cửa? Như em nghĩ, anh cứ mặc cho công ty đóng cửa, bởi vì một khi nó tai tiếng, một khi nó mất tín nhiệm, thì khó lòng nó phát đạt như cũ. Cái xe bị lăn xuống dốc, thế mình không giữ nổi, thì đừng giữ. Đồ đạc sẽ theo xe xuống, đổ vỡ nát hết. Có khi còn kéo cả mình ngã theo. Chi bằng bây giờ nhân lúc xe chưa lao mạnh, anh dỡ hết đồ đạc ra để ở lại với anh, mặc cho xác xe theo đà của nó. Ở xã hội này đất hoạt động của bọn mình mỗi ngày một rộng. Thiếu gì nghề kiếm ăn được? Anh có đọc báo không? Anh Thu An là ở báo Trung Bắc, bài của anh ta viết nhạt quá, chẳng ai buồn đọc. Bây giờ anh ta lấy tên là Cô Tô. Cái nhà thơ ban nãy, biệt hiệu trước là Tiểu Lãng, ra cuốn thơ Tình muôn thuở, chẳng ma nào mua, bây giờ tuy[2] viết tiểu thuyết, ký tên là Hoài Tân Tử. Nào ai biết Thu An với Cô Tô là một và Tiểu Lãng với Hoài Tân Tử cũng là một?
Anh Thừa được nghe bài học khôn. Anh lừ đừ con mắt, gật gật khẽ:
- Em nói có lý.
Ma-ri cao hứng:
- Em biết vậy, vì mấy anh văn sĩ ấy, em quen thân, vả lại, mỗi bận họ viết chỗ nào lúng túng, họ thường đọc cho em nghe, để hỏi em ý kiến.
Anh Thừa vẫn im lặng. Bỗng Ma-ri phát đánh đét vào đùi mình, như chợt nghĩ ra một điều hay:
- Anh ạ, em hiến anh một kế này nhé! Anh nhân dịp công ty chưa bị đóng cửa mà vét lấy một món.
Anh Thừa trố mắt nhìn. Ma-ri bàn:
- Thế này nhé. Bây giờ tòa chưa xử, người ngoài chưa rõ trắng đen ra sao. Thì ngay từ ngày mai, anh hãy ách việc trả tiền nợ các nhà thuốc lại. Không những vậy, anh còn buôn thêm thật nhiều nữa vào, rồi bán ngay để lấy tiền ngay. Đến ngày công ty đóng cửa, anh quỵt ráo, mà cũng chả phải trốn đi. Đố ai biết đứa nào tên là An-be Tuy-a mà đòi nợ, mà kiện nợ đấy! Có phải lúc ấy, túi anh bẫm thêm không nào!
Anh Thừa toát mồ hôi trán:
- Hay! Hay quá! Nào! Cạn cốc! Moa mừng toa!
Ma-ri nghe thấy tiếng khen hay, thì nhớ lại cái đêm trong săm Đồng Lợi. Ma-ri dùng những tiếng cũ để khuấy cho vui câu chuyện:
- Thế là anh không anh hùng bằng đàn bà nhé!
Anh Thừa cúi rạp đầu:
- Anh phục thuyền quyên của anh.
Hai người giơ bắt tay nhau.
Một lát, Ma-ri hỏi:
- Cái thuyền của toa đâu?
- Ở nhà quê. Anh không cho ra Hà Nội. Anh gửi tiền về nuôi hai mẹ con. Thỉnh thoảng anh về thăm. Nhưng từ ngày đê Gia Lâm vỡ, làng anh cũng bị lụt. Anh chẳng được tin tức chúng nó sống chết thế nào. Thôi thế là may, nếu đường sá không mắc nghẽn, mẹ con nó bồng bế nhau ra đây, thì cái ngữ hãm tài này, nếu anh để cho khách hàng của anh trông thấy, tất công ty vỡ từ lâu rồi!
- Nói ngắn lại là toa vẫn được tự do, hả? Thì chốc nữa, toa theo moa về nhà. Đến cho biết chỗ moa ở.
- Được. Vả moa cũng mong được gặp toa luôn. Nhưng moa hãy hỏi, toa ở với chồng toa chứ?
Ma-ri lắc đầu:
- Không, vẫn độc thân. Thủ tiết. Bây giờ moa tu. Gái tơ cần kén chồng.
Nói đoạn, Ma-ri đứng dậy, dọn hàng vào chiếc xe nôi. Anh Thừa giúp Ma-ri, xếp ngược các ghế đẩu đặt trên mặt bàn.
Độ mười phút, việc xong, hai người cùng đẩy xe, đi song song thong thả ở sau.
Gió hiu hiu. Mặt trăng lên tới đỉnh đầu, rắc mảnh vàng trên mặt nước hơi gợn sóng. Tà áo Ma-ri phần phật dính vào ống quần anh Thừa. Ma-ri thở dài:
- Tiếc rằng cái xe nôi chỉ chở chai cốc!
Anh Thừa tiếp:
- Và chúng nu không là…[3]
Ma-ri vội vàng xua tay ngăn:
- Không cần nói đến nơi! Hiểu ý là đủ rồi.
Anh Thừa cười:
- Toa là bạn của văn sĩ có khác!
- Những lúc nào lãng mạn thì ra lãng mạn, mà lúc nào làm ăn thì ra làm ăn. Nhớ lời anh nói ngày nọ, em về, em suy nghĩ mãi, em mới nhất quyết bỏ thằng Tu-nô, đi lập thân lấy. Sống không nhờ vả người, có khỏi khúm núm thật, anh ạ.
Im một tý, Ma-ri tiếp:
- Cho nên, nếu em có bằng làm thuốc, lại có óc kinh doanh như anh, em chả chịu bán thuốc, vẫn phải sống dựa vào người. Chưa khỏi khúm núm.
Rồi bỗng Ma-ri cười sằng sặc, hỏi:
- Hay anh không biết làm thuốc?
Anh Thừa thấy Ma-ri đùa bằng giọng chế nhạo, thì cười khẩy và nghiêm trang đáp:
- Anh không biết làm thuốc, lại dám bán thuốc? Chỉ tại ngày ấy anh không có tiền thuê nhà mở phòng thăm bệnh, vả lại, bằng thuốc của anh là do anh du học bên Tàu, được chính phủ Dân quốc cấp phát, thì biết bệnh nhân người mình có tin giá trị của nó hay không. Còn như về nghề làm thuốc, nếu mắt em chưa trông thấy anh chữa cho thằng Tu-nô, thì anh cũng có thể tuyên bố rằng anh khinh đứt mấy ông đốc-tờ Tây, mấy ông thầy lang Tàu ở Hà Nội này.
Ma-ri gật đầu:
- Được đấy.
Anh Thừa cau mặt:
- Sao lại được? Được cái gì?
Ma-ri vẫn gật gù:
- Em chẳng rõ anh có biết làm thuốc thật hay không nhưng nếu em là bệnh nhân, mà nghe anh nói câu sau cùng vừa rồi, thì thế nào em cũng tin anh mà phó thác tính mệnh cho anh!
Ngừng một lát, Ma-ri lại tiếp:
- Thế mới biết ở Hà Nội kiếm ăn còn dễ. Muốn làm nghề gì, thì trước khi học nghề, hãy học nói phét đã!
Anh Thừa cười lạt, nhạo lại:
- Thế thì anh chắc rằng em không làm cái câu anh hùng thuyền quyên, em không quen mấy nhà văn sĩ, và em chưa biết cái ống tiêm ngược xuôi đầu nào.
Ma-ri hích vai vào vai anh, dí dỏm đáp:
- Óc anh còn non thế, không trách cho anh lo cho công ty anh khỏi bị đóng cửa là phải. Người ta nói phét là nói phét với người không biết mình, chứ ai dại gì nói phét với người biết mình? Nếu anh không tin em, thì anh cứ mở phòng khám bệnh đi. Em sẽ làm y tá giúp anh.
- Thật nhé?
Ma-ri lại cười:
- Kể ra làm giúp anh, thì mình làm cho mình, không phải khúm núm trước mặt ai. Nhưng anh để em nghĩ, vì em đương xin việc ở nhà thương Đồn Thủy. Sở dĩ em nói vậy, là vì thấy anh không tin là em biết nghề y tá. Thế giấy chứng nhận của thằng Tu-nô là giấy lộn à?
Rồi Ma-ri vẫn lau láu:
- Anh phải biết, về nghề chữa thuốc, em cũng chẳng kém ai. Nếu pháp luật cho phép, thì với sự thông thạo nghề của em bây giờ, em cũng có thể mở phòng khám bệnh, kê đơn cho bệnh nhân.
Thấy anh Thừa quay nhìn mình, Ma-ri dở đùa dở thật, tiếp:
- Thật đấy, nếu bệnh nhân em chữa mà không khỏi, thì họ đến nhờ người khác chữa hộ. Họ có chết, thì họ đổ tại số. Mấy lại, dù không biết thuốc, em cứ mở phòng khám bệnh, cũng làm được như thường. Cứ kê đơn bứa bừa, miễn là bệnh nhân trả tiền mình sòng phẳng. Một nghìn người phải lừa, là em có thừa một nghìn bạc!
Ma-ri nghiêm lại:
- Cho nên em khuyên anh nên mở phòng khám bệnh, làm thuốc, có hơn đi cậy cục bọn trạng sư với quan tòa giữ cho anh cái nghề bán thuốc hay không. Bọn này không hơn gì bọn làm thuốc chúng mình đâu. Có khi họ còn kém mình là mình có lương tâm hơn họ. Cùng là phường nói dối để lấy tiền cả, nhưng chỉ những người làm thuốc không lành nghề mới vô tình mà giết người vô tội, còn trạng sư, quan tòa, càng lành nghề, càng cố ý tha cho kẻ có tội.
Hai người cùng phá lên mà cười, rồi cùng yên lặng. Bỗng anh Thừa nói:
- Hai óc này mà đấu nhau lại để hợp tác với nhau, thì liệu hồn những nhà giàu! Em tính toán kỹ xem có thể giúp anh trong nghề làm thuốc không?
Ma-ri ra vẻ suy nghĩ:
- Em sẽ trả lời anh sau.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng chào tạm biệt, nghĩa là để đến lần gặp nhau sau.
[2] Nó.
[3] Nu: chúng ta, chúng tôi.