Đống Rác Cũ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§2. Mười Năm Về Trước
Ii Mười Năm Về Trước

❊ ❊ ❊

Chúng ta đều nhớ rằng Ma-ri vẫn tự hào là đã thủ tiết được với chồng, là do người cha đạo Hảo dạy dỗ, Ma-ri không nói điêu đâu. Có điều là được dạy dỗ thế nào, thì ta không biết, vì đó thuộc về phạm vi nhà nghề của các bậc tu hành. Mà đã là công việc thuộc phạm vi nhà nghề, thì nhiều khi lương tâm người ta bắt người ta phải giữ bí mật.

Ma-ri về ở với Thừa được hơn một tháng, thì hắn tuyên bố một tin ghê gớm, là hắn lại có mang. Nhưng hắn nói là khác với hai lần trước, lần này hắn thấy bụng thế nào ấy, Hắn phải đến nhờ bác sĩ Pi-ca khám thai hộ.

Ma-ri nói chuyện với Pi-ca lâu lắm. Cuối cùng, quan tiến sĩ đút mười đồng bạc của khách hàng vào ngăn kéo, rồi chẳng khám xét gì, hắn viết giấy chứng nhận rằng Ma-ri sẽ đẻ thiếu tháng.

Vì thế, chỉ có bảy tháng sau, Ma-ri đã phải vào nhà hộ sinh. Hắn sinh hạ luôn một lúc hai đứa con gái, giống nhau như đúc. Đứa nào mắt cũng xanh, mũi cũng khoằm.

Tác giả chẳng cần nói rõ là hai con của Thừa như tạc với ai. Chắc độc giả đã đoán ra đôi sinh vật cỏn con đó, mang nhãn hiệu như vậy, là tác phẩm do hãng nào sản xuất rồi. Vậy thì bây giờ ta đã hiểu vì sao, không ân tình gì với Thừa, cha Hảo đã phải tận lực lo lắng cho thằng giết người ấy được tạm tha ngay để mà sum họp với Ma-ri. Thì ra tôn giáo bao giờ cũng gây hạnh phúc cho những người vẫn gọi nhau là vợ chồng. Dù pháp luật có muốn chia lìa họ, thì nhà tu hành cũng lăn lưng vào cứu cho họ được gần gụi nhau.

Nhân đạo vậy thay!

Nhưng Trần Đức Thừa lại không tin cả pháp luật, tôn giáo, lẫn khoa học.

Trước hết, thấy Ma-ri mách là có mang, thì hắn ừ hữ vậy thôi. Có lẽ hắn tin đấy. Nhưng đến hôm Ma-ri cho hắn xem tờ giấy chứng nhận của thầy thuốc nói rằng sẽ đẻ thiếu tháng, thì hắn nghi ngay. Cớ sao tự nhiên lại lạy ông tôi ở bụi này? Vả những lời chứng nhận mà Pi-ca ghi trong biên bản khám tử thi cô Lễ, đã chứng nhận cho Thừa đo được lương tâm nhà nghề của quan tiến sĩ y khoa này rồi.

Hôm Ma-ri đẻ, Thừa đến thăm. Hắn thấy con của hắn mà giá có ngay một bộ râu xồm che lấp mồm nữa, thì vô khối con chiên bổn đạo nhìn thấy, phải làm dấu câu rút. Thấy hắn thản nhiên như không, Ma-ri phải nói ý để thuyết phục:

- May quá, mặt mũi chúng nó giống cha! Moa sùng đạo cũng có hơn!

Thừa không nói gì. Hắn về, đem chữ nghĩa của bác sĩ đến cho ông nhà thơ Hoài Tân Tử coi, và vấn kế xem nên xử trí thế nào. Ông Tình muôn thuở xui:

- Có chứng cớ rành rành là nó bịp mày, thì mày đợi gì mà không xoay tiền thằng dê già. Nếu thằng này không cho, mày cứ dọa là sẽ đăng báo để bêu.

Thừa mừng lắm, hôm Ma-ri bế con về, hắn sinh sự ngay. Nhưng hắn vừa nói được câu đầu, thì Ma-ri đã hiểu, và thốc cho một thôi:

- À, toa muốn vô nhân bạc ngãi phỏng? Toa không biết cái hĩm của moa là một, cái mồm của thằng Tây là hai, nó cứu sống toa à? Không có thì bây giờ toa có mục xương ở trong tù không? Chẳng biết dơ! Thà cứ câm họng còn thương được. Moa truyền hồn cho từ giờ đến già, nếu toa muốn sung sướng, danh giá, thì đừng có vô ơn hai cái ấy!

Thừa ức lắm, nhưng đành nhịn. Hắn sợ Ma-ri dùng hai cái ấy để phản hắn.

Từ hôm đó, cả Thừa lẫn Ma-ri cùng suy nghĩ và tính toán.

Thừa hiểu rằng cái người mà hắn vẫn tưởng là đại ân nhân của hắn, chẳng qua chỉ là thằng đại bợm. Nó để râu thật rậm và mặc áo thật dài để che cho kín mặt mũi và bụng dạ bẩn thỉu của nó. Rồi nó lợi dụng tôn giáo, trút cho hắn gánh hộ nó cái nhục. Hắn nhớ lại từ ngày Ma-ri bỏ hắn. Rõ ràng hắn được tự do hơn. Cô Lễ hiền lành, thật thà, cho nên dễ tin hắn. Lấy cô làm vợ, không bao giờ hắn bị bó buộc. Hắn vắng nhà hàng đêm, có lần hàng hai ba ngày, đến lúc về, hắn chỉ nói một câu là đi công việc báo, cô vui vẻ liền. Cô còn xót xa hắn vất vả, và chiều chuộng gấp bội. Hắn tiếc rằng giá không có mẹ Mão đến phá, thì thế nào hai cái nhà của cô cũng về tay hắn. Hắn sẽ dựa vào tiền tài của cô để gây lại cuộc đời.

Bây giờ ở với Ma-ri, hắn dựa vào cái gì của Ma-ri? Ma-ri đã tìm thế lực làm cho hắn trắng án. Hắn đã thoát tù. Thế là đối với hắn, Ma-ri không còn gì cho hắn lợi dụng nữa. Song, sự thật, thì là hắn tránh khỏi nhà tù nhà nước để chui vào nhà tù Ma-ri. Hắn không trông mong gì ở Ma-ri trong việc làm lại cuộc đời. Thế mà hắn còn phải nuôi một lũ con và nuôi Ma-ri. Ma-ri ăn, mặc, chơi, tiêu đã đành, thỉnh thoảng cơn đứng đắn bốc lên, Ma-ri còn dở trò buôn bán để phá thêm của nữa.

Ma-ri lại về với hắn để bám. Bám vào tiếng ở với chồng để che tội cho con dê xồm, bám vào tiền của hắn để hắn phải nuôi báo cô lũ con khác giống. Hắn có nợ nần gì Ma-ri kiếp trước, mà kiếp này bị đày đọa lại?

Thừa chán ngán. Hắn không thể cáng được gánh nặng. Hắn phải ở một mình. Ở một mình, không bị xiềng xích, hắn mới tìm được hạnh phúc. Dù chẳng làm giàu, hắn cũng được tự do. Nhưng thế nào hắn cũng làm giàu được. Ở đất Hà Nội này còn khối thằng không bằng hắn, mà cũng nhà lầu, ô-tô đàng hoàng, thì nhất định hắn không chịu kém cạnh. Khi trong tay đã sẵn có đồng tiền, hắn có thể lấy ai thì lấy, nhưng quyết không lấy một người như Ma-ri.

Nghĩ đến mấy năm ăn ở với Ma-ri, hắn sợ quá lắm rồi, bức quá lắm rồi.

Nhưng làm thế nào bây giờ? Thực tế là Ma-ri ở nhà này rồi. Tiếng thằng Giăng khóc, tiếng hai đứa mới đẻ suốt ngày bên tai hắn, làm hắn bực dọc mà không dám nói ra. Hắn biết rằng hiện giờ Ma-ri chưa đòi, nhưng thế nào nay mai Ma-ri cũng bắt hắn mượn vú em để nuôi con. Mà những hai vú em kia, mới chết chứ! Không những vậy, có thể Ma-ri muốn rảnh tay, còn nuôi cả chị hai để trông thằng Giăng nữa cũng nên!

Đến hôm nay, hắn còn một ít tiền và món đồ vàng mà hắn ăn cắp của cô Lễ. Nhưng nếu cứ đà ngồi không và ăn tiêu này, thì đến có núi của cũng hết.

Bỏ Ma-ri? Cố nhiên rồi. Nhưng làm cách nào để bỏ? Ma-ri tai ngược chứ không cù mì như mẹ Mão, và thâm trầm chứ không trung hậu như cô Lễ. Ma-ri mà biết ý định của hắn, tất Ma-ri xử lại rất thâm độc, nham hiểm. Ma-ri không cho hắn giũ dễ dàng như giũ mẹ Mão, như giũ cô Lễ, mà càng bám chắc, bám dai như con đỉa, lầy nhầy ám hắn suốt đời.

Ma-ri cũng ngấy cái cảnh Thừa lắm rồi. Sở dĩ hắn bỏ về với Thừa, chẳng qua là vì hắn biết anh cha đạo không thể phá giới mà hoàn tục để kết bạn trăm năm với hắn. Mà ở nước Nam này hiện giờ, không còn chỗ nào hắn có thể ở một cách yên ổn, mà trong đó lại có người để hai đứa nhận ngay là vợ chồng một cách tự nhiên như ở đây. Không may cho hắn, mặt mũi hai con bé đã tố cáo âm mưu của hắn. Rõ ràng là Thừa không chịu nhịn nữa rồi.

Trước khi về với Thừa, Ma-ri vẫn tưởng Thừa làm báo, thì có lương nuôi nổi vợ con. Ai ngờ Thừa chẳng có nghề ngỗng gì. Căn nhà ở lại chật hẹp, tối tăm. Hắn chưa đòi hỏi gì, mà lúc nào Thừa cũng kêu túng, kêu thiếu, làm như xo dụi, chết đói đến nơi rồi. Biết là Thừa làm như vậy để bịt miệng hắn, hắn thấy không thể kéo dài đời hắn theo nhịp sống như thế này mãi được.

Bỏ Thừa để lấy người khác? Cái đó đã hẳn rồi. Nhưng không phải việc của hôm nay hay ngày mai. Hôm nay hay ngày mai, hắn còn máu non. Nhà của Thừa là chỗ hắn còn có thể tạm dung thân, thì hắn chưa nên rời cái “phòng đợi” này.

Ma-ri lấy tấm gương để soi và chải đầu. Da còn xanh. Má chảy xị hẳn xuống vì nằm cả ngày. Mỗi lần chải, hàng chục sợi tóc rụng dính vào lược. Hắn thở dài. Hắn nghĩ đến câu gái ba mươi tuổi đã toan về già. Năm nay hắn mới ba mươi hai. Chẳng lẽ ở tuổi này mà là bắt đầu hết xuân à? Hắn nhìn xuống giường. Thằng Giăng và hai em nó đương ngủ say. Hắn thương hại ba đứa. Hắn đi lấy người khác, thì chúng nó ở với ai? Địu chúng nó cạnh nách, hắn có thể lấy được chồng không? Người đàn ông nào lấy hắn làm vợ mà sẵn lòng bao cả từng này đứa con riêng của vợ? Hay là cho người khác nuôi? Người phúc đức mấy cũng chỉ nhận một đứa. Mà người hiếm hoi, ai nuôi con gái làm gì?

Ma-ri buồn lắm. Thấy đối với hắn, Thừa không ra thờ ơ, không ra vồ vập, hắn càng thấy hắn dơ dáng dại hình.

* * *

Chờ cho người khỏe mạnh, Ma-ri đến báo tin cho lão cha Hảo biết việc mình đẻ sinh đôi, và việc Thừa định dở mặt. Người cha đạo hỏi:

- Có thật con đẻ sinh đôi, có thật nó giống cha, có thật chồng con giận con không?

Ma-ri đáp:

- Thưa cha, nếu con nói dối cha, thì con xin phép cha cho con đi xưng tội ạ.

Nhà tu hành cười:

- Thì con lại xưng với cha, chứ với ai? Thế bây giờ con muốn gì?

- Trình lạy cha, cha dạy cho con nên làm thế nào ạ?

- Thằng chồng con được cha cứu, cha khuyên bảo nó nhiều lần là nên theo đạo để được dạy dỗ cho thành người lương thiện, nhưng nó cứ ừ hữ. Thế là nó không tốt. Cha phải bằng lòng cho con lấy người ngoại đạo, là cha đã chịu nước lép quá rồi.

Ma-ri ngắt lời:

- Con cũng ức lắm. Cho nên con định xin phép cha cho con bỏ nó.

- Bỏ nó thì con lấy ai?

- Thưa cha, không lấy được ai, thì con lại về ở với cha như truớc.

Cha Hảo xua tay:

- Không ở với cha được. Con mắn quá! Cha sợ. Mà đẻ những sinh đôi kia!

- Trình lạy cha, do công ơn của cha.

Ma-ri nhoẻn miệng. Nhà tu hành vẫn nghiêm trang:

- Cha cấm con từ nay không được gặp riêng cha nữa. Và cha ra lệnh cho con phải về với thằng Thừa, ngoan ngoãn mà nhận là vợ của nó.

- Thưa con nhất định bỏ nó.

- Con phải biết ở thế gian này, có thằng chồng nào dễ dãi như thằng Trần Đức Thừa không? Nó đã nhận thằng Pôn, thằng Giăng là con nó, thì tất nó cũng nhận hai đứa này là con nó. Lấy được người chồng dễ dãi về mặt nhận con là một hạnh phúc hiếm có cho người vợ. Sao con không biết hưởng?

Để cho Ma-ri thấm thía lời dạy khôn, một lúc, hắn mới tiếp:

- Nhưng một người chồng không phải chỉ chịu nhận con người khác là con mình để không được lợi gì. Vậy đền lại nó, con phải làm ra âu yếm, quý mến nó.

- Thưa cha, con nghĩ không đền gì tốt bằng tiền ạ. Bây giờ nó thất nghiệp mà phải nuôi một vợ với bốn đứa con mọn. Cho nên cả con với nó, hai đứa cùng gớm mặt nhau.

- Thế chúng con lấy gì mà sống mấy tháng nay?

- Thưa toàn tiêu vào tiền của con Lễ đấy ạ. Con muốn trình cha tháng tháng cho con món phụ cấp gia đình ạ.

Người cha đạo nhún vai:

- Nhà thờ không phải là chính phủ mà con đòi hỏi thế. Vả con không phải là công chức.

- Thưa phụ cấp riêng của cha phát ấy ạ.

- Không được.

- Nếu cha không phát tiền, con đến phải đưa chúng nó cho bà sơ nuôi làm phúc thôi. Con chỉ sợ các bà hỏi là con của ai, thì con khó nói lắm.

Người cha đạo cười nhạt:

- Con dọa cha, hể? Thôi, con cứ về đi. Cha sẽ nghĩ giúp con.

- Thưa cha, bao giờ cha nghĩ ạ?

Nhà tu hành cau mặt. Hắn gãi đầu, gãi râu, rồi nói:

- Cha không phải người sai hẹn. Hiện nay miền Nam nước Pháp đương bị lụt to. Thế nào các thuộc địa cũng phải tổ chức cứu tế.

Ma-ri thở dài, nói một mình:

- Thế thì nước mẹ gì?

Rồi hắn nhắc:

- Thưa cha, chồng con lại là An-nam, không bị lụt kia ạ.

Người cha đạo gật sâu đầu xuống, dằn từng tiếng:

- Cha biết rồi.

Ma-ri chợt hiểu:

- À, thưa cha, ai tổ chức cứu tế ạ?

- Ai thì cha chưa biết. Nhưng chắc chắn là các quan.

- Quan Tây hay quan An-nam ạ?

- Cố nhiên là quan Tây mới biết thương xót người Tây. Nhưng muốn kín đáo, các quan Tây bảo các quan An-nam tổ chức.

- Chắc là hội Khai Trí Tiến Đức phải tổ chức, cha ạ.

Lão Hảo gật đầu:

- Có thể.

Ma-ri mừng rỡ:

- Thế thì may lắm. Chồng con có chân hội Khai Trí, chắc chắn được vào ban tổ chúc, tha hồ mà ăn bớt.

Người cha đạo cau mặt:

- Con có tính láu táu, nhiều câu con không nghĩ mà cứ nói bừa làm lắm lúc cha phiền lòng. Cha vẫn dạy con là khi muốn nói với cha hay với ai, con phải quay lưỡi bảy lần trước đã.

- Quay thế thì lâu lắm nhỉ.

- Nghĩa là nghĩ, nghĩ kỹ.

Ma-ri nhí nhảnh cười:

- Ồ, làm việc gì cũng phải nghĩ, thì mệt óc lắm. Thưa cha, thế ngộ nghĩ sai thì có làm không ạ? Con tưởng cứ bừa đi, rồi đâu sẽ vào đấy hết. Con mà hay suy nghĩ, thì có lẽ đến bây giờ con chưa có đứa con nào.

- Suỵt! Đương nói việc cứu tế. Thằng Thừa chín chắn hơn con. Nó là thằng làm được việc. Con về bảo nó đến hầu cha, để cha hỏi xem nó có thể giúp ban tổ chức việc gì, thì cha giới thiệu. Ban tổ chức phải là các quan, các bậc thượng lưu trong nước thì mới được tín nhiệm. Chồng con đã là thứ bậc gì mà vào ban tổ chức!

- Nếu ban tổ chức cần người có tín nhiệm, thì càng các quan càng không có tín nhiệm. Chồng con còn đáng tin cậy hơn các quan. Vì nó có ăn bớt, cũng không dám ăn bớt nhiều.

- Vào ban tổ chức không phải để ăn bớt, con không nên lầm thế. Nếu nó là hội viên hội Khai Trí Tiến Đức, thì cha dễ giới thiệu với ban tổ chức.

Ma-ri khoe:

- Vâng, nó mà mở sòng xóc đĩa cho chợ phiên, thì nó tranh hết khách của hội Khai Trí, cha ạ. Nó rủ bạn bè của nó ở các tỉnh về đánh rất to, tha hồ mà thu hồ.

- Được rồi. Con cứ bảo nó đến đây với cha, cố nhiên nó không ở ban tổ chức, nhưng nó có thể giúp ý cho ban tổ chức. Rồi ban tổ chức sẽ dùng nó. Nó kiếm lợi vào đó.

Ma-ri nũng nịu:

- Con có đạo thì cha không giúp. Cha lại chỉ nối giáo cho thằng giết người.

- Thế là cha giúp con. Cha dùng nó để giúp con. Cha làm như thi ân huệ cho nó để khuyên bảo nó theo đạo.

Ma-ri xua tay:

- Không ăn thua đâu, cha ạ. Nó bạc lắm.

- Với những người không biết tin ngay đạo lý, thì tôn giáo phải mua chuộc họ trước hết bằng danh lợi con nghe chưa? Thôi, con về nhé.

Thừa được thầu dựng những căn nhà cho chợ phiên. Chợ phiên tổ chức tại vườn Bách Thảo để lấy tiền cứu dân bị lụt bên nước Pháp. Mở ba ngày liền. Vì dịp này là dịp ngày lễ vào hôm thứ sáu trong tuần, nên các công sở được nghỉ luôn cả hôm thứ bảy. Quảng cáo là ngoài hàng bán, còn có nhiều cuộc vui. Trong nhiều cuộc vui, có xổ số lấy đồ đạc và những cuộc thi, hôm kết thúc có thi xe hoa, thi khiêu vũ, và thi sắc đẹp. Nhưng những cuộc thi chưa làm cho khách các tỉnh chờ đợi và mong mỏi bằng các sòng bạc, có đủ cả xóc đĩa, trạc-xếch, và đố chữ. Thừa nhờ ông Lăng gọi cho hắn xừ Tuynh, để xừ giúp mua vật liệu và thuê thợ.

Ngoài những dãy nhà dài chia ra từng ngăn nhỏ để bày hàng, đựng rải rác ở cạnh đường đi, trên đỉnh Khán Sơn, có nổi lên một căn nhà lớn, rộng. Đó là sòng bạc. Thừa được phép dựng riêng một quán giải khát cho Ma-ri ngay ở lối lên núi. Quán này có hai ngăn. Ngăn ngoài hẹp, để bày cốc tách cho Ma-ri bán kem, rượu, bia, nước chanh, vv… Ngăn trong rộng chia bằng liếp thành ba buồng nhỏ, kê vừa một cái giường khổ hẹp. Vì liếp có phết giấy, nên buồng nào cũng kín đáo. Thừa bảo buồng ấy dùng cho khách đánh bạc thức đêm có mệt thì ngả lưng tạm. Nhưng thực tế, khách đánh bạc chẳng ai biết mình được săn sóc chu đáo như thế. Biết có thứ buồng cho thuê ấy, chỉ có những cặp trai gái muốn tình tự chốc lát với nhau thôi.

Thừa được trưng sòng bạc, mỗi ngày hai mươi bốn giờ, hắn phải nộp tròn cho ban tổ chức ba trăm bạc thuế.

Vì chợ phiên được cổ động mạnh bằng những câu ca dao đăng trên khắp các báo hàng ngày, lại vì các quan ở mấy tỉnh lân cận Hà Nội sức cho tổng lý phải làm việc nghĩa, cho nên hôm khai mạc, khách có nhiệm vụ phải có mặt, khách bắt buộc phải có mặt, và cả khách tự ý đi tìm vui thú, đến chợ phiên rất đông.

Để được trọng thể, ban tổ chức mời bà thống sứ cắt băng tam tài chăng ngang ở cổng. Một ông áo gấm, thẻ ngà, mề đay đọc đít-cua. Ba chục thiếu nữ, cả Pháp lẫn Nam, những cô có tiếng là đẹp ở Hà Nội, mặc những bộ quần áo sang trọng nhất, cứ hai cô một, một cô đưa mấy ngón tay búp măng, miệng nhoẻn cười, gắn huy hiệu từ thiện vào ngực cho quan khách, một cô giơ cái hộp gỗ phát giấy ba màu xanh, trắng, đỏ, để nhà từ thiện đút tiền vào. Có những cô khéo léo đã làm cho khách vui lòng cúng cả tờ giấy bạc hai chục. Giấy các màu cắt nhỏ lăn tăn, gọi tên là công-phét-ti được ném vào nhau như mưa hoa. Hôm nay là ngày vui, cho nên bất cứ ai ném công-phét-ti vào ai, cũng không bị mắng, còn được cười và ném lại là khác. Các cậu công tử An-nam ném vào các cô đầm non. Các bà vợ Tây già ném vào các bậc trai tơ tài hoa son trẻ. Cánh hoa giấy lăn tăn mắc vào tóc, nằm trên vai, bám vào lưng, vào ngực áo của nhau, là những vết kỷ niệm cho tình Pháp - Nam thân thiện. Chiều đến, khách tới tấp đến càng đông. Ánh điện sáng rực một góc trời. Máy phóng thanh mở những bài nhạc du dương. Làn gió hiu hiu đưa thoang thoảng mùi nước hoa của những món tóc bóng nhẫy và làm bay bay những tà áo tuyết trắng, cá vàng, bạch yến, hồ thúy, nhắt gừng, cặn vang, huyết dụ, lam mây của những cặp má phớt hồng, làm nổi bật ý nghĩa của bốn tiếng mới đặt là Hà thành hoa lệ.

Ma-ri đâm ghen với các thiếu nữ. Hắn không được đi rong chơi để diện với trai, vì hắn phải làm việc. Hắn mặc bộ nhiễu đen, tuy không được ra ngoài, phải đứng trong quán giải khát, nhưng hắn cũng rắc trên tóc và trên vai một ít công-phét-ti tím, hồng, xanh, trắng… Vì đã quen nghề bán kem ở Bờ Hồ, nên hắn nhanh mồm nhanh miệng đon đả với khách. Khách qua hàng hắn, cứng lắm mới thản nhiên được trước khóe mắt thôi miên của hắn.

Nhưng không gian hàng nào tấp nập bằng sòng bạc. Suốt từ chín giờ sáng cho đến gần tang tảng, lúc nào con bạc cũng đông nghìn nghịt. Thừa thuê được mấy cô gái non là con em của bà Ĩnh con, làm hồ lì và hàng sáo. Cô nào cũng mặc quần áo mỏng tang để luôn luôn vô ý mà quệt ngực vào tay khách, làm cho khách hãm tài.

Đến hôm thi sắc đẹp, Ma-ri quyết dự thi. Hắn không mặc quần đùi, không mặc yếm, không mặc áo ngắn. Hắn mặc quần voan trắng, áo dài voan trắng, thứ hàng mỏng nhất. Nhưng Thừa bảo:

- Em dự thế nào được. Đây là cuộc thi sắc đẹp cho các bà các cô khuê các kia mà?

Hắn cãi:

- Tây lai không là khuê các à?

Hắn hỏi ý kiến ban giám khảo. Ban này phân tách hồi lâu. Gần cả ban căn cứ vào nguồn gốc, để nhất định rằng con lai không do dòng dõi tử tế đẻ ra, thì không phải là khuê các. Chỉ có một người căn cứ vào ảnh hưởng của nhà trường, ảnh hưởng của xã hội, có thể thay đổi được tính nết con người, thì người lai vẫn có thể trở nên khuê các. Nhưng người này tìm thêm một lý rất cứng:

- Thế các ngài cho người Pháp là thế nào, mà bảo con của người ấy không phải là khuê các. Tôi không có óc bài Pháp, nên tôi nhất định bênh người lai.

Thế là tất cả mọi người như bị tắc họng. Cho nên Ma-ri được dự thi. Và trong bảy người lần lượt diễu trên cầu bạc để công chúng ngắm nghía và ban giám khảo định giải, thì Ma-ri là người được vỗ tay lâu nhất, và được mời đi lần thứ hai nữa, cho mọi người thưởng thức. Bởi vì phía bên kia chiếc cầu bạc, là hai ngọn đèn pha hát ánh sáng trắng lên, ánh sáng trắng chói, thắng cả màu trắng mờ của bộ quần áo voan mỏng mà Ma-ri mặc. Cho nên chẳng lẽ bắt Ma-ri đi lại đến lần thứ ba, không những ban giám khảo, mà cả dư luận nữa, đều rất có cảm tình với những nét cong trong thân thể Ma-ri. Ai nấy đồng thanh quyết định Ma-ri được giải nhất.

Một tràng pháo tay dài đến năm phút mừng hoa khôi của chợ phiên. Công-phét-ti ném vào nàng như mưa rào. Những con mắt tít lên, nhìn theo, những mùi soa phần phật vẫy theo, cho đến lúc tà áo của nàng khuất vào đám đông.

* * *

Trong số những người đến chợ phiên để quăng tiền đi, mà họ yên trí là làm việc thiện, ta phải kể tên lão hàn Xương, người em rể bà huyện Dần, có cái nhà mã bán cho Thừa hồi trước.

Ta còn nhớ rằng hàn Xương bán cái nhà ấy, nói rằng để giúp người chú lo đi tri phủ Kiến Xương. Thật ra với món tiền bán nhà, hắn đã mua rẻ được cái đồn điền của người chú ấy, gồm ba nếp nhà gạch lớn, với ngót một trăm mẫu ruộng ở Cẩu Rồng, thuộc hạt Vĩnh Yên. Ta lại nhớ rằng hồi này, hàn Xương đã mê tít Ma-ri nên bán cái nhà toàn lim với xi măng cốt sắt làm trên miếng đất rộng hơn hai trăm thước vuông, hắn chỉ cậy nổi của người yêu được có một nghìn năm chục.

Tậu được đồn điền, anh chàng đĩ tính đem vợ về Cẩu Rồng để hưởng an nhàn. Nhưng được vài tháng thì vợ hắn chết.

Đời hắn thiếu một người đàn bà.

Hắn phải luôn luôn tìm đàn bà để giải buồn.

Vì vậy, tuy ở tận Vĩnh Yên, nhưng chẳng tuần lễ nào anh chàng dại gái này không về Hà Nội vài ngày, vui thú với những người đàn bà dưới xóm cô đầu hoặc ở trong tiệm nhảy. Và cũng vì quá được tự do để trác táng, hàn Xương vốn đã gầy, bây giờ hắn càng gầy và càng khô.

Thừa trông thấy hàn Xương vào sòng bạc, thì hắn nhận ra ngay, vì phải chiều khách, hắn niềm nở bắt tay hàn Xương và hỏi thăm về gia đình. Khi hàn Xương cho hắn biết là góa vợ, thì tự nhiên Thừa mừng lắm. Hắn nghĩ ngay rằng thằng cha này nhất định phải là người hứng lấy cái nợ Ma-ri thay cho hắn.

Cố nhiên hàn Xương hỏi thăm lại Thừa về gia đình, tuy lúc lên sòng bạc, hắn đã nhìn thấy cố nhân đương tíu tít phục vụ khách.

Thừa đưa hàn Xương xuống hàng giải khát của Ma-ri. Hai người gặp nhau.

Hàn Xương thấy nhan sắc Ma-ri không kém trước thì ngây ngất cả người.

Ma-ri thấy hàn Xương khẳng khiu hơn trước, thì vụt hắn nhìn ngay anh giàu này là người thay thế cho Trần Đức Thừa nghèo kiết đây. Hắn phải bám cái người si ngốc này cho riết, nhất định không chịu bỏ mất.

Vì có ý định gán Ma-ri cho hàn Xương, Thừa mặc cho hai người chuyện trò với nhau. Hắn trở lên sòng bạc.

Vì có ý định cho hàn Xương kế chân Thừa, Ma-ri chăng ngay bẫy.

Nhưng việc chăng bẫy, Ma-ri không phải tốn lắm công phu. Với một người khát đàn bà như hàn Xương, thì một nửa khóe mắt, một góc miệng cười của một người thạo quắp đàn ông như Ma-ri, cũng đủ là keo, là sơn, là xích, là khóa. Bởi vậy, hàn Xương như bị trói chặt vào hai nơi. Một nơi là sòng bạc để sát phạt đen đỏ ít, nhưng để dò xét Thừa có ghen hay không thì nhiều. Một nơi là cửa hàng giải khát để thổ lộ can trường với Ma-ri.

- Nhà tôi thất lộc rồi. Tôi đương tìm một người để tục huyền.

Tuy Ma-ri không hiểu nghĩa những tiếng sang trọng mà hàn Xương dùng để trả lời câu hỏi dò về con sư tử Hà Đông, nhưng cũng đoán mang máng rằng thất lộc là chết, và tục huyền là lấy vợ khác. Vì hắn thấy đến hai tiếng thất lộc, thì mặt hàn Xương có vẻ buồn, và đến hai tiếng tục huyền, thì hắn nhìn mình một cách tình tứ.

Nhưng sợ rằng đoán không đúng, cho nên Ma-ri không đáp, chỉ nhoẻn miệng để cười. Thì cái nụ cười này lại như hé ra để thưởng cái nhìn hữu ý của hàn Xương. Cho nên hàn Xương như bị choáng váng. Hôm Ma-ri được bầu là hoa khôi, hàn Xương mừng cuống lên. Ném hết túi công-phét-ti vào Ma-ri rồi, hắn còn tiếc. Hắn mới bốc ở dưới đất những công-phét-ti ném rồi, để thưởng thêm sắc đẹp của người yêu. Hắn theo về quán, nói giọng lả lơi với Ma-ri:

- Anh phải kiếm một người đẹp, biết giao thiệp thành thạo việc đời. Được người như em để phó thác tính mệnh và tài sản, thì anh sung sướng biết mấy!

Để đáp lại câu nói lỗ mãng và trắng trọn, Ma-ri liếc hàn Xương một cái, rồi tủm tỉm cúi mặt xuống. Hắn vờ thẹn thò như những cô gái trinh bạch khi nghe thấy nói đến chuyện lấy chồng.

Bởi thế, sau mấy ngày chợ phiên bế mạc, Ma-ri bỏ chồng, bỏ con trốn lên Cẩu Rồng ở với hàn Xương.

Ở đây, Ma-ri muốn gì, hàn Xương cũng tuân theo ngay lập tức. Trước hết, hắn bắt Xương khai giá thú cho ra vợ chồng chính thức. Rồi sau hắn bảo hàn Xương đóng tiền vào Bảo hiểm nhân thọ, và làm giấy với sở này, là nếu có mệnh hệ nào, thì người vợ được quyền lấy tiền bồi thường. Làm xong hai việc ấy, Ma-ri ra lệnh cấm hàn Xương không được rồi hắn một tối. Hắn cho hàn Xương ăn toàn sâm nhung, để lấy sức mà phụng sự hắn, hay trái lại, để cho mà kiệt sức. Vì vậy, mới được ba tháng, hàn Xương đã như cái que. Và thêm hai tháng, thân hình hàn Xương được tả đúng như tên của hắn. Rồi thêm nửa tháng nữa, bộ xương ấy không nhúc nhích được. Hàn Xương chết.

Món tiền của Bảo hiểm nhân thọ bồi thường, cố nhiên là Ma-ri được lấy. Nhưng còn cái gia tài ở Cẩu Rồng, họ hàng hàn Xương không để cho Ma-ri chiếm một cách dễ dàng. Họ phải nhờ pháp luật định đoạt hộ. Nhưng Ma-ri có những thế lực xoay được pháp luật. Hắn đã dùng bàn tay cứng rắn của lão cha Hảo. Hắn hứa rằng nếu được kiện, hắn sẽ cúng cho Chúa một nửa số ruộng của đồn điền.

Thấy được dịp mở rộng đất cho nhà thờ để lấy tiếng cho mình, và để lấy người truyền đạo, lại được dịp giúp cho Ma-ri một sinh kế chắc chắn, khỏi bị mè nheo bắt mình bỏ tiền ra nuôi con, nhà tu hành hết lòng cướp hộ Ma-ri cái gia tài ở Cẩu Rồng.

Thế là Ma-ri nghiễm nhiên làm chủ ngót năm mươi mẫu ruộng.

Từ ngày Ma-ri bỏ Thừa đi với hàn Xương, không phải hắn bằn bặt như bận trước. Tuy tình cảm vợ chồng với Thừa không còn, nhưng tình cảm mẹ con không cho hắn dứt khoát với cái nhà Thừa ở. Trong nhà ấy, hắn có bốn đứa con. Xa con, hắn nhớ. Vì vậy, độ mươi hôm, nửa tháng, Ma-ri lại đảo về Hà Nội một lần để thăm. Vả lại, hắn thấy trước kia, thằng Pôn đã bị Thừa bỏ lay lắt ở nhà quê, nên nó ốm yếu, lại ngốc nghếch. Nó về Hà Nội thấy cái đèn điện cũng trố mắt lên, thấy cái máy nước cũng đứng lại ngắm. Ma-ri không muốn các em nó cũng bị đày đọa như nó. Cho nên, gửi Thừa tiền ăn cho chúng nó đã dành, thỉnh thoảng Ma-ri cũng phải về xem người bố hờ nuôi nấng chúng nó ra sao. Cố nhiên, những phí tổn ấy, hàn Xương phải đài thọ.

Mỗi lần Ma-ri gặp Thừa như vậy, hai người vẫn trò chuyện với nhau như thường. Y như đôi vợ chồng trong một gia đình bình thường, mà người vợ vì bận việc phải đi xa thôi. Ma-ri chắc Thừa biết mình lấy hàn Xương, nên chẳng bao giờ hắn than thở với Thừa là vì sinh kế, bắt buộc hắn phải bạc tình. Thừa cũng vậy. Hắn biết Ma-ri lấy hàn Xương, nên chẳng hỏi thăm Ma-ri bây giờ sống ra sao. Hai người cứ tự nhiên như không. Thừa như người chủ nhà cho Ma-ri thuê chỗ để nuôi con, coi Ma-ri như người khách đến chơi. Ma-ri có tiền thuê Thừa giữ con hộ, nên cũng cho mình là chủ nhà, và coi Thừa như thằng vú em. Lắm lúc, thấy lũ trẻ bẩn thỉu, Ma-ri cũng gắt Thừa.

Bởi thế, hai người tuy là vợ chồng, nhưng không ăn ở với nhau như vợ chồng, song vẫn là vợ chồng.

Cho nên, từ hôm hàn Xương chết, thỉnh thoảng Thừa có mang con lên chơi trên Cẩu Rồng, ở đó một vài hôm rồi về, Ma-ri tiếp Thừa tự nhiên như thường, chẳng khác gì lúc Ma-ri về Hà Nội Thừa tiếp hắn vậy.

Nhưng từ ngày một nửa đồn điền về hẳn tay Ma-ri, thì một hôm, Thừa mang cả đồ đạc lẫn con cái lên Cẩu Rồng. Ma-ri chẳng hỏi xem Thừa định ở đến bao giờ. Thấy Thừa ở một tuần, hai tuần, Ma-ri cũng chẳng giục Thừa về Hà Nội. Thừa định ở hẳn đây hay sao, hắn cũng không biết. Hắn cho là bây giờ, Thừa không có công việc, thì phải sống bám vào hắn. Nhưng không phải. Hắn thấy Thừa có khối tiền, mỗi tháng lại đưa hắn mười lăm đồng. Tuy Thừa không nói là để làm gì, nhưng hắn đoán có lẽ Thừa đưa tiền ăn cơm trọ. Nhưng sự thực, thì hình như đoán không đúng. Thừa ở đây, không có vẻ gì là người ăn trọ. Thừa sai bảo đầy tớ, mày tao với họ, rõ là giọng nói của chủ nhà. Thỉnh thoảng, Thừa thấy đồ đạc có cái nào long gãy tường vách có chỗ nào sứt lở, thì tự tay hắn chữa, cặm cụi suốt ngày. Ai dám bảo những thú ấy, Thừa không coi như của hắn. Và nếu biết việc này, thì phải nói Thừa đúng là chủ nhà thật, đến Ma-ri cũng không cãi nổi: là đến Cẩu Rồng, nhiều đêm, Thừa vẫn ngủ chung với Ma-ri.

Vậy thì Thừa và Ma-ri là vợ chồng, một thời gian không ăn ở với nhau như vợ chồng, nhưng bây giờ tuy hiểu ngầm hai người không là vợ chồng, song, vẫn là vợ chồng.

Vì Ma-ri là vợ hàn Xương, nên được gọi là bà hàn. Việc này dĩ nhiên thôi. Nhưng từ ngày Thừa lên ở hẳn Cẩu Rồng với Ma-ri, là chồng Ma-ri, Thừa cũng bị gọi là ông hàn, mới đau chứ!

Trước hết, một số bạn bè của Thừa muốn bỡn Thừa, gọi thế để nhạo anh chàng ăn nhờ vợ. Nhưng rồi cả người ngoài, họ không biết gọi Thừa là gì cho dễ hiểu, nên cũng cứ hai tiếng ông hàn ấy mà gọi người chồng của bà hàn. Rồi họ gọi luôn thành quen miệng. Mới đầu, để phân biệt với hàn Xương, họ gọi Thừa là ông hàn Mới. Có người ranh mãnh gọi là ông hàn Hai. Ý nói là chồng lẽ của bà hàn. Những tiếng này đến tai Ma-ri, Ma-ri mới bảo họ tên thật của ông hàn bây giờ là Thừa. Họ gọi là ông hàn Thừa.

Nhưng Thừa vẫn thấy cái tên thật của hắn lắp vào đuôi tiếng hàn là không ổn. Đối với Ma-ri, nó nhắc cho Ma-ri khinh hắn là ăn bám. Vì vậy, hắn bắt buộc phải tiết lộ cho Ma-ri biết việc hắn buôn đồ quốc cấm, tức là thuốc phiện lậu. Hắn có ít tiền, gửi ông Hoài Tân Tử buôn thứ ấy, để lấy lãi tháng. Còn đối với mọi người, nhất là đối với điền tốt, cái tên ông hàn Thừa có vẻ chế riễu hắn là vô tài, phải nhờ vợ mới được cả lợi thừa lẫn danh thừa. Hắn ra lệnh cấm gọi thế. Vả sợ dân nhớ chủ cũ mà bất phục mình chăng, nên hắn lòe họ. Để mọi người tưởng hắn là dân Tây, có thế lực to, Thừa lấy cái tên Tây cũ là An-be hắn bắt người ta gọi hắn là ông An-be, ông hàn An-be hoặc ông hàn An-be Thừa.

Song trong thâm tâm, tuy cái tên ông hàn không làm Thừa thú lắm - vì hắn phải tự tay tạo nên giàu có và danh giá - mà thỉnh thoảng hắn cũng thích. Hắn nghe nó quen tai rồi.

Và lâu dần, người ta gọi hắn là ông hàn cũng quen miệng quá, chẳng ai buồn tìm hiểu nguyên do vì đâu hắn được cái chức ấy. Thời này, ông hàn nhung nhúc như lợn con. Có ai rỗi hơi để ý đến cái vặt!

* * *

Sách có chữ “quan tân, chế độ tân”. Mới đầu, điền tốt ở Cẩu Rồng thấy đổi chủ thì đồ rằng thế nào cũng có thay về chính sách. Coi chừng, chủ mới sẽ nghiệt ngã hơn chủ cũ, và mình sẽ khó làm ăn chăng.

Nhưng mà không. Mọi người nhận thấy chủ mới, cả ông lẫn bà hình như không lấy việc kinh doanh đồn điền là việc chính. Ông bà có vẻ dễ dãi, nhiều khi như khờ khạo là khác nữa. Ai nộp thóc tốt đã đành, ai nộp thóc xấu cũng được nhận. Ai nộp đủ thóc đã đành, ai nộp thiếu thóc cũng được nhận. Chẳng ai phải mắng, phải chửi, phải đòn, phải đánh bao giờ. Ai có cơ lỡ đến vay tiền, vay thóc, có thì ông bà giúp. Không có, thì ông bà cũng tươi cười mà hẹn một ngày khác.

Dạo ấy, dân Cẩu Rồng thật là dễ thở. Họ mong ông bà chủ luôn luôn ở đồn điền để họ có chỗ nhờ vả, nương tựa. Nhưng ông bà chủ lại không lấy Cẩu Rồng làm chỗ ở chính. Ông bà hay ở Hà Nội kia. Mỗi tháng, ông bà chỉ có mặt tại đồn điền độ mươi ngày. Cho nên, những ngày ông bà về, thì ai nấy rất mừng rỡ.

Nhưng cái không khí dễ chịu này chỉ kéo dài được có hai năm. Nó bắt đầu thay đổi từ ngày ông bà chủ ở hẳn Cẩu Rồng.

Trước hết là một vài tiếng gọi. Không ai được gọi là ông chủ bà chủ, mà phải kêu là quan ông, quan bà. Nói với ông chủ bà chủ thì không được dùng tiếng thưa ông, thưa bà, mà phải trình quan. Quan bảo thì gọi là quan truyền. Quan ngủ thì gọi là quan giấc. Quan ốm thì gọi là quan se mình. Nhà ở của quan phải gọi là dinh, dinh quan Hàn.

Trong dinh quan Hàn vẫn còn ba cái nhà gạch cũ, nhưng sửa sang dần dần cho đẹp thêm. Gian giữa ở dinh chính là chỗ tiếp khách, thì làm thêm trần. Trên tường quét vôi kẻ dọc, treo chiếc hoành phi và đôi câu đối sơn son thếp vàng. Giữa đôi câu đối là tủ chè gỗ trắc khảm. Trên tủ đặt giá gương, lư đồng và độc bình. Trong tủ bày những đĩa bát chén cổ. Trước tủ, kê một sập gụ chân quỳ, lúc nào cũng trải chiếc chiếu hoa. Trên chiếu là cái kỷ thấp, mặt đá. Hai bên kỷ, trải hai chiếc đệm gấm. Phía ngoài là một bộ bàn tròn và bốn chiếc ghế bành bằng gụ trạm. Sát với cái bàn, là một chiếc ống nhổ đồng nhện tam khí. Trước bộ bàn ghế khách, là một cái giá cắm đồ lộ bộ bằng đồng, cán gụ, xòe ra như nan quạt.

Buồng này, những buổi tối không có khách thì không thắp đèn, nhưng có khách thì một ngọn đèn măng sông đốt lên, sáng trưng như Hà Nội.

Sở dĩ trước kia ông bà Hàn không ở luôn tại Cẩu Rồng, chỉ vì bà không chịu được ánh sáng dầu hỏa, và nhất là ngọn lửa đèn dầu hỏa. Ngọn lửa đèn dầu hỏa chiếu ra một thứ ánh sáng lờ mờ, đo đỏ. Bà tưởng nó như cái ma trơi ở ngoài đồng. Nhiều đêm, sực thức dậy, bà nhìn thấy ngọn lửa đèn hoa kỳ giong đêm mà giật nảy mình. Bà kêu thét lên. Những lần như vậy, bà bàng hoàng đến nửa giờ. Rồi từ đó đến sáng, bà không ngủ được nữa. Bà cứ nghĩ lửa đèn như con mắt ma, con mắt của người chết, oan hồn của ông Xương về hành hạ bà. Do bà kém ngủ, bà sinh ra kém ăn, rồi lúc nào cũng thẫn thờ như người có bệnh. Sở dĩ bà như người có bệnh, vì bà là đàn bà, yếu bóng vía. Nhưng bà lại không có bệnh gì, vì bà có lòng tự tin rất mạnh. Bà tin rằng bà là Tây lai, thì ma An-nam không làm nổi bà. Bởi vì nước An-nam còn bị nước Tây cai trị, thì An-nam không hại được Tây. Song, nói cho cùng, dù Tây hay An-nam thì cũng là người. Mà người thì có lương tâm. Cho nên dù ít hay nhiều lương tâm, ai cũng có lúc phải nghĩ lại những việc mình làm, để hối hận hay để hãnh diện. Cho nên nhiều khi Ma-ri nghĩ đến việc mình giết hàn Xương. Và chính vì vậy, mà mấy năm đầu, hắn khuyên Thừa nên ăn ở dễ dãi với điền tốt để chuộc lại tội của hắn. Hắn cho rằng nếu những người sống quanh hắn quý mến hắn, thì dù người chết có thù hằn hắn mấy, cũng không thể làm cho hắn buồn phiền. Nhưng bởi hắn không thể không buồn phiền, cho nên hắn ít dám ở Cẩu Rồng, là nơi nó luôn luôn nhắc nhở vào óc hắn cái hình ảnh của Xương bị hắn làm cho yêu mê quá đỗi, đến nỗi rạc ra mà chết.

Thừa cố tìm những lý luận tựa vào khoa học để giảng cho Ma-ri chớ tin rằng người đã chết nhưng linh hồn còn sống. Một mặt, hắn chiều ý Ma-ri, cho Ma-ri đi lễ các đền, các phủ để giải oan cho Xương. Một mặt, hắn thải tất cả các đồ đạc cũ ở trong nhà, để sắm toàn những thứ mới cho khác hẳn trước. Nhưng Ma-ri cũng không thấy yên. Ngủ độ dăm tối ở Cẩu Rồng không thấy gì, nhưng đến tối thứ sáu, thì hắn lại kêu rú lên. Có lần hắn nói như mê sảng:

- Em lạy mình! Em xin theo mình.

Thật ra, Thừa thấy Ma-ri như vậy, thì cũng lo. Không phải hắn lo Ma-ri chết, thì hắn góa vợ, nhưng hắn lo Ma-ri chết, thì hắn mất đồn điền. Vì đồn điền này tuy là của Ma-ri, nhưng hắn lợi dụng được để kinh doanh những việc lớn.

Vì hắn biết đã là đàn bà thì hay tin nhảm, cho nên hắn mặc cho Ma-ri tha hồ đi lễ, đi bái, tha hồ xem bói, xem số. Và cuối cùng, hắn chiều Ma-ri, xây một cái miếu ở gần cổng, để thờ Xương.

Cái miếu này, dân đồn điền gọi một cách tự nhiên là miếu ông hàn Cả.

Từ ngày có miếu, Ma-ri được yên lòng. Hắn chăm nhang khói. Hắn khuyên mọi người cũng năng kêu cầu ông hàn Cả, vì Ngài rất thiêng.

Quan ông, quan bà về ở hẳn Cẩu Rồng, thì chính sách đối với điền tốt một ngày một nghiệt ngã hơn. Thóc nộp phải phơi khô quạt sạch. Ai thiếu một đấu thì ăn hàng chục roi. Ai vay tiền thì phải có vật gì bảo đảm. Ít lâu nay, lại sinh ra cái lệ bảo đảm bằng bài vị thờ ông bà ông vải. Bài vị ấy gọi là cụ. Nợ trả hết thì cụ được chuộc về. Nợ còn thiếu thì cụ phải nằm ở gậm giường trong dinh. Quan gọi việc này là giam cụ, cho người nợ phải đau xót. Ai nợ nhiều, thì vừa phải giam cụ, vừa phải đưa con gái đến ở không công. Nhưng đó là nếu họ may mắn có con gái xinh xắn. Nếu không, quan đã có cách đòi.

Cách đòi của quan là thuê bà Ĩnh con từ Hà Nội về làm nặc nô. Đến nhà người có nợ, nặc nô chửi sáng, chửi trưa, chửi đêm cho đến sáng.

Nhưng hơn một năm nay, quan mới triệu ở nhà quê lên một ông chú họ, trông mặt mũi, râu ria dữ như ông long thần. Tức là ông hai Điều, ngày trước đóng vai cụ Điều ở Phòng thuốc nhà giàu. Tay này thì ác không chê được. Nó làm khách nợ thì thế giới vô địch. Một tay nó cầm cái gậy lớn. Một tay nó xách cái khăn vải, gói đủ cả dọc tẩu, lọ, tiêm, móc và đèn. Nó đến nhà nào, chó ra sủa, nó chỉ phang gọn cho một gậy - mà nó phang thế nào cũng trúng vào đầu - thế là con vật chỉ ẳng được một tiếng, là ngã quay lơ ra. Chó chết, chủ phải mổ để thết khách. Nếu nhà không có chó, thì nó quật chó hàng xóm. Để chủ phải đền. Hàng xóm không có chó, thì nó bắt chủ phải giết gà cung phụng nó. Cố nhiên, gà hay chó chỉ là thức để nhắm. Phải có một chai rượu bổ. Chén xong, nó ngả bàn đèn. Chủ đã phải mua rượu, còn phải biện thuốc phiện. Nó ở lì đấy, cho đến khi chủ trả xong nợ. Nếu không trả được, thì nó chửi, nó đánh, và nó nhảy lên bàn thờ, để ỉa một bãi thật lớn. Rồi nó mới đi. Hình như trời sinh ra nó có tài ỉa, để làm nghề khách nợ. Trước mặt mọi người nhìn chòng chọc vào nó, khóc lóc lạy van nó, mà nó vẫn ỉa được như thường. Nó vừa ỉa ở nhà này xong, đến nhà khác, nó lại phịch ngay được một bãi nữa. Mà cũng không kém giá trị về số lượng.

Nhưng điều tốt chưa sợ hai Điều bằng sợ một người mà họ thấy gọi là ông đội. Bởi vì chỉ những người có nợ mới bị hai Điều đến làm nhục. Khi trả xong, họ hết lý do để sợ. Còn cái ông đội này thì thật là một hung thần thường xuyên đối với tất cả mọi người.

Ông đội đây, tên tục là xừ Tuynh.

Ta còn nhớ xừ Tuynh là một người cai thầu của ông Lăng, hồi chiến tranh, đăng cai chào mào đi Tây, được thưởng hai chiếc mề đay. Ta cũng còn nhớ rằng xừ Tuynh rất mê văn của Thừa đăng ở Đông Dương tạp chí, trong khi Thừa nói phét với ông Lăng là mình chỉ viết báo Nam Phong. Cái lần Thừa thầu làm những gian hàng cho cuộc chợ phiên cứu tế nạn nhân bị lụt bên Pháp, thì xừ Tuynh được Thừa vời đến để giúp việc.

Từ đó, mỗi khi sửa chữa những nhà mới tậu ở Hà Nội, hoặc xây dựng trong dinh ở Cẩu Rồng, như làm miếu thờ hàn Xương, như làm bể bơi cho lũ con vv… Thừa lại nhờ đến xừ Tuynh. Cho nên xừ Tuynh năng đi lại với Thừa.

Xừ Tuynh là một người béo tốt, khỏe mạnh, ăn mặc lúc nào cũng diêm dúa. Đầu chải bóng mượt. Cằm cạo nhẵn thín. Mùa đông, nếu chưa có tiền chuộc bộ quần áo rét ở Vạn Bảo về, thì xừ mặc ka ki vàng. Khi ấy, xừ nói:

- Mình quen khí hậu bên Tây rồi. Như hôm nay, đã lấy gì làm rét. Chỉ như chiều mùa hè ở Pa-ri[1] thôi!

Nhưng đến mùa hạ, có những ngày nực chảy mỡ xừ lại đóng bộ len vào người. Xừ bảo:

- Những người Tây sang trọng, quanh năm mặc đồ tờ-rô[2].

Thừa coi xừ Tuynh như một chàng huênh hoang. Nhưng Ma-ri thấy xừ có một cái biệt tài rất cần cho hắn, cho nên hắn nhất định khuyên chồng xếp cho xừ chức quản lý để xừ về ở luôn tại đồn điền.

Vốn là Ma-ri hay đau mình mẩy. Nhất là những hôm trở trời, thì hắn không chịu được. Hắn dùng đã lắm thuốc, lại mua các thứ rượu chổi, bắt đội con gái xoa, nắn, bóp, đấm các bắp thịt, các khớp xương. Hắn lại uống khối cao hổ cốt. Nhưng chẳng ăn thua gì. Đến ngày ở Hà Nội xuất hiện cái anh chàng mù, cứ tối đến là tay cầm cái gậy để dò đường, tay cầm cái nhạc để rung, và miệng rao “tẩm quất”, thì mỗi lần khí hậu thay đổi, Ma-ri lại bắt Thừa đánh ô tô về Hà Nội, để nhờ anh tẩm quất, tẩm quật cho. Chà chà! Giãn cả gân cả cốt!

Một hôm, nhân nói chuyện với xừ Tuynh, Ma-ri phàn nàn về bệnh của mình, thì xừ Tuynh nói:

- Ấy, bà chả bảo tôi. Hồi ở bên ấy, tôi học được môn tẩm quất kiểu Hoa Kỳ, đã chữa cho khối quan tư, quan năm, nên mới được cái mề-đay này đấy.

Ma-ri thử tài Tuynh. Ngay tối hôm ấy, nhân tiện còn ở Hà Nội, tuy không đau mình đau mẩy, hắn cũng mời xừ đến tẩm quất.

Thì ra thích thật!

Ma-ri kể lại với Thừa:

- Trước hết là quần áo lão ta sạch, người lão ta thơm tho. Chứ không rách rưới, hôi hám, nghĩ mà ghê tởm như cái thằng tẩm quất mù. Sau nữa là lão ta nghề lắm. Tay nắn bóp đâu là chỗ ấy kêu răng rắc.

Lần sau đi Hà Nội chơi, Ma-ri lại triệu xừ Tuynh đến.

Trước khi thi thố tài năng, xừ hãy kể cho Ma-ri nghe những chuyện bên mẫu quốc. Bọn vợ góa của lính Tây chết trận chằm vặp lính thợ An-nam thế nào. Cảnh trai gái họ văn minh với nhau ra sao. Xừ chê là đầm ngu và nhát, ngủ với anh đi-den[3] cứ sợ rồi đẻ ra con răng đen. Xừ nói rất có duyên. Nhiều chuyện mà xừ khoe là của xừ, nghe như là xừ bịa. Ví dụ cái lần xừ cự cả một ông quan năm, xừ nói cứ ráo hoảnh y như thật. Mãi xừ mới tẩm quất. Lần này, nhiều lúc, chẳng biết xừ nắn bóp chỗ nào, mà Ma-ri cứ thít lên, thích quá, sằng sặc cười.

Từ đó, Ma-ri về Hà Nội luôn để xừ Tuynh tẩm quất cho luôn. Hắn sắm biếu xừ quần áo, giày mũ, để mà xừ thêm bảnh chọe. Rồi hắn bắt Thừa cho xừ làm quản lý đồn điền. Hắn dịu dàng dỗ dành Thừa:

- Để những hôm trái nắng trở trời, mình mẩy moa ê ẩm, thì moa có ngay lúy tẩm quất cho, khỏi phải đi tận Hà Nội. Vừa tốn kém, vừa mệt nhọc.

Thừa cho đó là một lý do đúng, vả vì bận nhiều việc khác, cho nên nay Thừa thấy có người nhanh nhẹn, thành thạo lại oai vệ, vì có hai cái mề đay nhà binh, xứng đáng thay mình trông nom ruộng nương, đối phó với điền tốt, thì thật là tốt quá. Ít lâu nay, Thừa vẫn ức về nỗi mỗi khi cần xuống Hà Nội, Ma-ri lại không thích đi xe lửa, cứ bắt hắn lái ô tô cho. Như vậy, hắn mất việc, mà đêm ấy, vì có Hoạn Thư, hắn cứ ngơm ngớp, không dám tung tẩy một mình. Hoặc nếu có thậm thụt chơi bời ở đâu, hắn cũng không dám hưởng đến mãn canh mãn vở. Mất cả tự do trong những đêm thỉnh thoảng mới về Hà thành hoa lệ!

Vì những lẽ ấy, Thừa đồng ý ngay với Ma-ri, là cho xừ Tuynh lên Cẩu Rồng. Ma-ri không gọi tên tục của xừ Tuynh nữa, mà thăng luôn cho anh cai chào mào một trật, là ông đội. Y như trong huyện, có quan tri thì có đội lệ vậy.

Từ ngày lên đồn điền làm quản lý, ông đội còn tập cầm lái ô tô, để thỉnh thoảng lái cho bà hàn về Hà Nội, khỏi bận đến quan ông. Rồi chiều ý muốn của bà, hắn cũng dạy bà bẻ lái ô tô, rồi đến cầm yên cho bà tập xe đạp.

Về công việc làm quản lý, thì xừ Tuynh thật là một người tận tụy. Dù ban tối, phải chạy mửa mật theo xe đạp bà hàn, và dù sau đó, còn tẩm quất cho bà, có lần đến lâu, nhưng hôm sau, thế nào xừ cũng dậy sớm. Xừ bịt đôi ghệt vải quanh bọng chân, đội cái mũ vải vàng rộng vành lên đầu, và cầm cái ba-toong song, to vừa bằng cổ tay. Thế là xừ đi, cho đến giữa trưa mới về dinh, ăn cơm sáng.

Xừ rất chăm đi thăm đồn điền. Để cho oai, xừ gọi là đi khám. Vào nhà nào, xừ cũng ngắm từng người, nhìn từng đồ đạc của người ta. Ngắm từng người, cố nhiên là để xem vợ người ấy có đẹp không, con gái người ấy có xinh không. Nhưng nhìn từng đồ đạc, thì xừ ghi vào sổ để rồi quy ra tiền, xem nhà ai gia sản đáng bao nhiêu. Để sau này, hễ ai nộp thiếu thóc thì xừ biết là người ấy nói dối, có bị tịch thu cũng không thể kêu oan được. Chính xừ hiến cho Ma-ri cái sáng kiến bắt giam bài vị ông bà cha mẹ người ta. Xừ hỏi dò lý lịch từng gia đình, và xem xét tính nết từng người, ai hiền lành, ai bướng bỉnh, ai nhút nhát, ai liều lĩnh, để tùy từng mặt mà đối xử. Nhất là từ sau ngày khởi nghĩa Yên Bái, sợ rằng điền tốt có người là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, hay sợ rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng lan vào, hoặc lẩn lút trong đồn điền, hay cũng sợ rằng điền tốt chứa chấp Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thừa bảo xừ Tuynh phải canh phòng cho thật nghiêm ngặt.

Đối với đàn bà con gái hơi có tí nhan sắc, xừ Tuynh ăn nói dịu dàng. Xừ hay nhân lúc cha mẹ, chồng con người ta vắng nhà, để đến chơi. Xừ nói thao thao bất tuyệt, khoe giàu, khoe sang, khoe oai, khoe khỏe. Xừ bảo:

- Tôi ở bên Tây, nên học được cái thói tốt, là trọng đầm.

Thật thế, chẳng biết xừ trọng đầm thực hay là có ý gì.

Còn đối với bất cứ ai xừ cũng khinh. Xừ đánh, xừ chửi tuốt. Xừ hách với người làm trong dinh đã đành, xừ hách cả với người lĩnh canh. Ruộng người ta lĩnh canh, đáng lẽ người ta làm thế nào cho có đủ thóc để nộp thì làm, nhưng hễ ông đội đi khám, thấy mảnh nào làm cỏ chưa kỹ, hoặc mảnh nào chưa có đủ nước, thế là ông cũng phang người ta hàng chục ba-toong:

- Tiên sư bố mày! Lười như vậy thì để nộp thóc xấu à?

Ông đội mà gặp anh chị nào vừa làm việc, vừa đú đởn với nhau, ông cũng phát cáu. Ông đánh anh con trai một trận như đánh đòn ghen, rồi mới khuỳnh hai tay vào háng, hất hàm, vấn tội:

- Tổ sư mày! Trông thấy ông đến mà không chào à?

Cho nên dân đồn điền thấy bóng ông đội đến, họ len lét như rắn mồng năm.

Đến vụ gặt, người ta càng lo sợ.

Ai cấy rẽ đầu bờ, thì ông đội tranh phần tốt. Ai cấy chia thì ông đội chê ủng chê eo là thóc xấu, phơi quạt chưa kỹ. Bất cứ lý do gì cũng làm cho hắn đánh chửi vô hồi. Còn như ai nộp thiếu thóc, ai không trả hết nợ cũ, thôi thì sống cũng thành tật với hắn. Bất độc bất anh hùng, hắn coi cái ba-toong là cái làm cho hắn thêm oai. Và khi hắn ở nhà nào ra mà không thấy còn tiếng kêu, tiếng khóc, hắn cho là hắn ra oai chưa đủ.

Từ ngày có xừ Tuynh làm quản lý, Thừa được nhẹ mình. Ban đêm, quan hàn được ngủ yên hơn trước. Vì quanh dinh, xừ Tuynh bắt rào giậu cho thật kín đáo, lại mua được năm con chó tây rất dữ để giữ nhà. Thế mà suốt năm canh, ông đội còn bắt người cắt lượt nhau gác, cứ mười lăm phút, lại điểm mõ, để báo hiệu rằng mình thức. Thừa còn cẩn thận hơn nữa. Hắn sắm một khẩu súng, lúc nào cũng nạp sẵn đạn, để ngang ở đầu giường.

❀ ❀ ❀

[1] Thủ đô nước Pháp.

[2] Tiếng nói tắt của Trô-pi-can, hàng mặc mùa thu, có màu như hàng len.

[3] Da đen.

anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc k
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.