Con Ma-gơ-rít có mang. Nó nhờ bác sĩ Pi-ca phá thai cho nó. Vì vậy, Pi-ca phải xin ý kiến Ma-ri.
Thấy đứa con gái nữa lại đổ đốn. Ma-ri buồn lắm. Hắn muốn mắng nó, nhưng há miệng mắc quai. Hắn sợ con bé cãi lại hắn như một lần trước hắn khuyên nó phải giữ giá con gái. Nó bĩu môi, nguýt một cái thật dài:
- Ma-măng hãy dạy lấy ma-măng ấy.
Nó làm Ma-ri ngượng và phải tịt.
Nhưng không nói không được. Chúng nó bây giờ đã hư mà còn dại nữa. Ma-ri cho rằng ngày bằng tuổi chúng nó, mình khôn ngoan hơn chúng nó nhiều. Biết là để con trai đụng vào thì có thể chửa được, sinh ra rắc rối, nên hắn không mê chuyên một thằng nào. Hắn biết rằng hắn có thể làm khối đứa mê, bỏ đứa nọ thì liền có đứa kia thèm muốn ngay. Nhưng hắn đã không cho đứa nào ngủ với hắn quá ba lần. Với cách thay đổi người luôn luôn như vậy, hắn tin rằng không thể có mang. Và đúng là hồi chưa lấy chồng hắn không bao giờ bị tiếng là chửa hoang. Như vậy, vừa thú là được biết nhiều mùi, vừa hãnh diện với người không biết là treo cao giá ngọc. Nhưng không lẽ hắn đem kinh nghiệm quý báu này ra dạy con. Có một vài lần hắn muốn truyền cho chúng nó cái bí quyết ấy, nhưng lại không dám nói là kinh nghiệm bản thân. Hắn chỉ bảo là hắn biết có người như thế. Thì con Rô-da-lin không những không nhận là bài học hay, còn mạt sát người đàn bà là bạc tình:
- Thế thì gả con khốn nạn ấy cho thằng sở khanh, ma-măng ạ.
Ma-ri sợ việc phá thai lắm. Hắn cho là thất đức. Đến các cha cố còn chịu thà mang tiếng là phá giới chứ các người là bậc tu nhân tích đức, có bao giờ chịu khuyên nhân tình phá thai để mang tội ác là giết con đâu? Mẹ con Rô-da-lin là con ai? Con Rô-da-lin là con ai? Sao con bé không biết noi gương tốt của ông cha nó?
Ma-ri định tỉ tê hỏi con Ma-gơ-rít xem nó có mang với đứa nào. Nếu là con nhà tử tế, thì hắn khuyên con bé lấy quách thằng ấy cho xong. Hắn sẽ gọi thằng ấy đến, giảng giải cho nó, bắt nó cưới ngay lập tức. Như vậy, nhà thi lễ giữ được vuông tròn tiếng tăm. Gia đình này ít ra cũng là ông bà hàn.
Ông lại vừa được thưởng Nam long bội tinh, tiệc khao sang trọng vang lừng khắp nơi, ai cũng phải phục. Thế mà bây giờ hở cái tiếng này lọt ra ngoài, thì nhật trình lại đăng như chuyện con Rô-da-lin ngày nọ cho mà xem.
Vậy Ma-ri định trước hết là phải giấu không cho Thừa biết. Vì Thừa ở Hải Dương, bận việc tàu bè, rất ít về Hà Nội. Vả nếu Thừa có thấy con bé nằm một chỗ, thì nói dối là nó ốm, chắc Thừa sẽ không ngờ.
Nhưng tra con Ma-gơ-rít, Ma-ri nghĩ rằng phải khéo léo hơn hỏi con Rô-da-lin. Vì con em kín đáo, lại dễ tủi thân, chứ không phổi bò như con chị.
Tối hôm ấy, Ma-ri nằm với con Ma-gơ-rít. Hắn nói chuyện mưa nắng chán chê, rồi mới vào đề:
- Ma-măng mới gặp ông đốc tờ. Ông ấy nói rằng con vừa đến xin thuốc ông ấy. Con xin thuốc gì thế?
Trái với sự ức đoán của Ma-ri, con Ma-gơ-rít vui vẻ, trả lời rất tự nhiên:
- Con nhờ ông ấy phá thai cho con.
Ma-ri cau mặt:
- Sao lại phá?
Ma-gơ-rít tặc lưỡi, nói vẻ chế nhạo:
- Ma-măng lẩn thẩn quá, có mang nhưng không muốn đẻ thì phá chứ gì mà sao lại!
- Đừng, con ạ. Thất đức!
Con bé bĩu môi, nhại:
- Thất đức! Thế không có chồng, lại để đẻ à?
- Con có mang với đứa nào thì lấy nó vậy?
- Con chưa muốn lấy chồng. Con còn trẻ, con chưa chán đời. Bao giờ chán đời mới lấy chồng.
Ma-ri thở dài:
- Thế con có mang với đứa nào?
- Với thằng Long.
- Thằng Long bạn anh Pôn ấy à?
- Chứ đứa nào?
- Con có yêu nó không?
- Không, sao lại có mang với nó. Ma-măng hỏi lẩm cẩm quá nhỉ.
- Thế yêu nó thì lấy nó cho xong, con ạ.
Ma-gơ-rít bĩu môi:
- Đời nào con chịu lấy nó. Sao nó không là ông huyện, ông tham, ông đốc? Ma-măng không biết chúng con vào hội với nhau, thề với nhau là phi cao đẳng bất thành phu phụ à?
- Con không lấy nó, thì bị mang tiếng là chửa hoang.
Ma-gơ-rít đập tay xuống giường:
- Ma-măng vẫn lẩm cẩm quá! Cho ra thai thì việc gì mà mang tiếng chửa hoang?
Nó thêm:
- Thôi, việc riêng của con, ma-măng đừng can thiệp.
- Nhưng ngộ pa-pa biết thì sao?
Nó sẵng:
- Biết thì làm quái gì! Bố mẹ lại có quyền xâm phạm vào đời tư con cái à?
- Nhưng, Ma-gơ-rít ạ…
Nó không nghe, vùng vằng đứng dậy:
- Ma-măng già, chúng con trẻ, câu chuyện không hợp nhau nữa. Nói thêm, đến cãi nhau thôi!
Nó ra cửa, đóng mạnh cánh đánh sầm.
* * *
Quả nhiên Thừa không xâm phạm vào đời tư của con Ma-gơ-rít. Hắn cho là sở dĩ con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít và biết đâu, có lẽ cả con Ca-mê-li-a rồi, chúng nó như vậy là trả nợ đậy cho cha mẹ và cho các anh chúng nó thôi.
Còn việc con Ma-gơ-rít định phá thai, thì hắn cho tùy nó. Chính hắn cũng nghiêng về ý kiến phá thai. Phá thai cho gọn.
Hắn đã giục Xuy-dan phá thai khi hắn được Xuy-dan báo là có mang. Nhưng Xuy-dan không nghe. Hắn cũng chiều ý.
Xuy-dan đẻ con gái.
Con bé trông thật kháu khỉnh.
Lọt lòng, nó đã nặng được ba cân.
Nó giống bố đôi mắt, giống mẹ cái mũi và cái miệng.
Nó hiền như cục đất. Cả ngày không nghe thấy tiếng khóc. Hễ nó ọ ẹ, là y như đến giờ nó ăn, mà mẹ chậm pha sữa.
Thừa khai sinh cho nó. Tên bố là Trần Đức Thừa. Tên mẹ là Nguyễn Thị Thúy Lan. Thừa đặt tên con bé là Trần Băng Tuyết. Ý Thừa muốn con Băng Tuyết sau này không giống các chị nó. Vì các chị nó chưa chắc đã phải dòng họ Trần.
Lắm lúc Thừa nghĩ, dễ thường Thừa mới thật có hai đứa mà hắn biết đích xác là con hắn. Thằng Mão là một. Con Băng Tuyết là hai. Còn những đứa hắn gieo rắc với người khác đẻ vung vãi trong đời hắn, ngay cả những đứa mà Ma-ri đẻ ra, vẫn gọi hắn là pa-pa, thì chưa chắc.
Xuy-dan được Thừa đứng tên cha, khai sinh cho con Băng Tuyết, thì cảm động đến ứa nước mắt:
- Như vậy, con bé khỏi chịu tiếng nhục nhã suốt đời là đứa con hoang như em. Nó sẽ sung sướng, không bị đời hắt hủi, ruồng bỏ, chà đạp. Nó không coi đời là kẻ thù.
Con Băng Tuyết hay ăn chóng lớn. Hơn ba tháng, nó đã biết lẫy. Nhìn ai, nó cũng toét miệng ra cười.
Hàng xóm thấy nó, ai cũng muốn bế, và hôn hít. Họ nói:
- Có cháu được vui nhà vui cửa, bà chủ hai chả phải thui thủi một mình như trước nữa.
Người ta gọi Xuy-dan là bà chủ hai từ lâu. Bởi vì họ biết Thừa là ông chủ hãng tàu thủy. Họ cũng biết là ông chủ lấy cô giáo Thúy Lan, nhưng giấu bà cả. Họ không biết quá khứ cô giáo, không biết quá khứ ông chủ, chỉ thấy hai người thương yêu nhau. Cô giáo tận tâm với học trò, tử tế với hàng xóm. Nhưng không rõ cô giáo có điều gì trong bụng, thỉnh thoảng thốt ra những câu bực tức, oán thán ai.
Người ta bảo nhau:
- Nghề con gái vẫn thế. Được chồng chiều thì hay làm nũng.
Đến tháng chạp, một hôm Xuy-dan bảo Thừa:
- Anh cho em bế con về thăm cậu mợ em để cậu mợ mừng.
Thừa chiều ý:
- Em ở luôn đến tết à?
- Không. Em về ăn tết với anh. Sở dĩ em muốn thăm cậu mợ, là vì đời em chỉ còn hai người ấy là máu mủ. Bên nội, cố nhiên là em không biết có những ai. Ba em không còn sống nữa, cho nên em không còn ai để hỏi cho biết họ hàng. Em chỉ biết bên ngoại, và họ mẹ chỉ còn có cậu mợ. Cậu cũng như mẹ. Bây giờ em ở với anh, tuy không có cưới xin, khai giá thú, nhưng đối xử với nhau thật ra tình nghĩa vợ chồng. Bây giờ chúng ta lại có con Băng Tuyết, được khai sinh một cách hẳn hoi, thì tình nghĩa lại càng thêm khăng khít, chứ không như trước, còn có thể ngờ là hờ hững, không chắc chắn. Vậy hạnh phúc của đời em, em phải cho cậu mợ biết để mừng cho em.
Thừa gật đầu:
- Em nghĩ thế là đúng, vậy em cứ về. Em nói với cậu mợ là anh bận, nhưng thế nào cũng có dịp anh về chào cậu mợ để họ hàng biết nhau, đi lại với nhau cho sầm uất.
Xuy-dan sung sướng, âu yếm nhìn Thừa:
- Em với con đi vắng, anh có nhớ không?
Thừa bế con Băng Tuyết, rồi vuốt mái tóc Xuy-dan, không nói. Xuy-dan đăm đăm nhìn Thừa:
- Em cũng nhớ anh. Nhưng chúng ta còn ăn ở với nhau về lâu về dài.
- Em về với anh trước tết nhé.
- Vâng. Năm ngoái chưa có con, em chưa thấy nhà này là gia đình. Nhưng năm nay em có con, thì em được có chồng, cho nên tự nhiên em thấy là em có gia đình, và gia đình sum họp trong nhà này. Vậy thế nào em chả ăn tết ở gia đình, với chồng, với con?
Xuy-dan hồi hộp, lấy bàn tay chặn ngực:
- Nghĩ đến điều ấy, em sung sướng quá, anh ạ. Em nào có ngờ được như thế này. Ơn anh!
Xuy-dan bế con, ghì nó vào lòng, nhắm đôi mắt, rồi quờ tay để tìm mặt Thừa. Thừa ngả lại gần Xuy-dan, thoảng một tiếng gọi:
- Em!
* * *
Chiều mồng một tết, Thừa xuống Hải Dương. Hắn nói với Ma-ri là đi mừng tuổi các quan tỉnh.
Hắn có làm những việc ấy thật. Cho phải phép. Nhưng hắn cốt vui sống với Xuy-dan ngày mồng một đầu năm. Xuy-dan sẽ không tủi thân vì phải hiu quạnh, một mẹ, một con, một căn nhà, một ngọn đèn.
Xuy-dan trang hoàng nhà của thật ra cảnh tết. Trái hẳn với tết trước, không khác ngày dưng chút nào, lần này Thừa trông thấy ở hai cột, có dán hai tờ giấy hồng điều trơn, như đôi câu đối. Bàn có trải khăn hoa, trên bày chiếc lọ, cắm một cành đào đỏ rực. Không những tết ở cảnh, mà tết lại ở mùi nữa. Thoạt vào, Thừa đã ngửi ngay thấy mùi hương. Xuy-dan đã bày một bàn thờ, có hai cây nến gỗ nhỏ, có cái liễn sứ đổ đầy gạo, còn những chân hương màu đỏ, cắm xung quanh chiếc đũa tre, trên đặt vòng hương đương cháy dở. Khói hương vòng lên thẳng một vệt trắng, rồi mờ mờ tỏa ra mùi thiêng liêng.
Giữa nến và hương là hai chén nước, một đĩa trầu nhỏ, và một gói thuốc lá. Phía sau có hai cái khung ảnh nhỏ để đứng chênh chếch, trùm ra ngoài bằng hai miếng nhiễu màu hoa hiên.
Vì muốn Xuy-dan mừng bất ngờ, Thừa vào cổng thật rón rén. Nhưng đến tận trong nhà, Thừa cũng không thấy Xuy-dan. Thừa ngắm nhìn cảnh tết của Xuy-dan, sực nhớ lời Xuy-dan nói là có gia đình, thì Thừa thở dài.
Thừa đằng hắng một tiếng.
Bỗng một tiếng rú ở dưới bếp. Xuy-dan mừng quá, vội vàng chạy lên, tay bế con Băng Tuyết:
- Anh đến lúc nào?
Thừa cười:
- Vừa đến. Tưởng em đi vắng.
- Em chờ anh, không dám ra khỏi nhà.
Thừa lấy trong cặp một chiếc vòng vàng, đeo vào cổ cho con, rồi bế nó, hôn hít đến năm phút. Con bé buồn, cười sằng sặc, giơ cánh tay lên, nắm vào râu bố.
Cả Thừa lẫn Xuy-dan cười vang. Thừa đùa con:
- Băng Tuyết muốn ba cạo đi phải không?
Nhưng hắn thấy Xuy-dan vẻ mặt không vui. Hắn biết là không nên nhắc nhở cho Xuy-dan nghĩ đến tuổi của hắn. Hắn hỏi lảng:
- Em làm gì trong bếp?
Xuy-dan hỏi lại:
- Chiều nay, anh có ăn cơm với em không, hay phải về ngay Hà Nội?
Thừa lắc đầu:
- Không. Anh ở đây với em. Sáng mai mới về.
Xuy-dan vui sướng quá:
- Em cũng được tâm linh báo trước là anh ở đây với em, nên em đương làm món ăn.
Thừa cởi khăn, cởi áo, tháo chiếc bội tinh, cất trong cặp, rồi nói:
- Thế thì cùng làm. Nào, anh xuống bếp giúp em.
Nhưng Xuy-dan lắc đầu:
- Xong cả rồi. Chỉ còn đun ấm nước pha cúng.
- Anh không biết là em bày bàn thờ, nên anh không mua chè.
- Em có rồi.
Xuy-dan lấy gói chè, đưa cho Thừa:
- Anh sửa soạn pha nước cúng cho em. Em xuống bếp đun. Độ năm phút nữa là sôi thôi.
Xuy-dan đi.
Thừa lấy ấm, bỏ chè vào, rồi đợi.
Cánh cửa xuống bếp khép hờ, thỉnh thoảng bị gió, nên kêu ken két, mở ra rồi đóng lại đánh thịch.
Trong lúc rỗi, Thừa tò mò mở cái khăn trùm hai chiếc ảnh thờ để xem mặt cha mẹ Xuy-dan.
Ở khung bên trái, hắn thấy chỉ có miếng giấy lót trắng, không có ảnh. Ở khung bên phải, có hình bán thân người đàn bà, nước ảnh đã mờ vàng.
Thừa nhớ Xuy-dan nói là chỉ còn ảnh mẹ, không có ảnh cha. Vì, theo Xuy-dan kể, cha Xuy-dan bỏ mẹ Xuy-dan ngay từ ngày có mang Xuy-dan vài tháng.
Thừa lấy cặp kính lão, đeo vào để nhìn cho rõ ảnh mẹ Xuy-dan.
Bỗng hắn choáng váng đầu óc. Mắt hắn hoa lên.
Hắn cố định thần để nhìn cho kỹ.
Hắn nhìn kỹ, và rõ rồi: mẹ Xuy-dan là Múi!
Đúng cái ảnh này, Thừa đã đưa Múi đi chụp tại hiệu Mỹ Chương ở phố Hàng Bông.
Ban ngày chụp ảnh. Ban tối vĩnh quyết!
Hình ảnh người tình nhân cũ bị hắn lừa mà bỏ rơi làm tim và óc hắn đau nhoi nhói.
Hắn phải vịn vào ghế, rồi ngồi xuống để thở. Mặt hắn tái mét như người bị cảm.
Cánh cửa xuống bếp thỉnh thoảng lại kêu ken két, mở ra, rồi đóng đánh thịch. Mỗi lần nghe tiếng ken két, Thừa tưởng như tiếng nghiến răng của người giận dữ. Mỗi lần có tiếng thịch, hắn như bị nhát búa đánh vào đầu. Xuy-dan ở trong bếp, đương đun nước. Nhưng hắn mường tượng như không phải là Xuy-dan. Bếp là buồng số tám của săm Đồng Lợi. Xuy-dan là Múi! Hắn như nghẹt thở. Cánh cửa khép như bóp, như ép chặt tim và óc hắn.
Bỗng Xuy-dan hớn hở mang ấm nước sôi lên. Thừa tự nhiên giật nảy mình.
Đúng là Xuy-dan giống mẹ quá! Thừa cố bình tĩnh đỡ lấy ấm nước.
Nhưng Xuy-dan thấy tay Thừa run run, thì hỏi:
- Anh làm sao thế?
Thừa lắc đầu, chối:
- Có gì đâu?
Xuy-dan cười:
- Hay vì em để anh ngồi một mình mà anh buồn?
Thừa cố nhịn thở dài, mỉm cười, để nét nhăn cười thay cho nét nhăn mếu.
Thừa pha nước mà tâm thần như lìa khỏi xác.
Trong khi ấy, Xuy-dan thắp hương, rồi mở khăn trùm hai chiếc khung ảnh ra:
- Anh ạ, cậu mợ em chỉ còn giữ được ảnh bà cụ. Còn ảnh ông cụ, em không tìm đâu ra. Vả, em có biết mặt ông cụ đâu mà tìm nhỉ.
Nói đến đó, Xuy-dan rầu rầu, Thừa như được tháo khoán, hắn thở dài to.
Pha nước xong, Xuy-dan lễ, và suỵt soạt khấn.
Thừa được Xuy-dan không để ý, hắn mới lại dám tự do nghĩ đến nỗi khổ tâm.
Càng nhìn Xuy-dan, Thừa càng thấy Xuy-dan giống Múi. Hèn nào, thoạt thấy Xuy-dan, hắn cứ ngờ ngợ, không nhớ là Xuy-dan hao hao giống ai, từ khổ người, đến nét mặt, tiếng nói và dáng dấp. Hắn còn cho là đã gặp Xuy-dan ở đâu, một lần nào. Thì ra người mà hắn đã gặp ở đâu, một lần nào, chính là người đẻ ra Xuy-dan, chính là người đẻ với hắn ra Xuy-dan, người có mang Xuy-dan, bị hắn bỏ, năm ấy cùng tuổi với Xuy-dan bây giờ.
Hình ảnh người yêu cũ của hắn, cái người có mang với hắn, trải hơn hai mươi năm, nó đã mờ nhạt quá trong trí nhớ của hắn, đến nỗi hắn quên đứt. Bây giờ gặp Xuy-dan giống người yêu của hắn, cái người có mang với hắn, giống như đúc, mà hắn không thể nghĩ ra được là ai!
Là ai? Chính người ấy bị hắn lừa mất năm trăm bạc. Và từ năm trăm bạc ấy, hắn đã gặp Ma-ri, bỏ rơi nhân tình, bỏ lửng cả vợ, làm lại cuộc đời khác, một cuộc đời lừa lọc, gian giảo để làm giàu, có dạo nổi lên đến chục vạn.
Thế mà hắn quên người ấy! Không còn nhớ người ấy tí nào!
Đến nỗi gặp Xuy-dan giống người ấy, hắn chỉ còn mang máng là không biết đã gặp người giống Xuy-dan này bao giờ và ở đâu!
Thừa thấy mình đúng là bạc quá!
Thừa nghĩ đến cái đêm ở săm Đồng Lợi. Thừa bỏ Múi từ giờ phút ấy.
Một lần, Thừa được nghe lỏm chị Sáu ở Yên Phụ, nói chuyện về Múi với ông Hoài Tân Tử. Một lần Thừa bị Múi mượn người đánh ở phố Hàng Đậu. Nhưng chỉ là biết thế. Chứ hắn không trông thấy mặt Múi. Từ đó đến nay, là hơn hai mươi năm, hôm nay, Thừa mới biết là Múi đã chết! Đời người con đẻ hoang bị chà đạp, vùi dập, vì đời người mẹ chửa hoang bị chà đạp vùi dập! Hẳn làm Múi đau khổ, vì mang tiếng mang tai, nên không thể lấy chồng tử tế và cứ càng ngày càng tự dúi mình xuống tận bùn đen, đến nỗi chết! Múi chết, để lại cái khổ, cái nhục cho Xuy-dan phải chịu thay.
Chính hắn đã hiếp để phá trinh Xuy-dan! Chính hắn đã lừa cho Xuy-dan làm nhà thổ! Thành thử một tay hắn giết hai người. Giết người mẹ. Rồi giết người con! Giết người con của Múi, mà cũng là con của hắn! Người con của hắn! Nhục nhã cho hắn chưa! Nay lại có con với hắn!
Con Băng Tuyết! Con Băng Tuyết ngồi đây! Nhưng ngày Xuy-dan thấy có mang nó, Thừa đã xui Xuy-dan uống thuốc đọa thai, để giết nó từ trong trứng!
Thế là Thừa giết Múi, giết con của Múi, lại toan giết cả cháu của Múi nữa!
Thừa thấy mình đúng là ác quá! Bạc! Ác!
Hai tiếng chửi rủa ấy làm tim óc Thừa đau nhoi nhói. Nó bị bóp, nó bị ép bằng cái cánh cửa của phòng số tám săm Đồng Lợi mở ra khép vào. Và tiếng cửa mở khép ấy bây giờ lại rõ ngay bên tai hắn!
Xuy-dan khấn xong thì đứng dậy.
Cô mỉm cười nhìn Thừa.
Thừa vội vàng lấy lại vẻ bình tĩnh.
Nhưng vì muốn khóc mà cứ phải cười, hắn đau đớn không chịu được.
Xuy-dan bế con Băng Tuyết:
- Nào, bé lễ ông bà đi.
Xuy-dan vừa lấy ngực gục đầu con, vừa cúi đầu mình thay nó để lễ. Trong khi lễ, Xuy-dan nói bằng giọng ngọng nghịu, vụng về, để bắt chước tiếng trẻ con!
- Nạy ông bà ngoại, ông bà ngoại phù hộ cho ba cháu nà Trần Đức Thừa và cho má cháu là Nguyễn Thị Thúy Nan mạnh khỏe, phát tài, và bách niên giai lão để nuôi cháu ạ. Cháu nạy ông bà ngoại phù hộ cho cháu hay ăn chóng nớn ạ.
Cho con lễ xong, Xuy-dan đến ngồi ở ghế, và bảo Thừa:
- Thôi, em lễ là đủ, anh không phải lễ. Thời buổi văn minh!
Rồi Xuy-dan đùa với con:
- À, lễ ông bà ngoại xong, thì mừng tuổi ba chứ?
Thừa không muốn cho Xuy-dan vô tình mà cứ làm mình đau khổ thêm, bèn đỡ lấy con Băng Tuyết. Xuy-dan nói:
- Anh đã nhìn kỹ ảnh bà cụ chưa? Giống em nhỉ.
Thừa gật đầu:
- Giống lắm.
Xuy-dan buồn rầu:
- Giá bà cụ còn sống đến hôm nay, để bế cháu ngoại, và trông thấy cảnh này, có phải vui vẻ biết bao nhiêu không!
Thừa được buồn rầu, chỉ thở dài. Hắn hiểu tiếng trông thấy cảnh này là Xuy-dan nể hắn không muốn nói rõ là trông thấy hắn, tức là con rể của Múi. Và trông thấy cảnh này cũng là trông Xuy-dan thoát cảnh nhà thổ, bây giờ có chồng, có con! Xuy-dan lại nói:
- Tiếc quá, không có ảnh ông cụ! Nhưng em đoán là em giống ông cụ cái cằm, vì cằm bà cụ vuông.
Thừa cố mỉm cười.
Xuy-dan đưa con Băng Tuyết cho Thừa:
- Anh ngồi với con một lát nhé. Em đi xuống dọn mâm bát.
Thừa như người ngồi tù được tạm tha. Hắn nghĩ lại từ ngày hắn gặp Xuy-dan. Hắn nhớ những câu hắn hỏi Xuy-dan, và những câu Xuy-dan trả lời hắn. Hắn thương xót Xuy-dan, giúp đỡ, cưu mang, tử tế với Xuy-dan mà hắn không hiểu vì sao. Thì bây giờ hắn hiểu. Là vì hắn là cha Xuy-dan. Tình cha đối với con nó xui khiến cho hắn đối xử với Xuy-dan như vậy. Dù đến lúc biết Xuy-dan có mang, hắn đã không bỏ Xuy-dan như bỏ người khác, như cả bỏ Múi nữa, thì lòng chung tình này chỉ là tình ngấm ngầm của tạo vật nó run rủi cho cha xử với con.
Thừa nghĩ đến tiếng anh, tiếng em! Hắn nhớ có lần Xuy-dan nhận hắn là bố. Dù chỉ là đùa cho vui, nhưng cái gì nó làm Xuy-dan đùa thế? Thừa nhìn con Băng Tuyết. Thừa đã giết Múi, giết Xuy-dan, lại toan giết cả con bé vô tội này!
Con bé vô tội này là con hắn. Nó cũng là cháu ngoại hắn. Hắn đã hiếp dâm con gái hắn, và mấy năm nay, hắn hành lạc với con gái hắn. Và bây giờ, hai người có con!
Thừa thấy kinh tởm mình quá.
Hắn gục mặt, lấy khăn chấm mắt.
* * *
Nhưng Thừa còn một tí hy vọng. Hắn nhớ Xuy-dan nói người bố làm báo. Hay là ai chăng? Hắn lại chợt nhớ Xuy-dan nói người mẹ là lai. Thế thì Xuy-dan đã nói dối về người mẹ, chắc cũng nói dối về người cha. Nhưng có thể người cha mà Xuy-dan nói làm báo, cũng đúng là hắn. Vì hắn có làm báo. Và cái ngày Xuy-dan biết nói, để Múi dạy con là bố làm báo, đúng là thời gian hắn làm báo Chấn Hưng.
Có nên hỏi lại Xuy-dan về cha mẹ không? Không hỏi thì còn chút hy vọng để tự an ủi, tự huyễn hoặc rằng cha Xuy-dan không phải là mình. Nhưng không hỏi thì càng bực dọc, càng đau khổ.
Tối hôm ấy, Xuy-dan ngà ngà say, bèn giục Thừa thay quần áo để đi nằm. Nhưng Thừa vờ như không nghe tiếng. Có nên ở lại đây để ngủ với con gái của mình không? Lấy cớ gì để về Hà Nội? Hắn đã nói với Xuy-dan là mai mới đi kia mà? Tự nhiên mà bỏ Xuy-dan một mình tối nay, tất Xuy-dan không hiểu vì sao, sẽ buồn tủi! Lại thêm một việc làm Xuy-dan buồn tủi. Nhưng ở lại đây, không có chỗ nằm riêng.
Xuy-dan ở trong màn, gọi khẽ ra:
- Anh yêu quý! Đóng cửa lại. Ta ngủ sớm, anh ạ.
Xuy-dan rúc rích cười.
Nhưng Thừa muốn khóc. Hắn gọi:
- Em! Hãy dậy một tí.
Xuy-dan hỏi:
- Anh làm sao thế? Anh giận em đấy à? Em làm gì mà anh giận em? Đừng giận, anh yêu quý! Năm mới, tội nghiệp em. Rồi dông cả năm!
Nhưng Xuy-dan vốn ngoan ngoãn, biết nghe lời chồng, nên trở dậy.
Xuy-dan đến gần Thừa, ôm ghì lấy Thừa, rồi ngồi trên lòng Thừa, hôn Thừa rất lâu, và vỗ vào lưng, nũng nịu:
- Có điều gì anh không bằng lòng, anh cứ bảo. Đừng giận em, anh yêu quý. Chồng yêu quý của em!
Thừa đẩy khẽ Xuy-dan ra, cố dịu dàng nói:
- Anh không có điều gì giận em. Nhưng anh muốn hỏi về gia đình em. Bây giờ ta có con với nhau rồi, chẳng lẽ anh lại không biết tí gì về gia đình em hay sao?
Xuy-dan đáp:
- Em chẳng nói với anh rồi là gì. Hiện giờ, máu mủ em chỉ còn có hai cậu mợ.
Thừa gật đầu:
- Anh biết rồi. Nhưng còn ông cụ, bà cụ? Sao em bảo bà cụ là lai, thế mà anh trông ảnh thì không phải là người lai?
Xuy-dan cười:
- Anh, có bao giờ người làm nghề giang hồ, lại đi nói thật cha mẹ để bêu cha mẹ, hở anh? Nhưng không hiểu sao, đối với anh, lần ấy em cũng muốn giấu, nhưng chỉ giấu được có một nửa.
- Thế hôm nay em nói thật cả nhé.
- Vâng. Đã nhận nhau là vợ chồng thì chân tơ kẽ tóc cũng không giấu nhau. Anh ạ, em nói là em chỉ có giấu anh có một nửa. Bà cụ sinh ra em là lai thật, nhưng không phải lai Tây, mà là lai Thổ. Bà ngoại em là người Thổ.
- Thế ông ngoại em ở đâu lại lấy bà ngoại em là người Thổ?
- Ông em lấy bà em ở Đồng Đăng, ông em trước kia là đội đoan, sau thì buôn bán.
- Buôn bán gì?
- Em không biết.
- Ông em tên là gì, em có biết không?
- Em thấy má em nói là cụ đội Tri.
- Bà cụ sinh ra em tên là gì?
- Tên là Nguyễn Thị Múi.
Một nhát búa bổ đúng vào đầu Thừa. Xuy-dan cười:
- Tên quê lắm, anh nhỉ.
- Ông cụ sinh ra em tên là gì?
- Ồ, nào em có biết. Trong khai sinh, con hoang không có tên bố. Bây giờ em lấy họ Nguyễn, là theo họ mẹ đấy, anh ạ.
- Bà cụ có nói ông cụ làm nghề gì không? Một lần, em nói ông cụ làm báo mà?
- Tiếng làm báo mà em nói với anh là tiếng có ý nghĩa sang trọng. Nhưng tiếng làm báo mà bà cụ nói với em, là tiếng oán ông cụ báo hại bà cụ.
- Sao thế? Vậy ông cụ làm nghề gì?
- Bà cụ không nói với em lần nào về nghề nghiệp ông cụ. Nhưng có lần em nghe cậu em nói. Thì ra ông cụ làm cu li phu kíp ở ga Đồng Đăng. Không hiểu ông cụ tán tỉnh khéo léo thế nào, bà cụ em mới trót lầm lỡ, rồi có mang em.
Thừa tái mét mặt, lấy thuốc lá, nhưng tay run bắn lên:
- Thế ông cụ bỏ bà cụ à?
- Việc này, em không rõ. Nhưng cố nhiên là thế, cho nên bà cụ mới giận ông cụ.
Xuy-dan nghĩ một lúc, rồi thêm:
- Mà hình như ông cụ lừa bà cụ một món tiền thế nào ấy.
- Thế ông cụ chết bao giờ?
- Đầu đuôi thế này. Ông cụ đương làm ở Đồng Đăng thì đổi về Hà Nội. Rồi không hiểu thế nào không làm ga nữa, mới ra mở hiệu thuốc cao đan hoàn tán bán toàn cho nhà giàu thôi, anh ạ.
Thừa lại tái mét mặt, đánh rơi điếu thuốc lá xuống đất, và hỏi:
- Rồi ông cụ chết à?
Xuy-dan gật gù:
- Việc này em ngờ lắm. Bà cụ thì bảo với em là ông cụ chết rồi. Nhưng cậu em lại bảo là ông cụ còn sống. Bà cụ rủa cho ông cụ chết, vì coi người bạc mà bỏ mình thì như người chết đấy thôi.
Thừa thở dài.
- Thành thử em phân vân quá, không biết ông cụ còn sống hay đã chết. Song, là con thì phải tin nghe mẹ, nên em cứ cho là ông cụ chết rồi, em mới thờ cả hai ông bà.
Nói xong, Xuy-dan lật tấm nhiễu trùm ảnh, cười lạt và nói giọng đau đớn:
- Anh xem. Giấy khai sinh không có tên cha, thì ảnh thờ cũng thiếu ảnh cha! Khổ cho đứa con hoang chưa! Em chỉ mong rằng, nếu đúng là ông cụ chết, thì sống khôn chết thiêng, ông cụ báo mộng cho em biết tên ông cụ là gì, để em điền vào bên ảnh khuyết cho đỡ sái.
Xuy-dan tiếp:
- Mẹ em đã khổ nhục suốt đời, em cũng khổ nhục mấy năm nay thay mẹ, bây giờ trời xui khiến cho em được làm vợ anh, thì con Băng Tuyết khỏi phải khổ. Nó không là đứa con hoang. Chứ nếu anh không nhận nó, thì em lại khổ nhục suốt đời như bà cụ nhà em. Và con bé cũng vì bà, vì mẹ, mà khổ nhục. Mà nó, thì em chắc nó khổ nhục suốt đời chứ nó không được như em. Vì ở đời này, tìm thế nào được cho nó, người thứ hai như anh!
Xuy-dan thở dài:
- Lắm lúc em được anh cho hạnh phúc, em cứ tin là bà cụ linh thiêng, run rủi cho em gặp anh. Em còn nghĩ đùa rằng hay là trời bắt anh ăn ở thay cho ông cụ sinh ra em chăng!
Thừa như bị một roi quật vào tim. Xuy-dan nũng nịu, ôm lấy Thừa:
- Chả phải thế, anh nhỉ.
Thừa nhìn đồng hồ:
- Anh trót hẹn với ông tham Giảng là giờ này thì gặp ông ta. Em cứ đi ngủ trước nhé.
- Vâng. Gặp làm gì? Đánh tổ tôm à? Độ ba hội thì về với em nhé. Em thức chờ. Đừng để em đợi suốt đêm nhé.
Thừa sực nghĩ đến Múi ở buồng số tám trong săm Đồng Lợi. Đêm nay, Xuy-dan lại diễn ra cái cảnh ấy của mẹ Xuy-dan đây. Bởi vì hắn không thể ngủ với con gái hắn lần nữa. Hắn kiếm cớ để ra khỏi nhà này mà về ngay Hà Nội đêm nay.
Thừa đứng dậy. Hắn phải vịn vào tay ghế cho khỏi ngã, bước từng bước đến mặc áo, rồi bước từng bước đến tủ áo. Hắn mở két, lấy hết tiền bỏ vào cặp, rồi lừng lững ra cổng.
Xuy-dan rất ngạc nhiên, nhìn theo Thừa từng cử chỉ. Rồi Xuy-dan ra cổng với Thừa. Xuy-dan nắm lấy tay Thừa và dịu dàng dặn:
- Về sớm kẻo em mong nhé!
Thừa ra khỏi nhà, như thoát nạn. Hắn mở cửa xe mãi không được. Xuy-dan phải đỡ hộ.
Thừa trèo vào trong xe. Xuy-dan ngó đầu vào:
- Nhớ nhé. Về sớm kẻo vợ con mong. Đừng đánh suốt đêm mà em tủi, em khóc đấy. Mồng một đầu năm ở nhà với vợ có vui không!
Thừa ù tai, như không nghe rõ gì. Xuy-dan lại nói:
- Dễ thường anh làm sao ấy. Hay là còn say?
Thừa không đáp. Xuy-dan cố trách đùa để kể tội:
- Anh ạ, lần đầu tiên anh ra khỏi nhà, anh không hôn em nhé!
Như một cái tát làm nảy đơn đóm mắt, Thừa mở máy. “Lần cuối cùng, thằng khốn nạn ạ”. Hắn nghĩ thế.
Xuy-dan vào nhà, tay còn vẫy Thừa. Rồi cánh cổng khép đánh ập.
Tim Thừa đau nhói. Tiếng cửa buồng số tám của săm Đồng Lợi.